Phần lý thuyết
Bài mở đầu
1. Lịch sử phát triển của khoa học về chọn lọc, nhân giống vật nuôi
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi (Animal Breeding), gọi tắt là giống vật nuôi, là một
môn khoa học ứng dụng các quy luật di truyền để cải tiến năng suất của vật nuôi. Những mục
tiêu chủ yếu của chọn lọc và nhân giống vật nuôi bao gồm:
- Nắm đợc những biến đổi di truyền nào là có giá trị;
- Lựa chọn chính xác và có hiệu quả đợc những con giống tốt;
- Tìm đợc cách cho phối giống giữa những con giống tốt nhằm mang lại hiệu quả tốt
nhất về mặt di truyền cũng nh về mặt kinh tế.
Chọn lọc và nhân giống vật nuôi có lịch sử từ khi con ngời bắt đầu quá trình thuần
hoá các vật nuôi đầu tiên, nghĩa là khoảng 8.000 năm trớc công nguyên. Tuy nhiên trong một
thời gian dài, con ngời tiến hành một số biện pháp lựa chọn, loại thải vật nuôi, ghép đôi giao
phối giữa những con đực và con cái hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm của mình. Những công
trình chọn lọc, nhân giống vật nuôi đầu tiên đợc sách vở ngày nay thừa nhận là những đóng
góp của nhà chăn nuôi ngời Anh tên là Robert Bakewell (1725-1795) trong việc tạo các
giống bò Longhorn, cừu Leicester và ngựa Shire. Những sổ ghi chép về các giống ngựa, cừu
xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 1800 đã tạo tiền đề cho việc phát triển các sổ ghi chép
về giống (sổ giống) và việc tạo các giống vật nuôi ở các nớc châu Âu, châu Mỹ.
Năm 1865, Mendel công bố các quy luật di truyền và 35 năm sau vào năm 1900, các
định luật của Mendel đã đợc tái phát hiện bởi De Vries, Correns và Tschermak, các sự kiện
lịch sử này chính thức đánh dấu sự ra đơì của nền tảng lý luận khoa học về chọn lọc và nhân
giống vật nuôi. Cũng trong khoảng thời gian này, tại Đan Mạch các nghiệp đoàn kiểm tra sữa
đầu tiên đợc thành lập; tiếp sau đó ngời ta đã tiến hành khâu kiểm tra năng suất lợn, đây
chính là một trong các biện pháp kỹ thuật quan trọng để chọn lọc vật nuôi mà cho tới nay vẫn
đang còn đợc sử dụng rất rộng rãi.
Định luật Hardy-Wenberg đợc phát hiện vào năm 1908 đã mở đầu cho bớc phát
Niremberg (1968), có thể nói rằng năm 1970 với các phát hiện về enzym giới hạn đã mở đầu
cho thời kỳ công nghệ gen. Trong thập kỷ 80, ngời ta đã cho ra đời đợc những vật nuôi đầu
tiên là sản phẩm của công nghệ cấy ghép gen. Sự kiện nhân bản thành công cừu Dolly
(2/1997), sau đó là 5 con lợn con có gen 1-3 transferase không hoạt động (3/2000) là những
đóng góp quan trọng của di truyền học phân tử cho khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi.
Mặc dù, di truyền học phân tử đang là một trong những lĩnh vực nghiên cứu có tính thời sự,
liên tiếp gặt hái đợc những thành công, trong đó có những thành tựu làm sửng sốt cả nhân
loại, nhng cho tới nay phạm vi ứng dụng của các thành công này trong chọn lọc và nhân
giống vật nuôi còn ở mức độ rất hạn chế và ngời ta vẫn còn đang nghi ngờ về những hiểm
hoạ mà di truyền học phân tử có thể gây ra cho loài ngời.
Lịch sử phát triển của khoa học chọn lọc và nhân giống vật nuôi đợc tóm tắt trong sơ
đồ sau (hình 1.1).
2. Chọn lọc và nhân giống vật nuôi ở nớc ta
Theo số liệu thống kê 1/10/1998, cả nớc ta có 2.951.000 trâu, 3.984.000 bò,
18.132.000 lợn, 123.000 ngựa, 514.000 dê, trên 200 triệu gia cầm các loại.
Các giống vật nuôi địa phơng chủ yếu bao gồm: trâu Việt Nam, bò vàng, lợn Móng
Cái, ỉ (số lợng hiện nay còn rất ít), các nhóm lợn đen ở vùng núi các tỉnh phía Bắc; ngựa Việt
Nam, dê Cỏ, dê núi (ở các tỉnh miền núi giáp Trung Quốc); gà Ri, Hồ (Thuận Thành, Bắc
Ninh), Đông Tảo (Khoái Châu, Hng Yên), Mía (Phúc Thọ, Hà Tây); vịt Cỏ, Bầu (Chợ Bờ,
Hoà Bình); ngan trắng, ngan loang; ngỗng Sen (ngỗng Cỏ).
Các giống địa phơng trên đã đợc hình thành từ lâu đời trong hoàn cảnh các nền sản
xuất kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi với các tập quán canh tác khác nhau của các vùng
sinh thái nông nghiệp khác nhau. Đặc điểm chung của các giống địa phơng là có hớng sản
xuất kiêm dụng (cho 2 loại sản phẩm chăn nuôi trở lên), tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, phù hợp
với điều kiện sản xuất chăn nuôi tận dụng điều kiện thiên nhiên cũng nh sản phẩm phụ cuả
cây trồng, thích ứng với môi trờng khí hậu nóng ẩm.
Để nâng cao năng suất chăn nuôi, ngay từ thời Pháp thuộc cũng nh sau này, một số
giống vật nuôi nớc ngoài đã đợc nhập vào nớc ta, quá trình lai tạo giữa các giống nhập nội
với các giống địa phơng cũng nh nuôi thích nghi chúng đã hình thành nên những nhóm vật
nuôi có các đặc trng riêng biệt mà hiện tại chúng ta coi đó là những giống vật nuôi của nớc
Lý thuyết về nhiễm sắc thể của
MORGAN
ứng dụng rộng rãi thụ tinh 1930
nhân tạo cho bò, cừu ở Nga
LUSH và các khởi đầu về
di truyền số lợng và các
chơng trình chọn lọc vật nuôi 1940 Lý thuyết 1 gen 1 enzym của
Lý thuyết về chỉ số chọn lọc BEADLE và TATUM
ở vật nuôi của HAZEL
Lý thuyết về BLUP
của HENDERSON Phát hiện của AVERY: ADN là
nguyên liệu di truyền
Đông lạnh tinh dịch bò 1950
ở Anh Phát hiện của WATSON và CRICK
về vòng xoắn ADN
FALCONER và lý thuyết 1960
về di truyền số lợng
ứng dụng rộng rãi chỉ số NIREMBERG phát hiện mã di truyền
lọc trong các chơng trình giống
1970 Khởi đầu của công nghệ gen
Phát hiện các enzym giới hạn
BLUP bắt đầu đợc
ứng dụng trong chọn giống
1980
BLUP đợc sử dụng Công nghệ cấy ghép gen cho ra đời
rộng rãi trong các chơng trình vật nuôi đầu tiên
chọn giống vật nuôi
1990
Cừu Dolly, nhân bản vật nuôi đầu tiên
trong lai giống lợn, bò, gia cầm đã làm đa dạng hoá sản phẩm, tăng năng suất, cải tiến chất
lợng góp phần đáp ứng nhu cầu ngày một tăng về số lợng và chất lợng sản phẩm chăn nuôi
theo với nhịp độ gia tăng dân số cũng nh tốc độ tăng trởng của nền kinh tế đất nớc và cải
thiện đời sống của nhân dân.
Một vài năm gần đây, tiếp sau sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp thức ăn gia súc,
một số doanh nghiệp t nhân, công ty liên doanh hoặc 100% vốn nớc ngoài đã bắt đầu đầu t
vào khâu sản xuất con giống. Nhà nớc cũng tiếp tục thực thi một số chính sách hỗ trợ cho
việc sản xuất giống vật nuôi. Một số kỹ thuật tiên tiến trong di truyền chọn giống vật nuôi nh
cấy truyền phôi, ứng dụng các phần mềm máy tính trong chọn lọc gia súc giống... đang đợc
áp dụng trong nghiên cứu và sản xuất ở nớc ta. Vì vậy, để tăng cờng hiệu quả ứng dụng các
tiến bộ kỹ thuật trong khâu chọn lọc nhân giống vật nuôi, việc trang bị các hiểu biết khoa học
cũng nh những ứng dụng vào thực tiễn chọn lọc nhân giống vật nuôi nớc ta là một trong
những yêu cầu cần thiết đối với những ngời làm các nhiệm vụ có liên quan đến sản xuất chăn
nuôi. 5