Thử tìm hiểu đời sống người tiền - sơ
sử trên đất Bình Dương qua các di tích
khảo cổ
ĐỖ TIÊN
Vết tích của người tiền sử để lại khá nhiều trên địa phận tỉnh Bình Dương ngày nay. Đó là
những địa điểm cư trú và mộ táng với hàng ngàn hiện vật đã được các nhà khảo cổ tìm thấy.
Các di tích được xác định niên đại khoảng từ 2500 đến 3500 năm cách ngày nay là các di tích
Dốc Chùa, di tích Cù Lao Rùa, di tích Mỹ Lộc đều thuộc huyện Tân Uyên. Di tích có niên đại
muộn hơn khoảng từ 1800 năm đến 2000 năm cách ngày nay thuộc thời sơ sử là di tích Phú
Chánh cũng thuộc huyện Tân Uyên. Ngoài ra còn có một số địa điểm có dấu vết của người xưa
1500 năm, cư dân ở đây đã sử dụng nhà sàn để ở không cần phải chọn vùng đất cao. Tại đây
các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số cọc gỗ nhà sàn còn sót lại. Việc sinh sống ở những vị trí
gần sông hoặc suối đã cho thấy, họ, những người sống cách chúng ta hàng ngàn năm trước rất
thông minh. Họ đã chọn cho mình những vị trí vô cùng thuận lợi để sinh sống và phát triển. Họ
cư trú trên những vùng đất cao ở ven sông để không bị ngập nước khi nước sông dâng cao và
không bị thiếu nước khi thời tiết khô cạn. Sông suối là những nguồn nước vô tận để phục vụ
đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất. Sông suối là nguồn cung cấp thức ăn vô cùng phong
phú như cá tôm cua ốc Sông mang phù sa bồi đắp vùng đất ven bờ luôn màu mỡ tươi tốt
thuân lợi cho việc trồng trọt cây lương thực, rau, củ, quả Dòng chảy của các con sông là một
hệ thống giao thông rất tiện lợi trong việc vận chuyển lương thực, sản phẩm, đặc biệt là giúp
con người giao lưu với nhau giữa các cộng đồng cư dân và với thế giới bên ngoài.
•
Đời sống vật chất.
Ngoài di tích Phú Chánh thời sơ sử cách ngày nay khoảng từ 1800 năm đến 2000 năm, các
nhà khảo cổ đã tìm thấy những cọc gỗ được xác định là cột nhà sàn. Các di tích cách ngày nay
khoảng từ 2500 năm đến 3500 năm vẫn chưa tìm được vết tích của nhà ở hoặc một hình thức
kiến trúc để trú ngụ. Có thể người xưa đã dùng hang đá để làm nơi nghỉ ngơi, che mưa che
nắng. Bởi vì hàng ngàn năm trước chắc chắn là vùng miền Đông Nam Bộ địa thế hiểm trở,
rừng rậm hang sâu. Ở khu vực chiến khu Đ hơn 30 năm trước vẫn còn là vùng rừng bạt ngàn
và có rải rác những hang đá nhỏ.
Về trang phục, chúng ta vẫn chưa hình dung được nhưng chắc chắn hơn 3000 năm trước,
người xưa đã mặc bằng chất liệu vải sợi. Vì ở các di tích như Dốc Chùa, Cù Lao Rùa các nhà
khảo cổ đã tìm thấy rất nhiều dọi se sợi bằng đất nung. Đặc biệt ở di tích Dốc Chùa, dọi se sợi
có đến hàng trăm tiêu bản, được xem là một di tích có nhiều dọi se sợi nhất trong hàng loạt các
di tích khảo cổ ở Việt Nam. Đến di tích Phú Chánh, sau hơn 1000 năm so với niên đại Dốc
Chùa, các nhà khảo cổ đã tìm thấy hàng loạt di vật bằng gỗ liên quan đến kỹ thuật dệt vải như
dao dệt, trục dệt, lược dệt và có những mảnh vải mục lẫn trong đất trên bề mặt mộ táng.
Về mặc thì ta chưa biết hình thức trang phục như thế nào nhưng chắc chắn là cư dân tiền sử
đã biết làm đẹp bằng nhiều loại trang sức. Di tích Dốc Chùa có hàng chục di vật vòng đá đeo
tay hoặc có thể đeo chân cùng một số hạt chuỗi bằng thủy tinh, hạt chuỗi bằng đá và bằng đất
ngoài ra ở các di tích như Cù Lao Rùa, di tích Phú Chánh còn phát hiện một ít xương và răng
thú rừng như hươu, nai, voi là những vật chứng hết sức thuyết phục cho hoạt động săn bắt,
hái lượm của người xưa.
Để cung cấp các loại công cụ sản xuất, vũ khí và các loại đồ dùng sinh hoạt phục vụ đời sống,
người xưa phải chủ động phát triển các ngành nghề thủ công như chế tác công cụ, se sợi dệt
vải, sản xuất đồ gốm, đúc đồng, làm đồ trang sức
Qua các di tích khảo cổ, các nhà khoa học đã nhận thức được cấu trúc ngành nghề của từng
cộng đồng hoặc từng nhóm cư dân cụ thể nhưng chưa thể chứng minh được là có sự phân
công lao động trong mỗi cộng đồng, tức là hoạt động ngành nghề tách khỏi hoạt động nông
nghiệp. Bởi trong các di vật tìm thấy ở mỗi di tích đều có dấu tích của nhiều ngành nghề, có thể
các nghề thủ công ở đây vẫn còn mang tính chất tự cung tự cấp. Tuy nhiên nếu nhìn tổng thể
các di tích thì có những đặc trưng riêng về một hoặc vài loại hình di vật có một số lượng đáng
kể trong mỗi di tích mà không có hoặc có thật ít ở di tích khác, điều đó làm chúng ta đặt ra câu
hỏi phải chăng đã có sự chuyên môn hóa ngành nghề sản xuất trong xã hội của người tiền sử?
Các di vật ở di tích Dốc Chùa ngoài các loại hình công cụ sản xuất mà hầu hết đã có dấu hiệu
sử dụng cùng nhiều mảnh gốm, một số ít bàn mài, một ít vòng đá đã hoàn chỉnh và không
nhiều các di vật đang tạo tác, thì nổi bật nhất là loại hình dọi se sợi bằng đất nung với hơn 400
tiêu bản nhiều kiểu dáng. Đặc biệt ở di tích Dốc Chùa có rất nhiều khuôn đúc đồng, trong đó đa
phần đã vỡ, nhưng còn những di vật nguyên khắc rõ hình các vật đúc như rìu, lưỡi giáo, mũi
tên và những vật có hình dáng như trâm cài, hoa tai, lục lạc cùng một số sản phẩm đồ đồng
như rìu, lưỡi giáo, lưỡi qua, lục lạc, tượng thú (chưa xác định loại động vật), một vài vật hình
sừng không rõ loại hình và một số quả cân có lẽ là để cân hợp kim trong kỹ thuật đúc đồng? Ở
di tích Cù Lao Rùa, di vật nổi bật là có hơn 100ngàn mảnh gốm đủ các loại hình, đủ mọi kích
thước như nồi, chảo, chậu, bình, vò, bát bồng,đĩa bồng, mâm bồng, ống nhổ, ống phóng…với
đặc điểm đa phần da gốm còn mới và có nhiều gốm tô màu nâu đỏ rất tươi, ngoài ra còn phát
hiện một số loại đất màu đã vón cục (có lẽ đây là nguyên liệu tô màu trên gốm?), bên cạnh
mảnh gốm, bàn mài ở di tích Cù Lao Rùa cũng có số lượng rất nhiều và nhiều loại bàn mài
khác nhau như bàn mài rảnh, lõm, lõi vòng mà nhiều hơn cả là bàn mài lõi vòng cùng các di
vật vòng tay bằng đá hoàn chỉnh và chưa hoàn chỉnh, hàng trăm công cụ đá các loại trong đó
có một phần công cụ đang tạo tác cùng một ít mảnh tước đá. Di tích Mỹ Lộc có một loại hình di
các hốc đá ong cùng với đồ tùy táng như nồi, bình, vò, bát bồng và những công cụ đá thông
dụng. Nhưng có một vài ngôi mộ đồ tùy táng có những hiện vật to như mâm bồng và những
chiếc rìu đá có kích thước lớn chưa có dấu vết sử dụng. Những chiếc rìu này khá đẹp và hoàn
hảo về trình độ mài và tạo dáng, có thể là những sản phẩm mang ý nghĩa là đồ thờ tự chứ
không phải để sử dụng thông thường. Điều đó có thể là sự phân biệt vị thế của người chết
trong mộ, là tín hiệu ban đầu của sự phân tầng xã hội? Ở di tích Dốc Chùa, các nhà khảo cổ
phát hiện được hàng chục ngôi mộ cũng với đặc điểm chung là rải gốm và đá trên bề mặt mộ
cùng với đồ tùy táng bên dưới mộ. Các tầng văn hóa ở di tích Dốc Chùa có giai đoạn muộn hơn
di tích Cù Lao Rùa cách nay khoảng từ 2500 đến 3000 năm, với sự khác nhau về số lượng và
chất liệu di vật, kích thước di vật chôn theo trong mộ đã thể hiện rõ nét hơn việc phân cấp xã
hội trong cộng đồng này. Một số mộ đồ tùy táng rất ít chỉ một vài đồ đựng bằng gốm, một số mộ
đồ tùy táng nhiều nhưng cũng chỉ là đồ gốm, đặc biệt có một số mộ ngoài hiện vật gốm còn có
đồ đồng, số lượng đồ đồng trong mỗi mộ cũng khác nhau từ 1 đến 3 hiện vật loại hình khác
nhau. Có thể cư dân di tích Dốc Chùa đã có sự phân biệt giàu nghèo hoặc phân biệt vị trí cao
thấp trong xã hội? Đến thời sơ sử, đại diện là di tích Phú Chánh thì sự phân chia giai cấp rất rõ
ràng. Ở đây có hàng loạt ngôi mộ với nhiều kiểu táng thức khác nhau. Một kiểu táng thức khá
độc đáo ở di tích Phú Chánh là dùng áo quan bằng chum gỗ (một đoạn thân cây khoét rỗng
hình chum) sử dụng trống đồng làm nắp đậy, đặt đồ tùy táng trong lòng chum. Kiểu táng thức
này hiện nay chỉ phát hiện được ở di tích Phú Chánh và đã có 5 trống đồng liên tục được phát
hiện tại đây. Trống đồng ở di tích Phú Chánh là trống Đông Sơn loại I, được xem là biểu tượng
của nền văn minh Việt cổ, là loại minh khí tượng trưng cho uy quyền và sự giàu có. Kiểu táng
thức này có thể giành cho người có vị trí cao nhất trong cộng đồng. Táng thức thứ hai ở di tích
Phú Chánh là không có chum gỗ mà chỉ có trống đồng có đồ tùy táng bên trong và sử dụng cọc
gỗ cắm vòng tròn xung quanh. Táng thức thứ ba là chỉ cắm cọc gỗ theo vòng tròn, thành mộ
ken dày xác cau, giữa có đồ tùy táng, đáy mộ là các loại thảo mộc băm nhuyễn và phủ lớp vải
thô trên bề mặt mộ. Táng thức thứ tư là cắm cọc gỗ vòng tròn, đan giỏ tre hình chum đặt dưới
mộ cùng với một ít đồ tùy táng đơn sơ ở tâm mộ. Táng thức thứ năm chỉ nén chặt đất dạng
chum tròn đặt đồ tùy táng ở giữa. Từ 5 kiểu kết cấu mộ táng và sự khác nhau về số lượng, chất
liệu, kích thước của đồ tùy táng trong từng ngôi mộ là một sự phân biệt giai tầng xã hội thật rõ
nét trong cộng đồng cư dân ở đây.