BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TPHCM
Khoa Thủy Sản
Giảng Viên: Huỳnh Phạm Việt Huy
Tp. Hồ Chí Minh 3/2006
Chương 1- Đại Cương Nuôi Thủy Sản
CHƯƠNG I
ĐẠI CƯƠNG VỀ NUÔI THỦY SẢN
I. ĐỊNH NGHĨA
Nuôi trồng Thủy Sản có lòch rất sử lâu đời, nhưng hiểu thế nào thế nào là nuôi
trồng thủy sản? Giữa nuôi trồng và khai thác thủy sản có những khác nhau thế nào? Vì
theo Pillay (1990) thuật ngữ nuôi trồng thủy sản (aquaculture) được sử dụng tương đối
rộng rãi để chỉ tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật ở các môi trường ngọt, lợ
và mặn; song theo nhiều người, nó cũng chỉ được sử dụng trong phạm vi giới hạn, như
nuôi cá hay nuôi hải sản Tuy nhiên, thuật ngữ nuôi thủy sản diễn tả rất đầy đủ và toàn
ràng để phân đònh sản phẩm giữa nuôi trồng và khai thác thủy sản nhưng trong thực tế
vẫn còn nhiều trường hợp rất khó xác đònh ranh giới như việc thả chà để thu hoạch
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 2
Chương 1- Đại Cương Nuôi Thủy Sản
được xếp vào hoạt động khai thác nhưng một khi người nông dân lại cho cá ẩn trú trong
đống chà ăn thức ăn phụ, như vậy khi đó xếp loại hình đó vào khai thác hay nuôi trồng
thủy sản?
Nội dung môn học nuôi cá nước ngọt là một phần của hệ thống nuôi thủy sản
nước ngọt, bao gồm việc chăm sóc, quản lý các đối tượng cá nước ngọt được thuần hóa
từ nội đòa hay từ nhập nội với mục đích nâng cao sản lượng thu hoạch.
II. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Nuôi trồng thủy sản có lòch sử ít nhất 2500 năm, mặc dầu có một số tài liệu
khảo cổ phát hiện các hình vẽ trong các ngôi mộ cổ Ai Cập từ 2000 năm trước công
nguyên (2000 BC), cho thấy người cổ Ai Cập đang câu cá trong một ao nhân tạo (Hình
1.1). Ngoài ra người ta còn tìm thấy tranh vẽ ao nuôi cá của người Ai Cập cổ (Hình
1.2). Tuy nhiên có nhiều tranh luận chung quanh bức tranh cổ này vì có hình vẽ chưa
phải là bằng chứng về nuôi trồng thủy sản mà có thể chỉ là việc đánh bắt thủy sản.
Do đó, lòch sử nuôi thủy sản chính thức được thừa nhận bắt đầu xuất hiện đầu
tiên tại Trung Hoa vào năm 475 trước công nguyên khi Fan Li viết một cuốn sách nói
về nghề nuôi cá chép.
Hình 1.1 Tranh câu cá của người Ai Cập cổ (Chimits, 1957; trích bởi P. Edwards, 2003)
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 3
Chương 1- Đại Cương Nuôi Thủy Sản
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 4
- Mùi (Hường)
- Sặc rằn
Họ Clariidae
- Trê Phi
- Trê vàng
- Trê lai
Cyprinus carpio
Hypophthalmichthys molitrix
Arishtichthys nobilis
Ctenopharyngodon idellus
Labeo rohita
Cirrhinus mrigala
Catla catla
Puntius altus
Barbodes gonionotus
Pangasius hypophthalmus
Pangasius bocourti
Pangasius larnaudii
Pangasius conchophylus
Channa striatus
Channa micropeltes
Oreochromis niloticus
Oreochromis mossambicus
Ophreonomus gourami
Helostoma temminckii
Nhập nội
Nội đòa
Nhập nội
Nội đòa
Ao, bè, ruộng lúa
Ao, hồ chứa
Ao, hồ chứa
Ao, bè, hồ chứa
Ao
Ao
Ao
Bè, ao
Ao, bè, ruộng lúa
Ao, bè
Bè
Ao, bè
Bè
Ao
Bè, ao
Ao, bè, ruộng lúa
Ao, bè, ruộng lúa
Ao
Ao
Ao, ruộng lúa
hay như sự di nhập cá trê phi và sự lai tạo cá trê phi với cá trê vàng đang có nguy cơ đe
dọa sự thuần chủng của cá Trê vàng mặc dầu con lai trê vàng và trê phi không có khả
năng sinh sản.
Những giống loài cá nuôi rất phong phú khi đi từ khu vực này sang khu vực
khác, như tại các quốc gia Châu u, đối tượng nuôi chủ yếu là cá hồi, cá da trơn Châu
u (Silurus glanis), cá Perca, cá chép tại Bắc Mỹ những loài cá nuôi phổ biến gồm
cá hồi, cá da trơn Mỹ (channel catfish). Ngoài ra, việc di nhập những loài cá mè trắng,
cá trắm cỏ thả nuôi vào các thủy vực để kiểm soát thực vật thủy sinh hay tảo và di
nhập cá rô phi đã làm phong phú giống loài cá nuôi tại cá quốc gia này.
Cá là nguồn cung cấp đạm quan trọng cho bữa ăn người Việt Nam theo như
truyền thống của các nước Đông Nam Á, xã hội lúa với cá. Theo thống kê của tổ chức
FAO (1999), sản phẩm từ thủy sản, chủ yếu từ cá, đóng góp vào nguồn cung cấp đạm
trong bữa ăn người Việt Nam giảm từ 44% vào năm 1961 xuống còn 33% vào năm
1996. Như vậy sau 35 năm mức tiêu thụ cá bình quân đầu người không thay đổi lớn,
trong khoảng 4g/người/ngày. Trong khi đó mức tiêu thụ đạm động vật tăng 26% và
năng lượng tăng 29%. Tuy nhiên khi phân tích thành phần dân cư sử dụng nguồn đạm
thì cá là nguồn cung cấp đạm chủ yếu của người nghèo và cư dân nông thôn. Trong 35
năm mức sống và mức tiêu thụ đạm của thò dân đã tăng cao và thay đổi nhưng mức tiêu
thụ đạm khu vực nông thôn hầu như không thay đổi. Do đó, việc phát triển nuôi cá để
cung cấp nguồn protein rẻ tiền cho đa số dân nghèo là một yêu cầu thiết yếu.
Cá có giá trò dinh dưỡng rất cao vì hàm lượng đạm đến 60-70%, chứa đầy đủ các
acid amin thiết yếu rất cần cho sự tăng trưởng. Nguồn cung cấp chất béo ít cholesterol
và tỉ lệ các acid béo thiết yếu như linolenic acid và linoleic acid rất đầy đủ nên việc sử
dụng sản phẩm thủy sản ít nguy cơ bò bònh tim mạch hơn sử dụng các thực phẩm khác
như thòt, sữa và trứng. Ngoài ra, cá còn là một nguồn cung cấp các vitamins tan trong
chất béo như vitamins A, E.
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 6
nông hộ khá giả mới có đủ khả năng. Ngoài ra, nuôi thâm canh đòi hỏi kinh nghiệm
nuôi thủy sản nhất đònh trong cách cho ăn, phòng trừ bệnh cá và chọn thời điểm nuôi
thích hợp, quản lý chất lượng nước và rất nhiều kỹ thuật khác.
Ngoài mục đích cung cấp thực phẩm, cá nuôi còn dùng để nuôi cảnh hay thả vào
vực nước tự nhiên để làm giàu nguồn tài nguyên sinh vật hay để phục vụ cho câu cá
giải trí. Đây là loại hình phát triển tại Châu u và Bắc Mỹ. Trong khi đó nuôi cá cảnh
đã trở thành một ngành nghề phát triển tại các đô thò với việc sản xuất giống và nuôi
dưỡng một số loài cá phổ biến như tai tượng Phi Châu, cá đóa, ông tiên v.v…Trong việc
nuôi cá cảnh, việc đánh bắt những loài cá tự nhiên để nuôi cảnh đã gây nguy cơ tuyệt
chủng một số giống loài, do đó việc thuần dưỡng và cho sinh sản nhân tạo là một yêu
cầu thiết yếu.
III HIỆN TRẠNG, TIỀM NĂNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN NUÔI THỦY SẢN
3.1 Hiện trạng và tiềm năng thủy sản thế giới
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 7
Chương 1- Đại Cương Nuôi Thủy Sản
Theo FAO (FAO, 1986), nuôi trồng thủy sản thế giới chỉ chiếm tỉ trọng 10% so
với tồng sản lượng thủy hải sản khai thác, ước tính 90 triệu tấn. Khai thác thủy sản chủ
yếu do đánh bắt từ biển và đại dương nhưng mức khai thác gần như không tăng lên bao
nhiêu trong nhiều năm qua theo như Đồ thò 1.2. Từ thập niên 1980 trở đi sản lượng tăng
rất chậm so với những thập niên trước đó. Sản lượng giảm đi so với khả năng đánh bắt
(số tàu thuyền và thời gian đánh bắt) gia tăng rất nhiều kể từ thập niên 80 trở đi, điều
này cho thấy khả năng khai thác nguồn thủy sản gần đạt đến mức bão hòa, ước tính
100-120 triệu tấn. Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việc khai thác nguồn tài
nguyên này bao gồm:
0
20
40
60
1990 10 90 10
2000 20 100 20
2010 40 120 33
2020 80 160 50
Hiện trạng và tiềm năng nuôi thủy sản Việt Nam
Theo số liệu thống kê, nước ta có tiềm năng rất lớn về nuôi thủy sản nước ngọt.
Tổng diện tích mặt nước nội đòa lên đến 1.700.000 ha, bao gồm các hệ thống sông ngòi,
kênh rạch, hồ chứa và các hệ thống thủy lợi. Diện tích mặt nước tự nhiên lớn này tạo
điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển nuôi thủy sản nước ngọt. Bên cạnh đó,
diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản nội đòa cũng rất phong phú và đa dạng, bao gồm
(MOFI, 2004):
•- 120.000 ha ao hồ
•- 340.000 ha hồ chứa
•- 580.000 ha ruộng trũng có thể nuôi thủy sản kết hợp
- 660.000 ha vùng triều
Diện tích tiềm năng cho phát triển nuôi thủy sản nước ngọt ở Việt Nam gần gấp
ba lần diện tích nuôi nước lợ. Từ năm 1985 diện tích nuôi thủy sản nước ngọt và nước
lợ được mở rộng tại hầu hết các vùng, nhưng nuôi thủy sản nước lợ phát triển mạnh hơn
cả. Từ năm 1985 đến năm 1995 diện tích nuôi nước lợ, chủ yếu là nuôi tôm, tăng
khoảng 330%, trong khi nuôi nước ngọt chỉ tăng khoảng 115% tại vùng Đông Nam bộ
và chỉ tăng 9% tại vùng núi-trung du Bắc bộ. Nuôi trồng thủy sản vẫn tiếp tục tăng
trưởng bởi diện tích tiềm năng vẫn còn chưa khai thác hết.
Nuôi trồng thủy sản ước tính đóng góp khoảng 30% sản lượng thủy sản của cả
nước. Nó đóng góp quan trọng vào việc xuất khẩu, đặc biệt là tôm, chiếm khoảng 30-
40% của tổng sản lượng xuất khẩu. Sản lượng nuôi thủy sản tăng từ 235.000 đến
Đồ thò 1.1 Sản lượng thủy sản cả nước do nuôi trồng thay đổi từ năm 1986 đến
1
99
5
(
N
g
uồn: Bo
ä
thủ
y
sản
)Tuy nhiên, tổng sản lượng thủy sản và sản lượng nuôi thủy sản nước ta trên thực tế còn
cao hơn nhiều, do con số trên chỉ là sản lượng xuất khẩu. Cũng theo thống kê của Bộ
Thủy sản, sản lượng nuôi thủy sản nước ta tăng từ 415.000 tấn, đóng góp khoảng 30%
tổng sản lượng thủy sản năm 1995 lên 723.000 tấn, đóng góp 36% tổng sản lượng thủy
sản cả nước năm 2000. Con số này năm 2004 là 1.500.000 tấn, đóng góp 53,5% tổng
sản lượng thủy sản (Đồ thò 1.2). Như vậy chỉ trong 4 năm 2000 – 2004, sản lượng nuôi
thủy sản nươc ta tăng gấp hơn 2 lần và tỉ lệ đóng góp của nó trong tổng sản lượng thủy
sản cũng luôn gia tăng hàng năm. Điều này chứng tỏ nuôi trồng thủy sản ngày càng
đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm thủy sản ở nước ta.
IV. CÁC LOẠI HÌNH NUÔI THỦY SẢN
Ngoài đối tượng nuôi rất phong phú như vừa trình bày ở trên, các hệ thống nuôi
thủy sản cũng rất đa dạng, thay đổi tùy theo đòa hình, tập quán nuôi, giống loài nuôi,
trình độ quản lý, phương tiện để nuôi… Sau đây một số hệ thống nuôi thủy sản sắp xếp
tùy theo cách thức phân loại:
- Dựa vào mục đích, người ta chia ra các hệ thống nuôi thủy sản như sau:
X Thực phẩm cho con người như nuôi cá, tôm …
X Thức ăn gia súc: nuôi bèo tấm, bèo cám để làm thức ăn chăn nuôi heo
X Nuôi cá cảnh phát triển tại các thành phố để trang trí nhà cửa và làm cảnh.
X Nguyên liệu cho công nghiệp như nuôi rau câu để sản xuất agar, alginate sủ
dụng trong công nghiệp thực phẩm, dệt và dược phẩm.
X Sản xuất con giống thả vào thủy vực thiên nhiên để làm giàu nguồn sinh vật
nước hay để câu giải trí.
- Trình độ quản lý: Dựa vào tiêu chuẩn phân loại này, người ta phân ra loại hình nuôi
quảng canh (extensive), bán thâm canh (semi-intensive) và thâm canh (intensive). Ở
mỗi loại hình nuôi, một số đặc điểm thưòng được sử dụng để nhận dạng như diện tích
nuôi, cho ăn, mật độ nuôi…
Đặc điểm Quảng canh Bán thâm canh Thâm canh
- Thức ăn và
phân bón cho ao
hồ - Hoàn toàn không cho ăn,
chỉ sử dụng thức ăn tự nhiên
khoảng 100 - 200 kg/ha/năm
Nuôi cá ao, có bón
phân gây màu, hoặc
có cho ăn thêm,
năng suất cá có thể
đạt 2-5 tấn/ha/năm
Nuôi cá ao nước
chảy hay nuôi cá
bè, thức ăn phải
hoàn toàn cung cấp,
năng suất có thể đạt
100-200 kg/m
3
/năm
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 11
Chương 1- Đại Cương Nuôi Thủy Sản
Dựa vào phương tiện nuôi dưỡng, ngưới ta lại chia ra:
- Nuôi cá ao
- Nuôi cá ruộng
- Nuôi cá nước chảy bao gồm nuôi cá lồng bè (cage culture), nuôi cá trong hệ
thống nước tuần hoàn khép kín như nuôi cá trê phi tại Châu Âu, cá chép tại
Nhật Bản.
- Nuôi cá bằng đăng quầng (pen culture).
- Nuôi không cần phương tiện lưu giữ như nuôi các nhuyễn thể bằng cách thả các
giá thể ven bờ để thu giống và nuôi thương phẩm như phương pháp nuôi hầu,
nuôi sò huyết… trong vùng nước lợ.
Dựa vào số loài được nuôi chung, người ta có
nuôi kết hợp trong ruộng lúa.
Có thể sơ lược các loài cá thông dụng và các hình thức nuôi tương ứng ở Việt
Nam như sau:
Hình thức nuôi
Tên Việt Nam Tên Latinh Tên tiếng Anh
Ao Bè MNL Ruộng
Họ Cyprinidae
Chép
Cyprinus carpio
Common Carp + +
Mè trắng
Hypothalmichthys molitrix
Silver Carp + +
Mè hoa
Aristichthys nobilis
Bighead Carp + +
Trắm cỏ
Ctenopharyngodon idellus
Grass Carp + +
He vàng
Puntius altus
+ + +
Mè vinh
Barbodes gonionotus
Silver Barb + + +
Trôi (Mrigal)
Cirrhinus mrigala
Mrigal +
Rô phi (phi)
Tilapia nilotica
Tilapia + +
Họ Anbantidae Tai tượng
Osphronemus gourami
Giant Gourami +
Mùi (hường)
Helostoma temminckii
Kissing Gourami +
Sặc rằn
Trichogaster pectoralis
+ +
Họ Siluridae Trê vàng
Clarias macrocephalus
Yellow catfish + +
Trê phi
Clarias gariepinus
African catfish +
Rô đồng
Anabas testudineus
Climbing pearch + +
Bống tượng
Oxyeleotris marmorata
Sand goby + +
- C. c. hammatopterus : tập trung ở sông Amour và Trung Hoa
- C. c. viridivio - laceus : tập trung ở Bắc Việt Nam
Dựa vào biểu thò sắp xếp và hiện diện lớp vảy, người ta chia cá chép ra làm 4
nhóm:
- Cá chép vảy: có vảy bao phủ toàn thân và sắp xếp đều đặn trên toàn cơ thể. Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 14
Chương 2- Đặc điểm sinh học các loài cá nuôi nước ngọt phổ biến
- Cá chép đốm (chép kính): vảy không bao phủ toàn thân mà chỉ rải rác trên
thân, không có vảy đường bên.
- Cá chép sọc (chép vạch): vảy chỉ tập trung nhiều ở đường bên và gốc vây
lưng còn những vò trí khác chỉ có vảy rải rác.
- Cá chép trần: toàn thân không có vảy.
Theo Trần Đình Trọng (1965), ở Việt Nam có 6 nhóm cá chép: trắng, đỏ, kính,
cẩm, Bắc Cạn và gù, sự phân chia này dựa vào màu sắc và hình thù. Nói chung đều
thuộc nhóm chép vảy, chỉ có cá chép kính không thuộc nhóm chép vảy. Ngoài ra Việt
Nam còn nhập cá chép Nhật Bản và cá chép kính của Hungari. Cho đến nay, các loài
cá chép đã không còn là giống thuần, loài cá chép được nuôi phổ biến hiện nay là cá
chép vảy, gồm hai loại là Chép đỏ và chép trắng.
- Độ pH: cá có khả năng chòu đựng độ pH từ 5,5 – 8,5. pH 4,0 – 4,5 gây
chết cho cá, pH từ 5,0 – 5,5 cá phát triển rất chậm và cá trưởng thành không thể sinh
sản được ở điều kiện pH này.
- Hàm lượng O
2
hòa tan: ngưỡng O
2
của cá chép là 0,2 mg/l (ppm). Ở
hàm lượng O
2
hòa tan bằng 3,0 – 3,5 mg/l cá chép phát triển bình thường. D.O = 2,0
– 3,0 ppm cá giảm ăn, hoạt động không bình thường.
- Độ mặn bắt đầu gây chết đối với cá chép là 12
o
/
oo
. Cá phát triển tốt
nhất ở độ mặn 3
o
/
oo
.
Cá chép có thể sống nơi nước cạn 10 - 15cm như ở ruộng lúa, và cũng có thể
sống ở nơi có độ sâu lớn như trong các hồ chứa.
b. Sự tăng trưởng
trong năm nên kích thước thương phẩm có thể đạt là 400- 600 gam/6 tháng nuôi.
Bảng 2.1 Chiều dài tổng cộng (cm) của cá chép theo năm tuổi ở một số quốc gia trên
thế giới
Tuổi (năm)
Vùng
1 2 3 4 5 6
Tác giả
Đức (hồ Storkow) 36 43 51 65 Bauch (1954)
Hungary (hồ Fort) 21 31 39 43
c (Neusiedlersee) 27 37 42 47 52 Unteruberbacher (1963)
Nga (sông Volga) 12 24 32 35 42 49 Poschalujeva (1929)
(Nguồn: Sarig, 1966)
1.3 Đặc tính dinh dưỡng - thức ăn
- Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng (3 ngày từ khi cá nở) sống ở tầng mặt.
Thức ăn chủ yếu ở giai đoạn này là động vật phù du kích thước nhỏ. Thức ăn thích hợp
cho cá ở giai đoạn từ sau khi tiêu hết noãn hoàng đến khi đạt kích cỡ 10mm là:
Ceriodaphnia, Moina, Cyclop, Daphnia, Nauplii. Trong giai đoạn này, cá có hiện tượng
di chuyển vùng tập trung, từ 4 - 6 ngày tuổi cá tập trung chủ yếu ở tầng giữa, đã biết
bắt mồi. Từ 8 - 10 ngày tuổi, cá bắt đầu tập trung sống tầng đáy, ăn động vật phù du
kích thước lớn, ấu trùng côn trùng, ấu trùng muỗi lắc, Bosmina.
- Cá từ 15 - 20 ngày tuổi có kích thước từ 10 - 20mm, các bộ phận cơ thể như
vây, vẩy đã phát triển hoàn chỉnh, các cơ quan bắt mồi cũng phát triển đầy đủ giúp cá
bắt mồi hiệu quả hơn. Lúc này cá đã chuyển hoàn toàn sang sống tầng đáy. Thức ăn
chủ yếu ở giai đoạn này là động vật đáy, mà ưa thích nhất là ấu trùng muỗi lắc.
thức ăn gia súc sản xuất, loại thức ăn này có bổ sung thêm các thành phần dinh dưỡng
khác như khoáng, vitamin, đảm bảo cho nhu cầu dinh dưỡng của cá. Tuy nhiên, với loại
thức ăn này thường không tiết kiệm và hiệu quả kinh tế không cao vì giá thành thức ăn
cao hơn thức ăn tự chế biến.
Tóm lại, cá chép là loài cá ăn tạp thiên về động vật, chủ yếu là động vật đáy.
Cá có thể bắt mồi vào tất cả các thời điểm trong ngày. Cá sống tập trung ở tầng đáy.
Trong nuôi tăng sản hay nuôi bè có thể sử dụng thức ăn nhân tạo cho cá để cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng cho cá và với loại thức ăn này cá cũng có khả năng thích ứng và
phát triển tốt.
1.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
- Tuổi thành thục sinh dục của cá tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó nhiệt độ
là một trong những yếu tố quan trọng. Cá chỉ thành thục khi đạt được tổng nhiệt thành
thục nhất đònh, vì vậy ở những vùng có nhiệt độ trung bình hàng năm cao thì tuổi thành
thục của cá giảm. Trong điều kiện khí hậu tại Việt Nam, cá chép thành thục sau 1 - 1,5
tuổi.
- Cá chép là loài dễ đẻ, chúng có thể đẻ tự nhiên trong ao khi điều kiện môi
trường thích hợp. Cá thường đẻ vào đầu mùa mưa, nhiệt độ thích hợp cho cá sinh sản
thấp, vì vậy cá thường đẻ vào 4 - 5 giờ sáng (lúc nhiệt độ xuống thấp nhất trong ngày).
Cá thøng thích đẻ sau những cơn mưa rào, vì vậy cá rất dễ đẻ trong ao nuôi sau những
trận mưa.
- Cá chép có thể đẻ nhiều đợt trong năm, mùa vụ sinh sản của cá thường vào
tháng 3 đến tháng 10 hàng năm, số đợt sinh sản của cá có thể đạt 8 - 10 đợt.
- Trứng cá chép thuộc loại trứng dính, vì vậy điều kiện tối cần thiết để cá sinh
sản được là phải có giá thể. Đây là điều kiện khách quan và cũng là điều kiện chủ
Cá trắm cỏ tự nhiên xuất phát từ miền đông Trung Hoa và Nga, trong những
sông có lưu lượng thấp, các hồ và các ao nằm về phía dưới vùng ven biển Thái Bình
Dương thuộc đòa phận Nga và Trung Hoa khoảng 1000 mét, tức trong khoảng 50
o
– 23
o
vó Bắc.
Từ vùng phân bố ban đầu nói trên, dần dần chúng lan rộng ra nhiều vùng khác
nhau trên thế giới theo nhiều phương cách khác nhau. Theo sự di cư tự nhiên chúng di
chuyển xuống vùng thấp hơn và gần như phân bố nhiều ở vùng trung lưu sông Amur, ở
phía nam chúng cũng phân bố rộng, trong đó có sông Hoàng Hà.
Do sự tác động của con người, từ vùng phân bố tự nhiên chúng được đưa sang
Nhật Bản, Mexico, Nga, các nước Châu u và Châu Á khác. Cá trắm cỏ du nhập vào
Lào năm 1968 từ Nhật Bản, vào Malaysia năm 1930 từ Trung Hoa, vào Philippines
năm 1966 – 1969, vào Châu u và trung tâm của Châu Á vào khoảng năm 1954 –
1959.
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 19
Chương 2- Đặc điểm sinh học các loài cá nuôi nước ngọt phổ biến
Ở nước ta, cá trắm cỏ được nhập vào miền Nam từ Đài Loan vào khoảng năm
1969 (Anon, 1969), vào miền Bắc vào khoảng năm 1957 từ Trung Hoa. Cho đến nay cá
Trắm cỏ đã trở thành một loài cá phổ biến và được nuôi khắp các vùng ở nước ta.
Hiện nay, cá trắm cỏ là loài cá được nuôi phổ biến trong ao hay hồ chứa tự
thường do nhiệt độ nước giảm và sự giảm thấp của quần thể thực vật làm thức ăn cho
cá ở ven bờ. Trong những hệ thủy vực kín như hồ chứa, cá trắm cỏ được xem như là
loài cá sống tầng mặt, chúng thường tập trung ở tầng nước trên, gần mặt nước (Stott,
1977) và thường lao lên khỏi mặt nước từng đàn khoảng 7 cá thể (Ellis, 1974). Đặc biệt
chúng thường tập trung ở những thủy vực có quần thể thực vật phong phú và những
vùng ven. Trong ao nuôi thì hầu như cá có thể di chuyển và sống ở mọi tầng nước nơi
mà chúng có thể tìm được loại thức ăn thích hợp.
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 20
Chương 2- Đặc điểm sinh học các loài cá nuôi nước ngọt phổ biến
Cá trắm cỏ cũng được xem là loài cá có khả năng chòu đựng cao và thích nghi
tốt với những điều kiện môi trường khác nhau. Tuy nhiên cá cũng có những giới hạn
chòu đựng nhất đònh đối với các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, độ pH, hàm
lượng oxy hòa tan …
- Nhiệt độ: thường ảnh hưởng nhiều đến quá trình nở của trứng cá và tỷ lệ sống
của cá ở các giai đoạn sớm của sự phát triển, đồng thời nó cũng ảnh hưởng nhiều đến
sự tăng trưởng của cá trưởng thành.
Nhiệt độ thích hợp cho trứng nở nằm trong khoảng từ 21-25
o
C, khi nhiệt độ giảm
xuống 18
o
C trong suốt quá trình ấp trứng sẽ làm giảm tỷ lệ sống của trứng. Sự ảnh
hưởng này sẽ giảm thấp khi trứng đã phát triển sang giai đoạn ấu trùng, và khi cá đã
chuyển sang giai đoạn cá bột và cá giống thì sự ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ càng
giảm thấp, khoảng nhiệt độ thích hợp cho giai đoạn này là 16-40
o
trưởng của cá và nhận thấy rằng khi độ mặn môi trường nước tăng lên thì hệ số chuyển
đổi thức ăn cá giảm và tỉ lệ phần trăm tăng trọng cũng giảm xuống một cách có ý
nghóa. cá kích thước 9-13 cm, tỉ lệ tăng trọng là 56,3% ở độ mặn 0,1
o
/
oo
(nước ngọt),
khi độ mặn tăng lên 3-6
o
/
oo
thì tỉ lệ này giảm xuống 46,2-23,7% và tiếp tục giảm khi độ
mặn tiếp tục tăng lên. Hoạt động bắt mồi của cá gân như bò đình trệ khi độ mặn tăng
lên đến 12
o
/
oo
.
- Hàm lượng oxy hòa tan: là một nhân tố hết sức quan trọng ảnh hưởng đến quá
trình phát triển của cá, quyết đònh sự sống còn của cá, nhân tố này bò ảnh hưởng bởi
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 21
Chương 2- Đặc điểm sinh học các loài cá nuôi nước ngọt phổ biến
nhiều yếu tố khác nhau trong đó mật độ nuôi, thức ăn thừa, chất thải của cá là những
yếu tố ảnh hưởng nhiều. Khả năng chòu đựng của cá tùy thuộc vào độ tuổi cá, khoảng
O
2
mà cá giống trắm cỏ có thể chòu đựng được là từ 1-2,8 ppm, khi hàm lượng này tăng
lê đến 4 ppm thì sự tiêu thụ thức ăn giảm đi 45%, cá trưởng thành có khoảng oxy hẹp
Như vậy sự tăng trưởng của cá trắm cỏ phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện môi
trường sống, thức ăn. Trong môi trường phong phú thủy sinh thực vật hay được cung cấp
thức ăn phù hợp, cá tăng trưởng với tốc độ cao, nhiệt độ môi trường cao thích hợp cũng
là một yếu tố thuận lợi cho cá tăng trưởng tốt. Sự tăng trưởng của cá còn tùy thuộc vào
chất lượng con giống, mật độ thả cá và các chế độ chăm sóc, quản lý ao nuôi trong
điều kiện nhân tạo. Do đó tốc độ tăng trưởng của cá là khác nhau tùy theo từng vùng
nuôi hay quốc gia khác nhau.
Kỹ Thuật Nuôi Cá Nước Ngọt 22
Chương 2- Đặc điểm sinh học các loài cá nuôi nước ngọt phổ biến
Bảng 2.3 Trọng lượng cá và thời gian nuôi tương ứng ở các quốc gia khác nhau với
những điều kiện nuôi khác nhau
Quốc gia Hình thức nuôi Trọng lượng (kg) Thời gian Tác giả
Trung Quốc Ao 0,68 1 năm Gidumal, 1958
Fiji Ao 2,174 1 năm Adams và Titeko, 1970
n Độ Ao - ghép 1,3 – 1,6 1 năm Chaudhuri và Ctv, 1975
n Độ Ao 1,5 1 năm Prabhavathy và Sreenivasan, 1977
Malaysia Ao 3.3 9 tháng Hickling, 1960
Nam Phi Ao 0,96 1 năm Pike, 1977
Mỹ Ao - ghép 1,35 6 tháng Crowder và Snow, 1969
Mỹ Hồ chứa 0,593 2 tháng Sutton & Blackburn, 1973; Sutton,
1974.
(Nguồn: Shireman và Smith, 1983)
2.3 Đặc tính dinh dưỡng – thức ăn
Thức ăn chủ yếu của cá trắm cỏ thành thục là các loại thực vật, tuy nhiên trước
chỉ mới sử dụng được các loại thực vật thân mềm mà chủ yếu là bèo tấm, bèo cám,
trong thời gian này phiêu sinh động vật vẫn còn là thức ăn quan trọng của cá. Thành
phần thức ăn thực vật càng tăng và chiếm 100% khi cá đạt kích thước 5,5 cm, lúc này
cá ăn chủ yếu thực vật, ngoài ra còn có thể ăn sinh vật bám. Khi cá phát triển đến có
độ dài cơ thể 8,7 cm thì tức ăn chủ yếu là các loài cỏ ven bờ, lúc này cá tập trung chủ
yếu ở ven bờ và biểu hiện các tập tính của cá trưởng thành, có thể sử dụng tất cả các
loại thực vật trên cạn và dưới nước.
- Tuy tính cá ăn chủ yếu là thực vật nhưng chúng không thể tiêu hoá xơ mà chỉ
sử dụng hệ thống răng hầu để nghiền và hút dưỡng chất sau đó thải những thành phần
không tiêu hóa được. Do đó, cá trắm cỏ được xem là bộ máy bón phân cho ao nuôi, tạo
điều kiện cho các loại phiêu sinh vật phát triển, thích hợp cho một số loài cá ăn phiêu
sinh như mè trắng, mè hoa khi nuôi ghép.
- Ngoài thức ăn là thực vật, trong điều kiện thiếu thức ăn hay trong điều kiện
nuôi nhân tạo cá còn có thể sử dụng một số thức ăn nhân tạo như cám gạo, bột bắp, bột
mì, hay thức ăn viên.
- Do thức ăn thực vật chứa một lượng rất lớn nước và xơ nên hệ số chuyển đổi
thức ăn của các loại thức ăn này rất lớn, vào khoảng 30 – 200, do đó cần phải cung cấp
một lượng thức ăn rất lớn hàng ngày thì mới có thể đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của cá.
Tóm lại thức ăn chủ yếu của cá trắm cỏ là các loại thực vật trên cạn và dưới
nước. Cá cần một lượng thức ăn rất lớn so với các loài cá khác để đáp ứng nhu cầu phát
triển vì hệ số chuyển đổi thức ăn của thức ăn thực vật rất lớn. Trong điều kiện không
đủ thức ăn thực vật cá có thể sử dụng thức ăn nhân tạo như cám gạo, bột bắp, bột mì,
thức ăn viên….
2.4 Đặc điểm sinh học sinh sản
Cá có thể đẻ tốt trong vòng 3 – 4 năm sau khi thành thục. Để đạt hiệu quả trong
sinh sản nhân tạo người ta thường thay những cá đã qua độ tuổi này, việc này cũng giúp
quyết đònh con giống tốt.
Bảng 2.4 Tuổi và kích cỡ thành thục của cá trắm cỏ ở một số quốc gia
Quốc gia Giới tính Tuổi (năm) Tác giả
Đực 1
n độ
Cái 2
Prabhavathy và Sreenivasan, 1977
Đực 1-2
Malaysia
Cái 1-2
Hickling, 1967
Đực 3-4
Đài loan
Cái 4-5
Lin, 1965; Chen, 1976
(Nguồn: Shireman và Smith, 1983)
III Cá Mè Trắng – Mè Hoa
Hai loài cá này có chung một nguồn gốc và có một số đặc điển sinh học tương
đối giống nhau, do đó ta có thể xét hai loài này song song nhau. Mè trắng Mè hoa
3.1 Nguồn gốc – phân bố – phân loại