LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Phượng
i
Lời cảm ơn
Để hoàn thành Luận văn thực tập tốt nghiệp này, trớc hết Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tời thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và phát
triển nông thôn, trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Những ngòi đã
trang bị cho Tôi hành trang kiến thức trên giảng đờng đại học và giúp
Tôi khi gặp khó khăn trong quá trình học tập.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thầy giáo
Trần Đình Thao và Hồ Ngọc Ninh đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn và
động viên Tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo các phòng ban và cán
bộ nhân viên trong Uỷ ban, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn
thành tốt nội dung đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2008
Ngòi viết
Sinh viên: Nguyễn Thị Kim Phợng
ii
MỤC LỤC
PHẦN I 1
và là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế. Người xưa có câu “ Tấc
đất tấc vàng” để nói về tầm quan trọng của đất đai. Nó như là một tài sản
quý giá mà thượng đế đã ban tặng cho con người. Đất đai không chỉ là
nơi sinh tồn của muôn loài mà còn là nơi sản sinh ra mọi của cải vật chất
cho xã hội.
Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên xây dựng CNXH từ
một nước nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật thấp kém, lại phải chịu
hậu quả của chiến tranh để lại. Chính vì vậy nền kinh tế nước ta đã bộc
lộ rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Muốn đẩy lùi nguy cơ tụt hậu về kinh
tế, cải thiện đời sống nhân dân thì không còn con đường nào khác là phải
thực hiện CNH-HĐH đất nước. Trong đó đặc biệt quan tâm tới việc
CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Các nội dung chính của CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn đã được nghị quyết lần thứ IV của BCH TW
Đảng (khoá VIII) xác định rõ, trong đó có việc đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, phát
triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giải
quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống người dân nông thôn,
thực hiện chính sách ruộng đất. Bởi vậy việc chuyển đổi mục đích sử
dụng đất từ sản xuất nông nghiệp sang xây dựng khu công nghiệp là việc
làm cần thiết.
Xã Lạc Đạo có lợi thế về vị trí địa lý, nằm trong vùng châu thổ Sông
Hồng, giáp với thủ đô Hà Nội, nằm trong khu tam giác phát triển kinh tế trọng
điểm Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Đây là một trong số những nơi hiện
1
đang diễn ra quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất trên quy mô
lớn, nhờ đó mà có nhiều nhà máy, xí nghiệp mới được ra đời, sản xuất kinh
doanh có hiệu quả, góp phần tăng doanh thu cho nền kinh tế, giải quyết việc
làm cho người lao động. Nhiều hộ sau khi bị thu hồi đất đã nhanh chóng
chuyển đổi ngành nghề sản xuất kinh doanh dẫn tới thu nhập của hộ tăng, đời
sống người dân địa phương ngày càng được cải thiện. Song bên cạnh đó nó
- Hộ nông dân bị mất đất và hộ không bị mất đất.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Lạc Đạo -
Huyện Văn Lâm - Tỉnh Hưng Yên.
- Phạm vi thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu: các số liệu sử dụng trong đề tài được lấy từ
năm 2001 ( trước khi diễn ra quá trình thu hồi đất) và từ năm 2005 – 2007
(những năm sau thu hồi đất)
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ 10/01/2008 -> 23/05/2008
- Phạm vi về nội dung:
Nghiên cứu sự thay đổi về thu nhập và đời sống của các hộ nông dân,
tình hình sản xuất kinh doanh của họ sau khi mất đất canh tác để xây dựng
KCN.
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
a) Khái niệm hộ
* Theo Martin năm 1988: Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác.
* Theo Raul, năm 1989: Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc, có
quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo
tồn chính bản thân mình và cộng đồng.
* Theo các tác giả nhóm nhân chủng học từ năm 1982-1985: Hộ là đơn vị
đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo thông qua quá trình tổ chức
nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất.
Như vậy cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về hộ
không giống nhau. Tuy nhiên trong đó có những nét chung để phân biệt về
Theo Chayanow, trong trường hợp không tồn tại thị trường sức lao
động thì thu nhập của hộ nông dân bao gồm tiền lãi kinh doanh và bao gồm
toàn bộ giá trị lao động, tức là phần còn lại sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ
đi chi phí vật chất.
Theo một số nhà nghiên cứu Việt Nam: thu nhập hỗn hợp của hộ nông
dân là phần thu được sau khi lấy tổng giá trị sản xuất trừ đi chi phí vật
chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ đi chi phí khác ( bao gồm thuế,
khấu hao TSCĐ…). Như vậy thu nhập hỗn hợp chính là phần thu nhập
thuần tuý của người sản xuất bao gồm thu nhập của lao động và lợi
nhuận khi sản xuất trên một đơn vị diện tích
MI = VA - [ A + T + lao động thuê (nếu có) ]
5
Trong đó MI: thu nhập hỗn hợp.
VA: giá trị tăng thêm.
A: khấu hao tài sản cố định và chi phí phân bổ.
T: thuế nông nghiệp.
d) Khái niệm về kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất
xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản
xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất, có chung ngân quỹ ngủ
chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất – kinh doanh và
đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và
tạo điều kiện phát triển.
***) Phân loại nông hộ:
- Theo tính chất của ngành sản xuất:
* Hộ thuần nông: là loại hộ chỉ thuần tuý sản xuất nông nghiệp.
* Hộ kiêm: là loại hộ vừa làm nông nghiệp vừa làm nghề tiểu thủ công
nghiệp, buôn bán.
* Nông hộ chuyên: là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thiểu thủ công nghiệp…
càng tăng lên làm cho nhu cầu đất đai dành cho các ngành cũng tăng lên.
Trong nông nghiệp đất đai là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất
này. Đất đai không chỉ là chỗ dựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồn
cung cấp thức ăn cho cây trồng. Mọi tác động của con người vào cây
trồng đều dựa vào đất đai và thông qua đất đai. Đất đai sử dụng trong
nông nghiệp được gọi là ruộng đất. Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là
đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Quá trình sản xuất nông
nghiệp là quá trình khai thác, sử dụng đất. Bởi vậy không có ruộng đất
thì không thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp.
2.1.3 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước
7
Kinh tế nông hộ đã góp phần làm tăng nhanh sản lượng sản phẩm cho
xã hội như lương thực, thực phẩm, sản phẩm cây công nghiệp, nông sản xuất
khẩu…thông qua quá trình sản xuất (Đối với nước ta, kinh tế nông hộ có
quy mô còn nhỏ và phân tán, lượng vốn còn ít nhưng đã cung cấp cho xã
hội 95% sản lượng thịt, 90% lượng trứng và 93% sản lượng rau quả. Sản
xuất nông nghiệp của hộ chiếm 48% giá trị tổng sản lượng của ngành
nông nghiệp).
Kinh tế nông hộ đã góp phần sử dụng đầy đủ và có hiệu quả các yếu tố
sản xuất như đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất.
Kinh tế nông hộ đã góp phần tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập
cho người dân ở nông thôn, vì vai trò to lớn đó. Lênin viết: ý định dùng sắc
lệnh, luật lệ để thiết lập chế độ canh tác tập thể, tước mất vai trò kinh tế
nông hộ trong đời sống hiện thực là hết sức ngu xuẩn.
2.1.4 Xu hướng biến đổi của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ từ chỗ mang tính lệ thuộc vào kinh tế tập thể dần dần
đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh: Nếu như trước
đây người nông dân không có quyền làm chủ tài sản lao động, trở thành
người lao động làm thuê và hưởng sản phẩm theo công điểm thì từ khi
ngày càng tăng lên.
Việc ra đời của các hộ giàu gắn liền với việc phát triển sở hữu tư
nhân dưới các hình thức chủ trại, chủ xưởng, chủ cửa hàng. Đó là xu
hướng tất yếu mang nhiều mặt tích cực phù hợp với quá trình tích tụ và
tập trung sản xuất, tăng năng suất lao động, tạo ra ngày càng nhiều sản
phẩm và sản phẩm hàng hoá. Những hộ giàu đã góp phần tích cực sử
dụng đất đai, lao động, vốn tốt hơn, tạo thêm việc làm trong nông thôn,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội, đồng thời trong mức độ nhất định góp
phần xây dựng nông thôn mới. Các hộ giàu cũng tạo thêm kinh nghiệm
làm ăn giỏi cho các hộ trung bình và nghèo noi theo. Xu hướng biến đổi
của kinh tế nông hộ là tăng số hộ giàu, giảm số hộ nghèo và xoá hẳn hộ
9
đói chỉ có thể thực hiện bằng tổng hợp nhiều giải pháp kinh tế-xã hội trên
tầm quản lý vĩ mô cũng như vi mô ở từng cơ sở.
2.1.5 Những vấn đề lý luận về quan hệ giữa ruộng đất với hộ nông dân
Từ xa xưa, khi loài người còn sống thành bầy đàn, đất đai thuộc sở
hữu chung của cộng đồng. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội loài
người, chế độ sở hữu và chiếm hữu đất đai cũng phát triển, trở thành
quá trình phát triển lâu dài, gắn liền với lịch sử của từng vùng trên trái
đất hay mỗi quốc gia.
Từ thời đại Hùng Vương của đất Văn Lang, Âu Lạc ruộng đất
trong nước thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua, người dân cày đất “
vua ban” phải có nghĩa vụ đối với vua, tức là có nghĩa vụ đối với nhà
nước như đóng góp sản vật, lô dịch, binh dịch.
Cùng với sự phát triển của lịch sử, chế độ phong kiến hình thành
và dần dần sở hữu tư nhân cũng bắt đầu xuất hiện. Song nhìn chung
trong một thời gian dài suốt hàng trăm năm, chế độ sở hữu ruộng đất của
nước ta vẫn gồm 2 loại song song tồn tại: sở hữu nhà nước và sở hữu tư
nhân. Tuỳ từng thời kỳ lịch sử khác nhau mà sự biểu hiện của quyền sở
hữu đó cũng khác nhau và diễn ra dưới nhiều hình thức.
hướng: chuyển từ đất nông nghiệp sang đất của các ngành khác ( đất xây
dựng nhà ở, các công trình giao thông, các khu công nghiệp). Trong nông
nghiệp là sự vận động của đất đai từ đất trồng lúa sang trồng cây công
nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả và một số cây trồng khác có giá trị
kinh tế cao hơn.
11
- Với tư cách là một tư liệu sản xuất, một tài sản, đất đai nói chung và
ruộng đất nói riêng vận động về mặt sở hữu. Do đặc điểm đặc thù của
đất, đất đai đã có sự vận động qua nhiều chế độ sở hữu khác nhau. Sự
khác nhau cơ bản của các chế độ sở hữu đất đai là các quan hệ sở hữu về
đất đai
Việc hình thành thị trường đất đai là tất yếu khách quan và được
thực hiện ở tất cả các nước có kinh tế thị trường phát triển. Ở đó đất đai
được coi là thứ hàng hoá đặc biệt.
Những vấn đề đặc thù mang tính quy luật trên là cơ sở khách quan
thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với đất đai và lao động nhằm tạo hành
lang pháp lý cho chế đô sở hữu, quản lý và khai thác đất đai có hiệu quả
hơn.
2.1.7 Ảnh hưởng của công nghiệp hóa, đô thị hoá đến đời sống các hộ
nông dân
Theo xu thế phát triển của xã hội thì cần nhận thức rằng công
nghiệp hoá, đô thị hóa là xu hướng tất yếu mà mỗi một xã hội đều phải
trải qua. Công nghiệp hoá, đô thị hoá đồng nghĩa với việc tăng diện tích
đất cho phát triển khu công nghiệp, kéo theo đó là việc diện tích đất canh
tác ngày càng bị thu hẹp, nhường chỗ cho các nhà máy, xí nghiệp, nhà ở,
các công trình phúc lợi xã hội…. Trong điều kiện dân số đông, thất
nghiệp nhiều, quá trình công nghiệp hóa tuy làm tăng thêm nhu cầu cấp
bách về việc làm song lại tạo ra cơ hội chuyển dịch cơ cấu lao động và có
cơ hội tạo ra nhiều việc làm và việc làm có chất lượng cao hơn, thu nhập
cao hơn. Như vậy quá trình công nghiệp hoá không chỉ có mặt tiêu cực
vụ đạt 4.9%
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản đã có chính sách và biện pháp nhằm thực hiện công nghiệp
hoá nông thôn, vừa biến nền nông nghiệp cổ truyền kiểu châu Á thành nền
nông nghiệp tiên tiến, vừa phát triển công nghiệp nông thôn theo hướng đa
dạng nhằm giải quyết vấn đề việc làm ở nông thôn. Các ngành nghề tiểu thủ
13
công nghiệp truyền thống được khuyến khích phát triển. Vào những năm
70, tỉnh OITA đã có phong trào “mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm
khai thác các ngành nghề cổ truyền ở nông thôn. Ngay năm đầu tiên, họ
đã tạo ra 143 loại sản phẩm thu được 358 triệu USD, đến năm 1992 tăng
lên 1,2 tỷ USD. Phong trào phục hồi ngành nghề công nghiệp truyền
thống lan rộng ra toàn bộ nước Nhật Bản. Do nhu cầu sản xuất và đời
sống nông thôn, các ngành dịch vụ, thương mại, tín dụng, kỹ thuật và
những ngành chế biến nông – lâm - thuỷ sản cũng phát triển. Cũng giống
như Đài Loan, thu nhập của các hộ nông dân Nhật Bản tăng lên nhanh
chóng. Nếu như năm 1950 thu nhập từ nông nghiệp chiếm 71%, thu nhập
ngoài nông nghiệp chiếm 29% giá trị thu nhập bình quân của một hộ thì
đến năm 1990 thu nhập từ nông nghiệp chỉ chiếm 15% còn lại 85% là thu
nhập ngoài nông nghiệp.
Từ những kinh nghiệm của Đài Loan, Nhật Bản cho thấy các nước này
đã khôn khéo sáng tạo kết hợp với mức độ khác nhau giữa xây dựng
công nghiệp tập trung ở đô thị với việc phát triển công nghiệp phân tán ở
nông thôn, xác định rõ công nghiệp hoá nông thôn không chỉ là hiện đại
hoá nông nghiệp mà còn là mở mang phát triển công nghiệp tại nông
thôn.
2.2.2 Tình hình chuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất ở Việt Nam
Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu
hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm 3,89% đất nông nghiệp đang sử dụng). Trong
đó, diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và
mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với định
hướng phát triển của đất nước.
Việc bố trí, sắp xếp nơi ở mới cho các hộ dân bị thu hồi đất đến nơi ở
mới có quy hoạch tổng thể với hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội hiện đại đã góp
phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
15
16
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm về tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Lạc Đạo nằm về phía tây bắc huyện Văn Lâm, là nơi tiếp giáp với tỉnh
Bắc Ninh và thành phố Hà Nội. Xã có tổng diện tích 857.63 ha, được giới hạn
bởi:
- Phía Bắc giáp thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh.
- Phía Nam giáp xã Minh Hải và xã Đình Dù.
- Phía Đông giáp xã Chỉ Đạo.
- Phía Tây giáp thị trấn Như Quỳnh.
Như vậy điều kiện về vị trí địa lý của xã rất thuận lợi cho giao lưu
kinh tế - văn hóa với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh.
3.1.1.2 Đặc điểm về khí hậu và thủy văn
Xã Lạc Đạo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết trong
năm được phân làm 2 mùa rõ rệt.
- Mùa hè: nóng, ẩm, mưa nhiều thường kéo dài từ tháng 4 đến tháng
10.
- Mùa đông: Lạnh, hanh, khô thường kéo dài từ tháng 11 năm trước
đến tháng 3 năm sau. Mùa này mưa lượng mưa chiếm khoảng 20%
lượng mưa cả năm.
Qua số liệu của trạm khí tượng thủy văn tỉnh Hưng Yên cho thấy
dùng, đất ở, đất chưa sử dụng và sông.
Đất nông nghiệp của xã với diện tích đạt 484.58 ha. Diện tích đất nông
nghiệp qua 3 năm có xu hướng giảm: Năm 2006 so với năm 2005 giảm
4.19%, năm 2007 so với năm 2006 giảm 0.24%, bình quân 3 năm giảm
2.24%.
Trong diện tích đất nông nghiệp thì đất canh tác chiếm phần lớn. Năm
2005 là 450.39 ha chiếm 92.94%, năm 2006 là 426.15 ha chiếm 91.79%, năm
2007 là 425.21 ha chiếm 91.81% tổng diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất
canh tác cũng có xu hướng giảm dần qua 3 năm, bình quân 3 năm giảm
2.84%. Nguyên nhân đất canh tác của xã giảm là do một số khu đất ở những
18
trục đường chính của xã đã bị thu hồi làm đất ở hay đất để xây dựng khu công
nghiệp. Sự biến động này xét ở khía cạnh nào đó có thể là tốt cho việc phát
triển kinh tế xã hội của xã, nhưng lại trở thành không tốt cho sản xuất nông
nghiệp vì người dân thiếu đất để tiến hành sản xuất, bình quân 3 năm diện tích
trồng lúa, màu giảm 2.91%. Diện tích đất vườn tạp và diện tích nuôi trồng
thủy sản có xu hướng tăng là do các hộ đã dần chuyển đất trồng cây lâu năm
sang trồng các loại cây ăn quả và nuôi thả cá để đem bán trên thị trường, bình
quân 3 năm diện tích đất vườn tăng 28.09%, diện tích nuôi trồng thủy
sản tăng 28.09%.
Diện tích đất chuyên dùng qua các năm cũng tăng. Nếu như năm
2005 diện tích đất chuyên dùng là 213.69ha chiếm 24.92% thì năm 2006
tăng 9.58% so với năm 2005 và đến năm 2007 tăng 0.34% so với năm
2006, bình quân 3 năm diện tích đất chuyên dùng tăng 4.86%. Sự biến
động này do quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra rất mạnh mẽ trên
địa bàn xã trong những năm gần đây.
Đất ở cũng tăng qua 3 năm: Năm 2006 diện tích đất ở không có gì thay
đổi so với năm 2005 nhưng sang đến năm 2007 diện tích đất ở tăng 0.81% so
với năm 2006, bình quân 3 năm tăng 0.4%. Đất thổ cư tăng là do sự gia
tăng dân số dẫn đến nhu cầu về đất ở cũng tăng lên.
Đất canh tác/hộ nông nghiệp 0.166 0.159 0.134 95.60 84.50 89.88
(Nguồn: ban thống kê xã)
20