Một số biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng Dệt may VN trên thị trường thế giới - Pdf 11

Lời mở đầu
Ngày nay, khi nền kinh tế thị trờng đã phát triển, hàng hoá đã đợc lu thông
rộng rãi trong các khu vực, các nớc khác nhau trên thế giới. Chính sách mở cửa
của Đảng và Nhà nớc đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt của nền kinh tế. Các doanh
nghiệp trong nớc cũng nh các doanh nghiệp nớc ngoài kinh doanh tại Việt Nam
luôn tìm kiếm cho mình những cơ hội kinh doanh mới nhằm thu đợc lợi nhuận tối
đa, đồng thời bảo đảm đợc các mục tiêu an toàn và thế lực cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để thực hiện tất cả các mục tiêu đó không phải là điều đơn giản,
đôi khi phải trả những cái giá rất đắt, thậm chí có thể thất bại dẫn đến phá sản.
Nghiên cứu vấn đề này, nhiều nhà kinh tế cho thầy rằng sự thành công hay thất bại
của một doanh nghiệp trên thơng trờng phụ thuộc rất lớn vào chiến lợc cạnh tranh
mà họ đã đề ra.
Đã biết rằng, kinh tế thị trờng không chỉ là chiếc nôi cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là một đấu trờng. Trên thị trờng luôn
diễn ra sự cạnh tranh gay go khốc liệt giữa các doanh nghiệp nhằm giành lấy
khách hàng. Tìm đợc các bí quyết để cạnh tranh có hiệu quả là tìm ra bí quyết của
sự tăng trởng, quyết định vận mệnh của doanh nghiệp .
Công cuộc CNH,HĐH đất nớc đã đem lại cho nền kinh tế nớc ta một sinh khí
mới và trong đó có ngành công nghiệp dệt may với những động lực và hớng phát triển
mới.
Cũng nh quá trình phát triển của nhiều nớc trên thế giới, trong giai đoạn đầu
của quá trình công nghiệp hoá, ngành dệt may đóng một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế Việt Nam , với vai trò vừa cung cấp hàng hoá trong nớc vừa tạo điều
kiện mở rộng thơng mại quốc tế, thu hút nhiều lao động, tạo u thế cạnh tranh cho
các sản phẩm trên thị trờng thế giới, và cũng là ngành có lợi tức tơng đối cao.
Chỉ trong 3 năm 1995-1997, giá trị tổng sản lợng của ngành dệt may đã tăng
lên 20,3%, trong đó ngành dệt tăng 11,7% ngành may tăng 38,3% so với mức
29.3% của giá trị tổng sản lợng toàn ngành công nghiệp. Sản phẩm xuất khẩu của
ngành dệt may cũng chiếm một vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc. Năm 1997, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 1349 triệu
USD, chiếm 15,2 % tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc và chiếm trên 70%

1.1 Tính tất yếu và vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
1 .1.1 Tính tất yếu của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng.
Theo quan điểm cổ điển thì thị trờng là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi, mua
bán hàng hoá, theo nh cách hiểu này thị trờng đợc thu hẹp lại ở cái chợ
Sản xuất hàng hoá càng phát triển, các hình thức mua bán ngày càng đa dạng
phong phú thì khái niệm thị trờng có nhiều sự thay đổi. Theo nghĩa hiện đại, thị tr-
ờng là quá trình mà ngời mua, ngời bán tác động qua lại nhau để xác định giá cả
và lợng hàng hoá mua bán. Nh vậy, theo cách hiểu này thị trờng đợc mở rộng hơn
cả về không gian, thời gian, cá nhân và dung lợng.
Nền kinh tế thị trờng là một nền kinh tế đợc điều tiết chủ yếu bởi các quy
luật của thị trờng nh quy luật cung cầu, giá cả, quy luật tiền tệ, quy luật cạnh
tranh. .. Trong số các quy luật của nền kinh tế thị trờng, cạnh tranh là một trong
những quy luật có tác dụng rất lớn trong việc điều tiết, thúc đẩy sự phát triển của
thị trờng. Sự tồn tại của cạnh tranh là tất yếu trong mỗi nền kinh tế.
Cạnh tranh kinh tế là một sự ganh đua giữa các cá nhân, tổ chức, đơn vị trong
các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. ở đâu có lợi ích kinh tế
thì ở đó sẽ có sự cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh là cơ chế vận động của thị trờng,
là nơi gặp gỡ của các đối thủ cạnh tranh mà kết quả là sẽ có doanh nghiệp bị bật ra
khỏi thị trờng, có nguy cơ phá sản song cũng có những doanh nghiệp trụ lại đợc và
ngày càng phát triển.
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sản xuất hàng hoá cũng
ngày càng phát triển với quy mô hết sức rộng lớn, nó không chỉ giới hạn ở một
quốc gia nào đó mà đã mở rộng ra phạm vi thế giới. Chính điều này đã làm cho
cạnh tranh ngày càng sâu rộng và gay gắt hơn. Nó đợc xem nh một yếu tố tồn tại
khách quan của nền kinh tế. Mỗi một doanh nghiệp dù muốn hay không vẫn phải
chấp nhận sự cạnh tranh.
3
1 .1.2 Vai trò của cạnh tranh đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.

để để đào tạo ra những nhà kinh doanh giỏi.
Cạnh tranh là động lực phát triển cơ bản nhằm kết hợp một cách tối u nhất lợi
ích của các doanh nghiệp, lợi ích của ngời tiêu dùng và lợi ích của xã hội. Trớc
đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cạnh tranh đợc coi là cá lớn nuốt cá
bé, do đó không đợc khuyến khích. Song hiện nay, cạnh tranh đã đợc nhìn nhận
theo xu hớng tích cực, tác dụng của nó thể hiện rất rõ ở sự phá sản của một số
doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả và sự phát triển vợt bậc của những doanh
nghiệp khác biết sử dụng hiệu quả các yếu tố của quá trình kinh doanh.
Tóm lại, cạnh tranh là động lực phát triển của mỗi quốc gia nói chung và của
từng doanh nghiệp nói riêng, là công cụ hữu hiệu để điều tiết hoạt động kinh
doanh trên thơng trờng.
1 .1.3.Các loại hình cạnh tranh trong kinh doanh:
*Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh đợc chia làm 2 loại:
-Cạnh tranh trong nội bộ ngành:là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản
xuất kinh doanh một loại dịch vụ. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp thua
cuộc sẽ phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí bị phá sản còn doanh nghiệp
nào chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trờng, uy tín và
vị thế của doanh nghiệp sẽ đợc nâng cao. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là một
cuộc cạnh tranh tất yếu phải xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi
nhuận của doanh nghiệp. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật,
năng lực quản lý...nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm để
tìm lợi nhuận siêu ngạch
-Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mục
tiêu lợi nhuận, vị thế và an toàn. Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu hớng di
chuyển của vốn đầu t sang các ngành kinh doanh thu đợc lợi nhuận cao hơn và tất
yếu sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân.
*Xét theo mức độ cạnh tranh:
5
-Cạnh tranh hoàn hảo:

nếu tăng giá trong khi giá của các doanh nghiệp khác không tăng thì sẽ rất có hại,
khách hàng sẽ tìm đến những doanh nghiệp cung cấp với giá rẻ hơn.
+Cạnh tranh mang tính độc quyền với mức độ rất khác nhau. Số lợng doanh
nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trờng này tơng đối lớn. Sản phẩm của các
doanh nghiệp là khác nhau thể qua bao bì, nhãn hiệu sản phẩm, mẫu mã, quy
cách, chủng loại Giá cả của mỗi doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp đó đặt
ra tuy nhiên không thể hoàn toàn theo ý mình.
Mức độ cạnh tranh ở thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo giảm hơn so với thị
trờng cạnh tranh hoàn hảo.
Độc quyền:
Thị trờng cạnh tranh độc quyền là loại thị trờng mà ở đó có một doanh
nghiệp duy nhất kiểm soát hoàn toàn số lợng hàng hoá, dịch vụ bán ra trên thị tr-
ờng. Trên thị trờng này, các doanh nghiệp không thể tự do ra nhập vì họ phải bảo
đảm rất nhiều yếu tố nh vốn đầu t, công nghệ kỹ thuật giá cả trên thị tr ờng do
doanh nghiệp đặt ra, ngời mua phải chấp nhận giá. Vì vậy, để kiếm đợc lợi nhuận
tối đa doanh nghiệp độc quyền đã tạo ra sự khan hiếm hàng hoá để nâng mức giá
lên cao. Nhiều nớc trên thế giới đã có lụt chống độc quyền, tuy nhiên độc quyền
cũng có nhiều mặt tích cựcbởi vì doanh nghiệp độc quyền có khả năng bỏ vốn lớn
để nghieen cứu phát triển công nghệ hiện đại, mở rọng quy mô sản xuất do đó
giảm đợc chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm.
Trong điều kiện hiện nay, ở tất cả các nớc trên thế giới hầu nh không tồn tại
trạng thái thị trờng cạnh tranh hoàn toàn và độc quyền hoàn toàn.
ở nớc ta, thị trờng độc quyền chỉ tồn tại dới dạng ít bị cạnh tranh nh ngành
xăng dầu, bu chính viễn thông... Nhà nớc ta cho phép một số doanh nghiệp trong
nớc và nớc ngoài kinh doanh trong một số lĩnh vực lớn để phá vỡ độc quyền, đảm
bảo lợi ích của ngời tiêu dùng.
1 .2. Những hoạt động chủ yếu của cạnh tranh trong kinh doanh.
7
Kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng không thể tránh khỏi cạnh tranh. Nếu
doanh nghiệp không dám đơng đầu với sự cạnh tranh thì sẽ dân đến phá sản. Các

góc độ của khách hàng.
Chúng ta thấy rằng, yếutố đầu tiên quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đợc thể hiện trớc hết ở chỗ sản phẩm của doanh nghiệp
có thể cạnh tranh đợc với sản phẩm của các doanh nghiệp khác hay không? Mỗi
doanh nghiệp đều có u thế khác nhau về sản phẩm. Sức cạnh tranh của doanh
nghiệp đợc thể hiện qua chất lợng. Chất lợng là yếu tố quan trọng nhất mà ngời
tiêu dùng sẽ quyết định nên lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp nào. Để có thể
cạnh tranh đợc về chất lợng sản phẩm bắt buộc các doanh nghiệp phải đầu t
nghiên cứu, cải tiến công nghệ kỹ thuật sản xuất, tạo ra sự khác biệt thông qua
tính năng tác dụng của sản phẩm. Sản phẩm muốn cạnh tranh đợc phải có những
nét đặc sắc riêng, điều này cũng ảnh hởng tới vị trí của sản phẩm trên thị trờng.
Đảm bảo chất lợng sản phẩm luôn là phơng châm kinh doanh đồng thời là vũ khí
cạnh tranh rất hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Nhà sản xuất ô tô
Mercedes Benz cua CHLB Đức khi đợc hỏi: Bí quyết thành công ở đâu? Họ đã
trả lời rằng ở chất lợng của hàng hoá và dịch vụ. Công ty này đã luôn coi chất lợng
là lòng tin. Chính vì vậy khi nền kinh tế của các nớc trên thế giới gặp khó khăn,
các loại ô tô bị ứ đọng thì ô tô Mercedes Benz đã trở thành món hàng tiêu thụ
đợc trên thế giới. Tục ngữ có câu: Không sợ không biết hàng hoá, chỉ sợ hàng
hoá đối địch với hàng hoá. Do đó cải tiến và nâng cao chất lợng hàng hoá và dịch
vụ là cơ sở quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lợng của sản phẩm mới cũng là công cụ để
cạnh tranh rất hiệu quả. Trong tình hình hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật trên thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh về thị trờng hết sức gay
gắt, để thoả mãn nhu cầu không ngừng thay đổi của khách hàngthì biện pháp quan
trọng nhất của doanh nghiệp là phải không ngừng đổi mới sản phẩm và cung cấp
những dịch vụ mới. Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm mới và tốc đọ phát triển
càng nhanh thì càng có khả năng cạnh tranh.
Vậy phát triển về sản phẩm mới là liều thuốc cải tử hoàn snh, phát triển sản
phẩm mới phải căn cứ vào nhu cầu của thị trờng. Trong trờng thị trờng khan hiếm
về sản phẩm của doanh nghiệp thì việc doanh nghiệp đa ra những loại sản phẩm mới

phẩm chủ yếu phải căn cứ vào giá thành sản phẩm, nhu cầu thị trờng và nhu cầu
10
cạnh tranh của thị trờng để xác định. Cạnh tranh bằng giá cả phải tuỳ thuộc vào
tình hình và phải lấy giá thị trờng làm chuẩn.
Có các chính sách định giá n sau:
-Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị trờng. áp
dụng khi doanh nghiệp mới xâm nhập thị trờng hoặc tiêu thụ khối lợng sản phẩm
lớn trong thời gian ngắn hoặc nhằm mục đích cạnh tranh. Một số doanh nghiệp
trên thế giới đã rất thành công trong chiến lợc cạnh tranh bằng cách định giá thấp
nh cửa hàng bán lẻ lớn nhất nớc Pháp La Fayetle. Họ đã đa ra khẩu hiệu: hãy
định giá bán thấp hơn ngời khác. Kinh nghiệm làm ăn của cửa hàng này là nếu bạn
muốn cạnh tranh thành công thì giá bán hàng hoá của bạn phải thấp hơn của đối thủ
cạnh tranh.
-Chính sách bán với giá thị trờng: áp dụng khi doanh nghiệp không có ý định
lôi cuốn khách hàng bằng cách bán với giá thấp hơn giá của doanh nghiệp cạnh
tranh và cungx không muốn để mất khách hàng.
Bán với giá thị trờng sẽ không mang lại nhiều lợi nhuận song vẫn đảm bảo có
lãi. Trong quá trình kinh doanh một số doanh nghiệp đã áp dụng chính sách định
giá này nh siêu thị Đại Vinh của Nhật Bản, họ đã áp dụng đối với những loại hàng
hoá chiến lợc. Đối với những loại hàng hoá này thì kiểu cách, chủng loại làm
chính, giá cả không phải là yếu tố thu hút khách hàng.
-Chính sách bán với giá cao hơn giá thị trờng: áp dụng trong trờng hợp
doanh nghiệp có hàng hoá và dịch vụ độc quyền, không bị cạnh tranh. Kinh doanh
độc quyền thì việc định giá là không có giới hạn, bởi vì những ngời có nhu cầu
muốn mua thì giá cao bao nhiêu họ vẫn có thể mua. Làm nh vậy vừa mở rộng đợc
thị trờng , vừa thu đợc lãi nhiều. Đây chính là chính sách định giá của nhiều hãng
kinh doanh nổi tiếng trên thế giới nh hãng sản xuất TV của Nhật Bản khi kinh
doanh trên thị trờng Trung Quốc. Năm 1979, khi ngành sản xuất TV của Nhật Bản
thâm nhập thị trờng Trung Quốc họ đã nghiên cứu kỹ thị trờng và thấy Trung
Quốc là thị trờng tiêu thụ TV trắng đen có tiềm lực rất lớn. Trong khi đó ở Trung

12
ở nớc ta, hình thức phục vụ khách hàng đến tận nơi cũng bắt đầu phổ biến.
Một số công ty đã rất thành công trong lĩnh vực này nh Công ty bu chính viễn
thông Hà nội với phơng thức thu cớc phí điên thoại, công ty sẽ phục vụ tận nơi.
Một số doanh nghiệp lớn trên thế giới cũng đã rất thành công trong hoạt động
cạnh tranh khi họ biết thiết lập hợp lý mạng lới kenh phân phối, chẳng hạn nh
công ty Daiwa Seiko của Nhật Bản đã cạnh tranh thành công khi họ quyết định bỏ
cửa hàng bán buôn để giảm khâu lu thông hàng hoá. Olympic và Daiwa Seiko là
hai công ty sản xuất lỡi câu lớn nhất của Nhật Bản. Đầu những năm 1960 sản
phẩm của Olympic hầu nh đã lũng đoạn thị trờng cả nớc còn của Daiwa Seiko thì
cả về doanh thu đến lợi nhuận kinh doanh đều cha băng một nửa của Olympic.
Vào thời kỳ khó khăn này, Daiwa Seiko đã quyết định áp dụng hai sách lợc để
thay đổi cách buôn bán ở trong nớc và xuất khẩu hàng loạt sản phẩm. Công ty đã
nhận thấy nớc Nhật đất hẹp, thị trờng có hạn, không có tiền đồ phát triển rộng lớn,
cần phải đi vào thị trờng quốc tế. Đồng thời thay đổi trình tự buôn bán hàng hoá
vốn đã thành truyền thống trong nớc là: Công ty --- Cửa hàng bán buôn --- Cửa
hàng bán lẻ --- Ngời tiêu dùng. Công ty đã dứt khoát bỏ khâu trung gian là cửa
hàng buôn bán làm cho quá trình buôn bán thành: Công ty --- Cửa hàng bán lẻ ---
Ngời tiêu dùng và nhờ đó mà công ty đã khống chế đợc toàn bộ quá trình sản xuất,
tiêu thụ. Do vậy, một mặt đã giảm đợc những phiền phức do cửa hàng bán buôn
gây ra, mặt khác quan trọng hơn là có thể nhanh chóng và trực tiếp nắm đợc sở
thích của ngời tiêu dùng, gắn chặt sản xuất với tiêu dùng, tăng hiệu quả sản xuất
và tiêu thụ. Quyết sách của công ty Daiwa Seiko đã bắt đầu có hiệu lực từ cuối
những năm 1960. Vào cuối những năm 1970 nó đã hoàn toàn vợt hẳn Olympic và từ
đó đã chiếm vị trí hàng đầu trên thị trờng thế giới về sản phẩm lỡi câu.
1 .2.4. Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo.
Quảng cáo và xúc tiến bán hàng là những hoạt động nhằm giới thiệu và thông
tin cho khách hàng về các sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời lôi kéo khách
hàng tiêu dùng những sản phẩm đó. Hoạt động này không thể thiếu đợc trong cạnh
tranh của doanh nghiệp.

14
của quảng cáo, thu hút đợc nhiều đối tợng tuyên truyền. Mặc dầu cần có nghệ
thuật khéo léo trong quảng cáo nhng không có nghĩa là giả tạo, bởi vì nh vậy
chính là lừa dối mọi ngời mà ngợc lại quảng cáo phải chân thực. Tuyên truyền một
cách thực sự cầu thị là thái đọ cơ bản và cũng là một kỹ sảo trong quảng cáo.
-Doanh nghiệp phải biết nắm bắt các thời cơ để quảng cáo. Nắm đợc thời cơ
thì đôi khi có thể giành giật đợc thời gian để đi trớc một bớc khi đối thủ cạnh tranh
hoặc có thể giành đợc khách hàng để mở rộng thị trờng, hay giảm đợc chi phí, tiết
kiệm đợc thời gian và tiền của. Nghĩa là nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp.
Bên cạnh quảng cáo, xúc tiến bán hàng và yểm trợ bán hàng cũng là hoạt
động giúp cho chiến lợc cạnh tranh của doanh nghiệp hiệu quả hơn. Những hoạt
động này thờng đợc thực hiện thông qua các triển lãm, hội chợ, cửa hàng giới
thiệu sản phẩm, thông qua việc bàn thử các loại sản phẩm.
Nói tóm lại, việc lựa chọn hình thức quảng cáo và xúc tiến nh thế nào phải
dựa vào những nhân tố nh tính năng, đặc điểm của loại hàng hoá, dịch vụ , giá sử
dụng cũng nh phạm vi sử dụng và khả năng chi phí cho quảng cáo. hiệu quả của hs
quảng cáo và xúc tiến bán hàng sẽ ảnh hởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp trên thơng trờng nói riêng và việc thực hiện các mục tiêu trong kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cạnh
tranh khác.
1.2.5. Cạnh tranh bằng hoạt động dịch vụ trớc, trong và sau bán hàng.
Trong nền kinh tế thị trờng phát triển, dịch vụ là một trong những kâu đợc
các nhà kinh doanh chú ý đến nhiều nhất bởi vì ngời tiêu dùng sẽ lựa chọn những
doanh nghiệp có những hoạt động dịch vụ thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ. Dịch
vụ thờng là những hoạt động đánh vào tâm lý ngời tiêu dùng rất hiệu quả. Vì thế,
mỗi doanh nghiệp muốn cuốn hút khách hàng, muốn tạo ra u thế so với các doanh
nghiệp khác thì phải đầu t và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ của mình. Các hoạt
động dịch vụ của doanh nghiệp có thể đợc thực hiện trớc, trong và sau khi bán
hàng tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh.

16
và các chính sách của chính phủ. Đây là nhân tố thuộc môi trờng vĩ mô của doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp có biết tận dụng u thế cạnh tranh của mình hay không phụ
thuộc rất lớn vào khả năng khai thác những yếu tố trong luật pháp và trong các chính
sách của chính phủ.
Giả sử loại hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh nằm trong
chính sách khuyến khích hỗ trợ của chính phủ thì đây là một điều kiện rất thuận lợi
và doanh nghiệp phải biết khai thác lợi thế này để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
của mình tạo vị thế cạnh tranh trên thơng trờng, đồng thời đạt đợc các mục tiêu về lợi
nhuận.
Nh vậy, luật pháp và các chính sách của chính phủ vừa là yếu tố thúc đẩy
đồng thời cũng là yếu tố hạn chế khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nớc
muốn hớng để phát triển một ngành nào đó thì sẽ tạo điều kiện cho ngành đó nh u
đaic về thuế, lãi suất, vốn đầu t... Và đây cũng là những yếu tố để các doanh
nghiệp trong cùng một ngành cạnh tranh với nhau nhằm đạt đợc các mục tiêu của
doanh nghiệp và đảm bảo thực hiện đợc các mục tiêu của xã hội.
Nhân tố khách quan thứ hai ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp đó là u thế của các đối thủ cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Doanh
nghiệp phải biết tận dụng những kẽ hở của đối phơng, đánh vào những yếu điểm
đó để có thể làm nổi bật những u thế về hàng hoá, dịch vụ của mình. Bên cạnh đó
phải cố gắng tìm hiểu mục tiêu hiện tại và tơng lai của đối thủ cạnh tranh là gì? Và
đối thủ cạnh tranh đánh giá nh thế nào về mục tiêu và năng lực của các đối thủ
cạnh tranh của họ. Một đối thủ cạnh tranh mà họ đã từng nổi tiếng trên thơng tr-
ờng thì khả năng cạnh tranh đợc là rất khó khăn. Doanh nghiệp phải phân tích đợc
diểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có những biện pháp hợp lý rtrong
từng điều kiện, từng hoàn cảnh. Tất cả phải đều nhằm vào mục tiêu cao nhất của
doanh nghiệp và lợi nhuận, vị thế, an toàn.
Nhân tố khách quan thứ ba cũng có tác động không nhỏ đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp đó là tình hình kinh doanh của các đối tác trong cùng một
tập đoàn kinh doanh. Đây là yếu tố thuộc môi trờng vĩ mô của doanh nghiệp.

18
đó, cũng có thể là bầu không khí tổ chức nhân sự trong doanh nghiệp, là chất lợng
trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp.
Nhân tài kinh doanh là vốn quý nhất của doanh nghiệp. Mờu chốt để một
doanh nghiệp kinh doanh thành công là ở chỗ phải có nhân tài kinh doanh. Đó là
những ngời dũng cảm, mạnh dạn, biết mu lợc kinh doanh, thông thạo kỹ năng kinh
doanh và t duy nhạy bén, hành động mau lẹ, có năng lực ứng phó, năng lực xã hội,
năng lực công tác nghiệp vụ tơng đối mạnh. Nhân tài kinh doanh của một doanh
nghiệp nói chung thờng bao gồm những ngời lãnh đạo, những ngời làm công tác
kinh doanh, những ngời làm công tacd kỹ thuật và công nhân viên chức, những
ngời này hình thành một tập đoàn nhân tài kinh doanh. Tập đoàn nhân tài kinh
doanh của rất nhiều doanh nghiệp thành công còn có kết cấu trí tuệ hợp lý, tức là
có những chuyên gia cứng và cũng có cả những chuyên gia mềm, nghĩa là có
những ngời lãnh đạo có sở trờng trong vieẹc ra những quyết sách kinh doanh mang
tính chiến lợc và có cả công nhân viên chức tinh thông nghiệp vụ và nghệ thuật
kinh doanh. Nhờ sự hợp lý về kết cấu trí tuệ, biết kễt hợp lẫn nhau đã làm cho
kinh doanh của doanh nghiệp thành công. Vì vậy, để có thể thành công trong kinh
doanh, doanh nghiệp cần phải tìm mọi cách khai thác nhân tài kinh doanh và ra
sức bồi dỡng kiến thức, năng lực kinh doanh, tạo sơ sở vững chắc cho họ phái huy
đợc tài năng kinh doanh của mình.
Nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã thành công trong kinh doanh là do họ
biết phát huy thế mạnh về con ngời trong doanh nghiệp. Công ty bút bi Saced
(Pakistan) là một ví dụ điển hình. Công ty đã tăng cờn sức cạnh tranh băng biện
pháp chú trọng bồi dỡng con ngời. Họ cho rằng, đối với một doanh nghiệp đang
phát triển, con ngời là nhân tố cơ bản để tác động vào mặt kỹ thuật, thiết bị và
quản lý. Do đó, công ty hết sức coi trọng việc phát huy tinh thần sáng tạo của toàn
thể công nhân viên chức. Công ty thờng xuyên cử cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản
lý ra nớc ngoài khảo sát, tiếp thu những kỹ thuật và những kinh nghiệm mới.
Chính vì vậy, trình độ công nhân đợc nâng cao đã tăng cờng mạnh mẽ sức cạnh
tranh của công ty và đã thu đợc hiệu quả kinh tế rất tốt.

+Sự tín nhiệm của doanh nghiệp càng cao thì càng dễ tiêu thụ sản phẩm. Đây
là kinh nghiệm của hiệu giầy Nội Liên Tục Bắc Kinh. Cửa hàng này chủ yếu
20
kinh doanh giầy vải bắt đầu từ năm 1636. Mặc dù hiện nay các loại giầy không
ngừng thay đổi về mẫu mã và kiểu dáng, nhng do sự độc đáo về công nghệ sản
xuất nên giầy Nội Liên Tục vẫn có uy tín trên thị trờng. Hiện nay các loại giầy vải
của họ vừa rất dễ bán vừa không ngừng mở rộng đợc thị trờng mới ở nớc ngoài nh
Braxin, Nhật Bản Bất cứ sản phẩm của doanh nghiệp nào, chỉ cần xây dựng đ ợc
tín nhiệm tốt trên thị trờng, ngời tiêu dùng tin tởng thì doanh nghiệp qua đó đợc sự
thử thách của cạnh tranh, nhờ đó giữ vững đợc sức sống sản phẩm của mình.
+ Uy tín của doanh nghiệp càng cao thì càng có thể không ngừng mở rộng thị
trờng, mở rộng tiêu thụ.
+ Sự tín nhiệm của doanh nghiệp càng cao thì càng có thể nâng cao đợc hiệu
quả kinh tế. Mặc dù bản thân sự tín nhiệm không có giá trị nhng một khi doanh
nghiệp xây dựng đợc tín nhiệm trên thị trờng thì có thể mở rộng thị trờng, tăng
thêm tiêu thụ, sản phẩm mới sản xuất đợc lâu dài, hiệu quả kinh tế của doanh
nghiệp mới có thể đợc nâng cao. Ngợc lại doanh nghiệp không đợc tín nhiệm, hoặc
một khi sự tín nhiệm bị mai một đi, thì sản phẩm sẽ không có thị trờng, cho dù đã
chiếm lĩnh đợc cũng sẽ mất đi cùng với sự mai một của sự tín nhiệm. Tín nhiệm là
hiệu quả kinh tế, tín nhiệm là tiền. Chính vì vậy nhiều doanh nghiệp đã coi sự tín
nhiệm là sinh mệnh của mình.
Bất cứ doanh nghiệp nào đã thành công trong kinh doanh đều coi việc xây
dựng và giữ gìn tín nhiệm là một nhiệm vụ có tính chiến lợc. Có giữ đợc sự tín
nhiệm thì cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trờng mới đợc nâng
cao.
Nói tóm lại, những yếu tố chủ quan của doanh nghiệp có tính chất quyết định
đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng nh hiện nay, doanh nghiệp nào biết phát
huy năng lực của mình thì sẽ chiến thắng trong cuộc chạy đua trên thơng trờng.
21

bông, đay, tơ tằm và là phơng tiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông
nghiệp sang kinh tế công nghiệp, ở các nớc công nghiệp phát triển, công nghiệp
dệt may đã phát triển đến trình độ cao hơn, dáp ững nhu cầu ngày càng cao, đa
dạng, phong phú của ngời tiêu dùng.
2 .1.2 . Đặc điểm
Công nghiệp dệt may đã có ở Việt Nam khoảng một thế kỷ nay, còn những
hoạt động thủ công truyền thống nh thêu thùa, đan lát thì đã có từ lâu. Theo nột
số tài liệu ghi chép thì sự phát triển chính thức của ngành công nghiệp dệt may
này bắt đầu từ khi khu công nghiệp dệt Nam Định đợc thành lập vào năm 1889.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ngành công nghiệp này phát triển nhanh hơn, đặc
biệt là ở miền Nam, tại đây các hãng dệt may với máy móc hiên đại của Châu Âu
đã đợc thành lập. Trong thời kỳ này tại miền Bắc, các doanh nghiệp Nhà nớc sử
dụng thiết bị Trung Quốc, Liên Xô và Đông Âu, cũng đã đợc thành lập. Mặc dù từ
những năm 1970 sau khi thực hiện công cuộc đổi mới thì thời kỳ phát triển quan
trọng hớng về xuất khẩu mới bát đầu.
Vì vậy, công nghiệp dệt may có những đặc điểm sau.
-Về tiêu thụ: Trong buôn bán thế giới, sản phẩm của ngành dệt may là một
trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào mậu dịch quốc tế. Hàng dệt may có
những đặc trng riêng biệt ảnh hởng rất nhiều đến sản xuất và buôn bán. Nghiên
cứu những đặc trng riêng biệt của thơng mại thế giới hàng dệt may là một trong
những yếu tố quan trọng cần thiết ddể tăng cờng tính cạnh tranh của sản phẩm và
đảm bảo xuất khẩu thành công trên thị trờng quốc tế. Một số đặc trng đó là:
+Hàng dệt may có yêu cầu phong phú và đa dạng tuỳ thuộc vào đối tợng tiêu
dùng - ngời tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác
nhau về khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác sẽ có nhu cầu rất khác nhau
về trang phục. Nghiên cứu thị trờng để nắm vững nhu cầu tiêu dùng của từng
nhóm ngời trong các bộ phận thị trờng khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc tiêu thụ sản phẩm.
23
+Hàng dệt may mang tính thời trang cao, phải thờng xuyên thay đổi mẫu mã,

-Về thị trờng: Các sản phẩm dệt may là một trong những mặt hàng đợc bảo
hộ chặt chẽ. Trớc khi Hiệp định về hàng dệt may - kết quả quan trọng của vòng
đàm phán Uruguay ra đời và phát huy tác dụng, việc buôn bán quốc tế các sản
phẩm dệt may đợc điều chỉnh theo các thể chế thơng mại đặc biệt và nhờ đó phần
lớn các nớc nhập khẩu thiết lập các hạn chế số lợng để hạnh chế hang dệt may
nhập khẩ. Mặt khác, mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với
các hàng hoá công nghiệp khác. Tất cả những rào cản đó ảnh hởng rất lớn đến sản
xuất và buôn bán hàng dệt may thế giới.
2 .2.Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam
Theo ớc tính kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 1999 có thể đạt 1650
1700 triệu USD, tăng 22% so với năm 1998. Với tốc độ phát triển của ngành
dệt may nh hiện nay thì việc đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1900 2000 triệu USD
vào năm 2000 là có thể trở thành hiện thực
Hiện nay, hàng dệt may Việt Nam đợc xuất khẩu sang hơn 40 nớc trên thế
giới Trong đó xuất khẩu sang các nớc EU chiếm 34% đến 38% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nớc ta. Trong 9 tháng đầu năm 1999 kim ngạch
xuất khẩu hàng dệt may tại thị trờng hạn ngạch chiếm khoảng 39% tăng hơn 3% so
với cùng kỳ năm ngoái, trong đó kim ngạch sang EU chiếm tới 80% trong tổng thị tr-
ờng có hạn ngạch.
Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU đợc ký kết ngày
15/12/1992 và có hiệu lực từ 1/1/1993 đã đánh dấu một bớc tiến quan trọng trong
phát triển ngành dệt may nớc ta, thể hiện rõ trong kim ngạch xuất khẩu sang thị tr-
ờng EU liên tục tăng trong giai đoạn 1993-1997 (tốc độ tăng bình quân hơn
20%/năm), tiếp đến là hiệp định buôn bán dệt may Việt Nam EU giai đoạn
1998 2000 đợc ký kết ngày 17/11/1997 cho phép nâng hạn ngạch dệt may từ
Việt Nam sang EU tăng lên 40% so với giai đoạn 5 năm 1993-1997 với mức tăng
trởng 3%-6%/năm
Từ 1995 trở lại đây, trong những thị trờng lớn nhập khẩu hàng dệt may Việt
Nam, loại thị trờng cần hạn ngạch gồm có 10 nớc, trong đó có 9 nớc thuộc EU.
Những nớc trong EU nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam là Đức (40%-45%),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status