đánh giá tình hình xây dựng nông thôn mới và xây dựng thiết kế không gian khu trung tâm xã lạc đạo – huyện văn lâm – tỉnh hưng yên - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia. Việt Nam là nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông
thôn chiếm gần 75% dân số cả nước. Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn có ý
nghĩa rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã
rất quan tâm đến phát triển nông nghiệp nông thôn. Để triển khai Nghị quyết số 26 -
NQ/TW ngày 05/08/2008 của BCH Trung ương, với chủ trương đưa nông thôn tiến
kịp với thành thị, xây dựng mục tiêu hiện đại hóa nông thôn Việt Nam vào cuối năm
2020; Chính phủ, các bộ ngành, địa phương đã ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ
đạo thực hiện như sau: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu trí quốc gia về xây dựng nông thôn mới; Quyết
định số 800/QĐ-Ttg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương
trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”; Thông
tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới; Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/08/2010 của Bộ Xây dựng
về Quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch về quy hoạch quản lý xây dựng xã
nông thôn mới;… với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có 50% số xã đạt được mục
tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Như vậy quy hoạch nông thôn mới là
nhiệm vụ lớn đặt ra cho các cấp đảng uỷ, chính quyền và toán thể nhân dân. Quy
hoạch xây dựng nông thôn mới là 1 trong 11 nội dung của Chương trình mục tiêu
quốc gia về xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu đặt ra là đạt yêu cầu tiêu chí số 1
của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Trong đó có 2 nội dung chính là: (i) quy
hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá,
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; và (ii) quy hoạch phát triển hạ tâng
kinh tế - kỹ thuật – môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu
dân cư hiện có trên địa bàn xã.
1
1
Nhằm triển khai quy hoạch phát triển nông thôn mới huyện Văn Lâm – Hưng

thời tìm ra những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển nông thôn mới của
xã.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch xây
dựng nông thôn mới.
3 Yêu cầu
- Đánh giá đầy đủ các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng phát triển
nông thôn và đưa ra định hướng phát triển về không gian, mạng lưới điểm dân cư, về
hạ tầng kỹ thuật, hạ tần xã hội thôi các tiêu chí của quy hoạch nông thôn mới.
- Nắm vững các văn bản do Nhà nước và địa phương ban hành có liên quan tới
quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Thu thập điều tra các tài liệu, số liệu, văn bản và bản đồ có liên quan. Đảm
bảo tính trung thực, chính xác, phản ánh đứng hiện trạng.
- Tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ các công trình kỹ thuật,
công trình quốc phòng, di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và bảo vệ môi
trường.
- Phù hợp với quy hoạch tổng thế phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch
ngành của địa phương đã được phê duyệt.
- Các giải pháp đưa ra phải xuất phát từ kết quả nghiên cứu của đề tài, phù hợp
với thực tiễn của địa phương.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
- Phương án quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lạc Đạo, huyện Văn
Lâm, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2011 – 2020.
- Các văn bản pháp lý có liên quan đến xây dựng nông thôn mới.
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Lạc Đạo,
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
b. Phạm vi nghiên cứu
- Số liệu hiện trạng về đất đai, kinh tế xã hội.
- Tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới được điều tra
đến tháng 6/2014.

Như vậy, phát triển nông thôn là hệ thống đảm bảo sự phát triển tổng hợp kinh
tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn nhằm vào việc cải
thiện mức sống, cả tinh thần và vật chất của dân cư nông thôn. Tùy theo góc độ xem
xét, phát triển nông thôn có thể được diễn giải theo những cách khác nhau. Góc độ
xem xét và diễn giải nội dung phát triển nông thôn tương ứng đồng thời phục vụ triển
khai thực hiện phát triển nông thôn theo các cách, mục tiêu khác nhau (Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2010).
Theo lĩnh vực phát triển, phát triển nông thôn bao gồm các lĩnh vực phát triển
được xem xét riêng biệt, mặc dù trong thực tế, các lĩnh vực đó có mối liên hệ, tác
động qua lại lẫn nhau. Các lĩnh vực đó bao gồm: Quản lý các nguồn tài nguyên (tự
nhiên - đất đai, nguồn nước, thảm thực vật, con người, tổ chức, ); Phát triển kinh tế
(nông nghiệp, phi nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất hàng
hóa, chế biến, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thị trường, ); Nghiên cứu và
chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật (giống cây trồng, vật nuôi, chế biến, bảo quản,
quản lý, ); Phát triển cơ sở hạ tầng (hệ thống đường giao thông, hệ thống công trình
thủy lợi, hệ thống điện, ); Văn hóa - xã hội (giáo dục, y tế, mức độ nghèo đói, );
Chính sách (đất đai, tín dụng, đầu tư, ); Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên
tai,
Theo phạm vi lãnh thổ, phát triển nông thôn có thể được xem xét bao gồm phát
triển nông thôn cho cả nước, theo vùng, tỉnh, huyện, xã và cả thôn ấp. Nó còn có thể
được xem xét dưới góc độ quản lý hành chính Nhà nước, có cấp trung ương và cấp
địa phương, khi đó cấp địa phương có thể bao gồm các cấp khác nhau theo chiều từ
trên xuống là cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và cuối cùng là thôn ấp. Tham gia thực hiện
và hỗ trợ phát triển nông thôn, bên cạnh đó, có thể là hệ thống không chính thức gồm
các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau tại khu
vực nông thôn (Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, 2010).
Theo cách tiếp cận phát triển, phát triển nông thôn có thể bao gồm tiếp cận
phát triển thông thường từ trên xuống; Tiếp cận phát triển từ cộng đồng, từ người dân
đi lên và tiếp cận phát triển có kết hợp từ trên xuống với từ dưới đi lên. Mỗi cách tiếp
5

6
6
Như được phân tích ở trên, PTNT bao gồm các hoạt động đa ngành nhằm mục
tiêu cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn. Theo cách đánh giá
phục vụ các mục tiêu khác nhau, nội dung liên quan trong PTNT cũng thay đổi khác
nhau tương ứng. Tuy vậy nhìn chung, nội dung PTNT là rất rộng lớn, có thể bao gồm
các hoạt động đa ngành, liên quan đến nhiều cấp độ khác nhau diễn ra chủ yếu tại khu
vực nông thôn.
Như vậy tất cả các hoạt động nhằm đến mục tiêu cuối cùng, có tác động đến
việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của bộ phận dân cư, của các cộng đồng
nông thôn một cách bền vững, đều có thể coi là hoạt động, nội dung của PTNT.
b. Vị trí và phạm vi của xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới có thể tạm coi là một bộ phận, hợp phần của tổng thể
PTNT. Nếu căn cứ vào diễn giải ngôn từ, nông thôn mới sẽ khác biệt với nông thôn
hiện nay hoặc với nông thôn trước kia. Sự khác biệt đó hàm ý sự thay đổi theo hướng
tích cực của vùng nông thôn. Các thay đổi có thể về bộ mặt nông thôn thể hiện ra bên
ngoài nói chung, nhưng cũng có thể là các thay đổi về chất lượng, về tinh thần tạo ra
động lực thúc đẩy PTNT tại vùng phạm vi địa lý nhất định. Nếu PTNT là vấn đề phát
triển chung, có sự thống nhất tương đối và có thể chia sẻ giữa các nước khác nhau
trên thế giới, thì xây dựng nông thôn mới có tính chất đặc thù. Không nhiều nước sử
dụng và phát triển nội dung này thành công trong PTNT.
Xây dựng nông thôn mới tập trung vào tổ chức thực hiện các nội dung PTNT
tại cấp cơ sở. Việc quản lý và thực hiện trên cơ sở cấp quản lý chính quyền tiếp xúc
trực tiếp với cộng đồng dân cư. Nó có giới hạn về phạm vi địa lý với vùng diện tích
tương đối nhỏ, tương ứng với phạm vi sinh sống của mỗi cộng đồng dân cư nông
thôn. Xây dựng nông thôn mới là một quá trình liên tục, lâu dài. Các nội dung sẽ bao
trùm tất cả các hoạt động PTNT tại cấp cơ sở. Có nhiều bên với vai trò khác nhau sẽ
tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới, đó là người dân, Nhà nước, các tổ
chức và cá nhân khác.
c. Vị trí và phạm vi của chương trình nông thôn mới

26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC;
8
8
- Thông tư liên tịch số: 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28
tháng 10 năm 2011 của liên Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp & PTNT, Tài nguyên và
Môi trường về việc quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã
nông thôn mới;
- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 về Hướng dẫn thực
hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/09/2010 về việc hướng dẫn xác định
và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/08/2010 về việc quy định việc lập
nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
- Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/09/2009 của Bộ Xây dựng về Ban
hành Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
- Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/09/2009 của Bộ Xây dựng về Ban
hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
- Sổ tay hướng dẫn lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới của Bộ xây dựng
ban hành năm 2010
- Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê
duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- QCVN 14: 2009/BXD, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia –Quy hoạch xây dựng
nông thôn Vietnam Building Code-Rural Residental Planning, ban hành theo thông tư
số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009; Tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn
được ban hành theo thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009;
- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 hướng dẫn thực hiện bộ
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Quyết định số 2933/BGTVT-KHĐT ngày 11/5/2009 của Bộ Giao thông vận tải
hướng dẫn tiêu chí nông thôn mới trong lĩnh vực giao thông nông thôn;
9

10
10
1.2 Cơ sở thực tiễn về quy hoạch xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Tình hình quy hoạch phát triển nông thôn trên thế giới
Phát triển nông nghiệp để xây dựng một nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay,
từ các góc cạnh khác nhau, đang là mối quan tâm chung của cả cộng đồng thế giới. Kinh
nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này là bài học cho Việt Nam.
a. Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Vùng
Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới. Lượng mưa vừa đủ cho hầu
hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những
nơi thiếu mưa.
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động có trình độ
cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ. Điều kiện làm việc của
người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều
hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt
tiền. Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn.
Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí, theo các nhà môi
trường, quá phổ biến. Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất
cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng. Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu
các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy,
hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá.
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một
khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông
nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh
nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ
gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất
đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống
như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô
lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và

các thành phố và trung tâm công nghiệp. Điều này đã dẫn đến tình trạng hoang tàn và
giảm dân số nghiêm trọng ở vùng nông thôn nói chung và Oita nói riêng – hầu như
12
12
chỉ còn người già và con trẻ ở những khu vực này. Đứng trước tình hình đó, ngay sau
khi được bổ nhiệm làm người đứng đầu tỉnh Oita, ngài Morihiko Hiramatsu đã đề
xuất một loạt sáng kiến để khôi phục lại kinh tế của Oita, trong đó có Phong
trào “Mỗi làng một sản phẩm”.
Hợp tác xã nông nghiệp Oyama được trưng bày riêng một khu vực gọi là
“Konohana Garten” và bán với hình thức đưa hàng đến giao hàng ngày cho hệ thống
các siêu thị trên toàn đất nước là một giải pháp thị trường mang tính sáng tạo cao.
Chất lượng chính là yếu tố thành công của phong trào, yếu tố này không chỉ thể hiện
ở bản thân chất lượng của hàng hóa được kết tinh ở công nghệ chế biến và bảo quản
đã được giám định kỹ lưỡng bởi các cơ quan chức năng cũng như bởi ý thức sản xuất
hàng hóa chất lượng cao trong hành vi của người Nhật Bản mà còn thể hiện rất rõ ở
nghệ thuật bao bì, đóng gói, luôn bắt mắt và thuận tiện cho việc vận chuyển, sử dụng
của người tiêu dùng. Ngoài hệ thống cửa hàng tại các siêu thị, các sản phẩm của Hợp
tác xã nông nghiệp Oyama còn được bán ở hệ thống các trạm nghỉ dọc đường.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ cung ứng, Phong trào
cũng đề cao vai trò của việc nghiên cứu phát triển và đào tạo nguồn nhân lực. Vì đây
chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển một cách bền vững. Và một yếu tố khác khiến
cho Phong trào OVOP thành công tại Nhật Bản đến như vậy là vì Phong trào đã hình
thành nên cho người sản xuất tinh thần lao động với ý thức rất cao về sản phẩm của
mình làm ra.
Năm 2003, thu nhập bình quân đầu người của người dân Oita đạt 22.800
USD/người/năm, cao gấp 2 lần so với thời điểm bắt đầu triển khai Phong trào. Giá trị
sản phẩm nông nghiệp bình quân đầu người cũng cao gấp đôi. Trong đó sản phẩm
chanh Kabosu của tỉnh này vươn lên chiếm 100% thị phần trong nước. Phong trào đã
nhanh chóng lan ra nhiều nước ở châu Á, châu Phi như: Trung Quốc, Thái Lan, Ấn
Độ, Tuynidi.

thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ra một động
lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển theo kịp với thành thị.
- Chương trình được mùa: chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp
dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp,
14
14
nông thôn. Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so
với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản
chuyện dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm.
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: mục tiêu là nâng cao mức sống của các
vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người; mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học
tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán
cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân. Sau khi
thực hiện chương trình, ở những vùng này, số dân nghèo giảm từ 1,6 triệu người
xuống còn 5 vạn người, diện nghèo khó giảm từ 47% xuống còn 1,5%
Tại hội nghị toàn thể Trung Ương lần thứ 5 khóa XVI của Đảng Cộng Sản
Trung Quốc, năm 2005, lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra quy hoạch “Xây dựng nông
thôn mới xã hội chủ nghĩa”. Đây là kế hoạch xây dựng mới đã được Trung Quốc đưa
vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm lần thứ XI (2006-2010). Mục tiêu của
quy hoạch là: “sản xuất phát triển, cuộc sống dư dật, làng quê văn minh, thôn xã sạch
sẽ, quản lý dân chủ”. Xây dựng nông thôn mới Trung Quốc tạo nên một hình ảnh mới
đầy ấn tượng về một “nông thôn Trung Quốc” đầy vẻ đẹp tráng lệ. Tuy vậy, dù với rất
nhiều cố gắng, phát triển nông thôn cấp cơ sở và nông thôn mới tại Trung Quốc cũng
chưa đạt được các mục tiêu đề ra để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn. Mô hình
nông thôn mới của Trung Quốc chưa được coi là thành công khi hiện nay, khoảng
cách giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn đang ngày càng rộng ra. Còn tồn tại
nhiều vấn đề trong khu vực nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc (Viện quy hoạch và
thiết kế nông nghiệp, 2010).
d. Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn

1.2.2 Tình hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam và tỉnh Điện Biên
1.2.2.1. Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Sau 03 năm triển khai Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, hầu hết
các tỉnh đã tích cực triển khai và đạt được nhiều kết quả tốt, thể hiện ở những mặt
sau:
16
16
1. Về bộ máy tổ chức triển khai: Đã hình thành bộ máy chỉ đạo và tổ chức thực
hiện Chương trình từ Trung ương đến các xã. Tuy nhiên, vấn đề nổi lên hiện nay là
10/63 tỉnh, thành phố (Yên Bái, Tp. Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Lâm Đồng, Bà Rịa-
Vũng Tàu, Bình Dương, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Thơ) còn tồn tại hình thức tổ giúp việc
Ban Chỉ đạo tỉnh. Bộ máy giúp việc Ban Chỉ đạo cấp huyện chủ yếu là cán bộ kiêm
nhiệm của phòng kinh tế hoặc phòng hạ tầng cấp huyện nên công tác tham mưu cho Ban
Chỉ đạo còn hạn chế.
Bên cạnh đó, một số Bộ ngành như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ
Công An, Bộ Y tế… đã thành lập Ban Chỉ đạo và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng
thành viên để chỉ đạo thực hiện chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới theo
nhiệm vụ đã được Thủ tướng phân công tại Quyết định số 800/QĐ-TTg. Tuy nhiên, hoạt
động của Ban Chỉ đạo của các Bộ còn hạn chế, chưa rõ nét và cơ chế báo cáo kết quả
thực hiện còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu gây khó khăn cho việc tổng hợp, báo
cáo triển khai của đơn vị thường trực BCĐ.
2. Công tác chỉ đạo, điều hành: Trong 3 năm qua Thường trực Ban Chỉ đạo và
các Thành viên đã giành thời gian đi kiểm tra ở các địa phương được phân công, tổ
chức thành công hội nghị sơ kết 3 năm triển khai tại 2 vùng. Đã hoàn thành cơ bản hệ
thống các văn bản hướng dẫn triển khai chương trình; một số Ban Chỉ đạo các tỉnh,
thành phố Thái Bình, Vĩnh Phúc, Tp.Hà Nội, Ninh Bình, Hà Tĩnh và An Giang…đã vào
cuộc tích cực và đã tạo ra chuyển biến sâu rộng ở địa phương; Các đoàn thể chính trị - xã
hội đã tham gia tích cực hơn và đã có những kết quả ban đầu. Tuy vậy, tổ chức bộ
máy giúp việc Ban Chỉ đạo còn chưa thống nhất, chưa coi trọng chất lượng; hoạt
động của một số Ban Chỉ đạo còn hạn chế như ở Cao Bằng, Sơn La, Yên Bái, Lạng

địa phương đã đạt được những kết quả sau:
- Về giao thông nông thôn: Trong thời gian qua, kiên cố hóa đường giao thông
nông thôn đã trở thành phong trào rộng khắp ở các địa phương và các vùng trong cả
nước nên đã và đang triển khai được gần 5.000 công trình, với khoảng 64.000 km. Trong
điều kiện nguồn lực hạn chế, nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ phù hợp
18
18
nên đã huy động được nhiều hơn sự tham gia của người dân và cộng đồng, dần hình
thành phong trào về kiên cố hoá đường giao thông nông thôn…
- Về thủy lợi: Thời gian qua các địa phương đã cải tạo và nâng cấp được gần
1000 công trình, trong đó đã kiên cố hóa, nạo vét được 7.000 km kênh mương, xây
dựng tu bổ sửa chữa, nâng cấp được hàng ngàn công trình thủy lợi gồm bờ bao, cống,
trạm bơm phục vụ tưới tiêu.
- Công trình nước sạch, vệ sinh môi trường và công trình công cộng: Thực hiện
chương trình MTQG nước sạch và vệ sinh môi trường, các địa phương đã xây dựng,
nâng cấp được hơn 1.000 công trình nước sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải,
1200 cống rãnh thoát nước thải vệ sinh. Ngoài ra, các địa phương đã sửa chữa, nâng
cấp 480 trường học các cấp; xây dựng, nâng cấp 39 trụ sở xã; xây dựng 516 nhà văn
hóa thôn, xã; xây dựng 50 trạm y tế xã; xây dựng 120 công trình điện; xây dựng 28
chợ và hàng trăm công trình khác được xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng.
Theo kết quả đánh giá của các địa phương số xã đạt nhóm các tiêu chí này chiếm
khoảng 20% số xã của các tỉnh, trong đó tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông
Hồng, Miền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long…. Tuy nhiên, công tác xây
dựng hạ tầng đang bộc lộ một số hạn chế như nguồn lực đầu tư cho xây dựng hạ tầng
nông thôn mới vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, mức huy động từ các nguồn
khác còn thấp; Chưa chú trọng đến các công trình y tế, văn hoá, vệ sinh môi trường
nông thôn…; Việc tuyên truyền, vận động sự tham gia, đóng góp của người dân còn
hạn chế. Thiếu quản lý, duy tu và bảo dưỡng các công trình hạ tầng sau khi đưa vào
sử dụng.
7. Về phát triển sản xuất: Tính đến nay, các địa phương trong cả nước đã hỗ trợ

có hiệu quả.
(v). Đã xây dựng được một số các xã cơ bản đạt nông thôn mới theo 19 tiêu chí.
Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương, ngoài 11 xã điểm do Ban Bí thư chỉ đạo đã
đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, còn có thêm 32 xã đạt từ 16-18 tiêu chí, cụ thể: Hà Nội (8
xã), Bắc Giang (2 xã), Quảng Ninh (10 xã), Lào Cai (1 xã), Yên Bái (1 xã); Bắc Ninh
(5 xã), Hưng Yên (1 xã), Hải Phòng (3 xã). Trong đó có 9 xã đạt 18 tiêu chí (chưa đạt
tiêu chí cơ cấu lao động); Đã có 950 xã (đa số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng Bắc Trung Bộ) đạt từ 10 tiêu chí trở lên.
20
20
(vi). Công tác tổ chức, triển khai thực hiện phong trào thi đua ‘‘Cả nước chung
sức xây dựng nông thôn mới’’ được thực hiện khẩn trương, đồng bộ, nghiêm túc, kịp
thời với nhiều biện pháp, nội dung phù hợp, sát với thực tế và đáp ứng được nguyện
vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Phong trào đã có được những kết quả bước
đầu, theo đúng lộ trình vạch ra và thực sự đi vào đời sống, được các cấp, các ngành
hưởng ứng và người dân nhiệt tình ủng hộ, tích cực tham gia. Thông qua việc triển
khai thực hiện phong trào thi đua‘‘Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới’’ đã
có tác dụng tích cực trong thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước trên địa bàn cả
nước và ở mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương.
Tuy nhiên, sau 3 năm triển khai chương trình cho thấy đang nổi lên một số vấn
đề gồm: (i). Một số cơ chế, chính sách còn vướng mắc như: sửa tiêu chí nông thôn
mới; cơ chế huy động và lồng ghép các nguồn lực; Cơ chế quản lý đầu tư, giải ngân
và thanh quyết toán (ii). Các địa phương chưa chú trọng đến các hoạt động về xây
dựng thiết chế văn hoá, giữ gìn nét đẹp văn hoá truyền thống ở nông thôn; việc xử lý
rác thải, nước thải còn chưa được quan tâm, an ninh trật tự ở nông thôn ở nhiều nơi
còn chưa tốt; (iii). Một số địa phương còn chạy đua theo phong trào nên thiếu bền
vững, hiệu quả thực hiện chưa cao (Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình MTQG
xây dựng nông thôn mới, 2013 )
21
21

2.3.2.1 Tóm tắt phương án xây dựng nông thôn mới xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên đến năm 2020
- Quy hoạch sản xuất;
- Quy hoạch tổ chức mạng lưới điểm dân cư;
- Quy hoạch hệ thống trung tâm, công trình công cộng;
- Quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật;
- Quy hoạch khu trung tâm xã;
- Quy hoạch sử dụng đất.
2.3.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lạc Đạo,
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chương trình nông thôn mới.
- Tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới của xã.
- Tổng nguồn vốn thực hiện.
2.3.2.3 Tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Lạc Đạo trong giai
đoạn tới
- Thực hiện các tiêu chí chưa đạt.
- Giữ vững và phát triển các tiêu chí đã đạt.
2.3.2.4 Giải pháp thực hiện
- Giải pháp tuyên truyền;
- Giải pháp vốn đầu tư;
- Giải pháp về khoa học công nghệ và môi trường;
- Giải pháp về nguồn nhân lực.
2.3.2.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn xã
- Giải pháp thực hiện quy hoạch;
- Giải pháp về phát triển sản xuất;
- Giải pháp về tổ chức sản xuất;
- Giải pháp củng cố nâng cao chất lượng, vai trò của các tổ chức trong hệ thống
23
23

24
- Tổng hợp hệ thống hoá các tài liệu nghiên cứu, phân tích tài liệu qua phân tích mức
độ của hiện tượng, phân tích tình hình biến động và mối liên hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa
các hiện tượng.
- Phương pháp này áp dụng trong việc phân tích, đánh giá số liệu thể hiện trên bảng
qua quá trình xử lý số liệu trên Exel để đưa ra những nhận xét, đánh giá.
2.4.4 Phương pháp so sánh
Phương pháp này dùng để so sánh tính phù hợp của các tiêu chí nông thôn mới
của Trung ương, của tỉnh Hưng Yên với xã Lạc Đạo để từ đó có những đề xuất những
tiêu chí nông thôn mới phù hợp với địa bàn huyện.
Phương pháp này thực hiện thông qua phân tích các kinh nghiệm, bài học của
các mô hình, chương trình phát triển nông thôn cấp cơ sở của các nước và của Việt
Nam để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng nông thôn mới
của xã Lạc Đạo.
2.4.5 Phương pháp minh họa bản đồ
Một trong các hình thức trình bày là sử dụng phương pháp minh hoạ trên bản
đồ. Các đối tượng được biểu diễn trên Bản đồ hiện trạng tổng hợp năm 2013 xã Lạc
Đạo và Bản đồ định hướng quy hoạch phát triển không gian xã nông thôn mới xã Lạc
Đạo, thể hiện cụ thể các yếu tố về vị trí phân bố, diện tích…Phương pháp minh hoạ
bằng bản đồ có sử dụng các phần mềm chuyên dụng làm bản đồ Microstation và một
số ứng dụng khác có liên quan.
Các số liệu sau khi thu thập, điều tra được tiến hành xử lý, tổng hợp, phân tích
một cách chính xác. Sử dụng các phần mềm máy tính (Excell…).
2.4.6. Phương pháp dự báo
Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật biến động sản lượng cây trồng, số lượng
gia súc gia cầm và căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã trong
tương lai để lập bảng dự báo sản lượng cây trồng và số lượng gia súc gia cầm của xã
trong tương lai.
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status