MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
2.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.2 Phạm vi nghiên cứu 17
2.3. Địa điểm nghiên cứu 18
2.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
3.1. Đặc trưng về tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu 25
3.4 Tác động và tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với xã Y Can 57
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
BĐKH Climate Change Biến đổi khí hậu
Bộ NN &
PTNT
Ministry of Agriculture and Rural
Development
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
CBA Community Based Approach Tiếp cận dựa vào cộng đồng
COP Conference of the Parties
Hội nghị cấp cao Liên hợp quốc về biến
đổi khí hậu
ĐDSH Biodiversity Đa dạng sinh học
IPCC
Intergovernmental Panel on
Climate Change
Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí
hậu
IUCN
International Union for
Conservation of Nature
Tổ chức Khí tượng Thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức to lớn với nhân loại và
Việt Nam trong thế kỷ 21. Việt Nam được nhận diện là một trong năm quốc gia chịu
tác động nặng nề nhất của nước biển dâng và là một trong những quốc gia bị ảnh
hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH (WB, 2007). Trong 10 năm gần đây (1997 - 2006), các
loại thiên tai như: bão, lũ, hạn hán và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về
người và tài sản, đã làm chết và mất tích gần 7.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản
ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP. Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả
về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường (Quyết định
của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia phòng, chống và
giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020, 2007).
Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện
hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ
2
và sự phát triển bền vững của đất nước. Các lĩnh vực, ngành, địa phương dễ bị tổn
thương và chịu tác động mạnh mẽ nhất của BĐKH là: tài nguyên nước, nông nghiệp
và an ninh lương thực, sức khoẻ (Bộ Tài nguyên và Môi Trường, 2008).
Báo cáo Phát triển Con người của UNDP năm 2007/2008 đã chỉ ra rằng thiên
tai là một nguyên nhân chính gây ra đói nghèo và tính dễ bị tổn thương tại Việt Nam.
Hầu hết những người nghèo sống tại nông thôn và kiếm sống bằng các hoạt động nông
– lâm nghiệp. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp với 75% dân số là
nông dân và 70% diện tích đất đai là nông thôn, nơi đời sống của người dân phụ thuộc
rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên và điều kiện tự nhiên. Hơn nữa, sản xuất nông
nghiệp ở Việt Nam vẫn là sản xuất qui mô nhỏ với đầu tư khoa học công nghệ không
đáng kể. Điều đó có nghĩa là sản xuất nông nghiệp vẫn còn quá lệ thuộc vào điều kiện
thiên nhiên. Đây là một thách thức rất lớn trong bối cảnh BĐKH vì bất kỳ sự thay đổi
nhiệt độ nào hay sự bất thường của thời tiết khí hậu đều sẽ có tác động lớn đến sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với gieo trồng. Sự bất thường của chu kỳ khí hậu nông
người Kinh và người dân tộc thiểu số sinh sống. Sinh kế của người dân chủ yếu từ
nông lâm nghiệp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Nơi đây thường đối mặt với các loại
thiên tai như: lũ sông, lũ suối, lũ quét, rét đậm, rét hại và hạn hán ảnh hưởng lớn đến
sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của người dân.
Nhằm đánh giá tác động của BĐKH và năng lực ứng phó của cộng đồng, từ đó
khuyến nghị các biện pháp ứng phó sao cho phù hợp cho xã Y Can, huyện Trấn Yên
và vùng Tây Bắc, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH và năng
lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.” cho
luận văn tốt nghiệp.
Hơn nữa trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, thu thập tài liệu,
thông tin, lập kế hoạch thực hiện, phân tích số liệu, viết luận văn là một quá trình học
hỏi từ thực tế sau khi tôi đã được trang bị các kiến thức trên lớp. Đây là quá trình tự
học hỏi, học hỏi thông qua trải nghiệm, học hỏi từ nhiều kênh khác nhau, từ những
người dân địa phương đến các cán bộ trực tiếp làm việc. Là cơ hội tốt để tôi củng cố
thêm những kiến thức về BĐKH.
2. Mục tiêu nghiên cứu
• Đánh giá được tác động của BĐKH đến tự nhiên, KT-XH, đặc biệt là sinh kế tại
xã Y Can.
• Đánh giá được năng lực ứng phó của cộng đồng miền núi xã Y Can đối với các
tác động của BĐKH.
4
• Đề xuất được các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao tính chống chịu của cộng
đồng với BĐKH.
3. Câu hỏi nghiên cứu
• Những đặc trưng về tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương có liên quan đến
BĐKH là gì?
• Các yếu tố thời tiết, khí hậu diễn biến như thế nào tại địa phương trong quá
khứ, hiện nay và trong tương lai?
• Tác động của BĐKH đến đời sống, xã hội, sức khỏe và sinh kế của cộng đồng
Y Can như thế nào?
cứu, các phát hiện trong quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó là các bàn luận, thảo luận,
nhận định, đánh giá về các phát hiện.
Kết luận và khuyến nghị. Đây là phần tóm tắt từ kết quả nghiên cứu. Xem xét
mục tiêu nghiên cứu có đạt hay không? Các câu hỏi nghiên cứu đã được trả lời chưa?
Giả thuyết nghiên cứu đã đáp ứng chưa? Từ kết quả nghiên cứu đưa ra các kết luận,
nhận định ngắn gọn của nghiên cứu. Từ đó đưa ra một vài khuyến nghị cho địa
phương và các bên liên quan nghiên cứu này.
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm
BĐKH: Biến đổi khí hậu là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có
thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của
nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động
thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần
cấu tạo của khí quyển (IPCC, 2007).
Ứng phó với BĐKH: Là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm
nhẹ BĐKH. Như vậy, ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với
BĐKH và giảm nhẹ BĐKH (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí
6
nhà kính (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với
hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao
động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008).
Thích ứng và giảm nhẹ BĐKH đóng vai trò quan trọng và là nền tảng cơ bản để
giải quyết các vấn đề của BĐKH. Các khái niệm về thích ứng và giảm nhẹ BĐKH cho
thấy giảm nhẹ BĐKH sẽ giảm tất cả các tác động (tích cực và tiêu cực) của BĐKH và do
đó giảm các cơ hội thích ứng; trong khi đó thích ứng BĐKH có thể phát huy các tác động
- Thể chế
QUY TRÌNH THỰC HIỆN
CHIẾN
LƯỢC
SINH KẾ
KẾT QUẢ
SINH KẾ
- Tăng thu nhập
- Tăng mức
sống
- Giảm tình
trạng dễ bị tổn
thương
- Cải thiện an
ninh lương thực
- Tăng tính bền
vững khi sử
dụng nguồn tài
nguyên thiên
nhiên
H
S
P
F
N
H: Nguồn vốn con người (Human Capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial Capital)
N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural Capital) P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital)
S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital)
(Nguồn DFID, 2007)
Hình 1.1: Khung sinh kế bền vững của DFID
trên quy mô toàn cầu, về logic, việc nghiên cứu BĐKH cần phải được thực hiện một
cách tuần tự theo các bước trên (Trương Quang Học, 2007, 2011a).
Ở quy mô đề tài này cần xem xét, nghiên cứu đến các lĩnh vực mà đã và đang
chịu tác động của BĐKH đó là về nông nghiệp, lâm nghiệp, sức khỏe, tự nhiên, xã hội,
thể chế, chính sách và các mặt của đời sống. Ngoài ra khi nghiên cứu cho xã Y Can
không chỉ nghiên cứu ở quy mô trong xã mà xem xét đến các cấp cao hơn như cấp
huyện và cấp tỉnh.
1.1.3 Khung lý thuyết nghiên cứu
Khung lý thuyết là mô tả những vấn đề chính được nghiên cứu trong luận văn,
sơ đồ hóa các vấn đề nghiên cứu (hình 1.2).
Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu này đánh giá chủ yếu tác động của BĐKH và năng lực của cộng
đồng trong ứng phó BĐKH. Đánh giá giá tác động của BĐKH trong quá khứ, hiện tại
và tương lai. Đánh giá các lĩnh vực chính mà BĐKH tác động đến, các khu vực bị tác
động như thế nào. Đánh giá năng lực cộng đồng bao gồm đánh giá 6 nguồn lực cộng
đồng, cơ cấu tổ chức, thể chế chính sách, kiến thức bản địa, Kế hoạch phát triển kinh
9
tế xã hội 5 năm (2015-2020), các hỗ trợ từ bên ngoài. Từ đó đề xuất các giải pháp ứng
phó với BĐKH cho địa phương.
Trong các đánh giá này áp dụng đồng thời hai cách tiếp cận đó là cách tiếp cận
từ dưới lên và từ trên xuống. Cách tiếp cận từ trên xuống là sử dụng các kết quả
nghiên cứu, các phương pháp của các nhà khoa học, các số liệu quan trắc và các kịch
bản BĐKH. Cách tiếp cận từ dưới lên chủ yếu sử dụng các công cụ PRA để thu thập
thông tin cả định lượng và tính từ người dân và cán bộ địa phương.
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.2.1. Nghiên cứu trên thế giới
BĐKH đã được nhà khoa học Arrhenius người Thụy Điển, đề cập đến lần đầu
tiên vào năm 1896. Ông cho rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ dẫn đến khả
năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu. Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu
tăng lên, các nghiên cứu về hiện tượng nóng lên toàn cầu được các nhà khoa học bắt
hại do BĐKH gây ra cho toàn thế giới ước tính khoảng 7.000 tỉ USD; nếu chúng ta
không làm gì để ứng phó thì thiệt hại mỗi năm sẽ chiếm khoảng 5 - 20% tổng sản phẩm
nội địa (GDP), còn nếu chúng ta có những ứng phó tích cực để ổn định KNK ở mức 550
ppm tới năm 2030 thì chi phí chỉ còn khoảng 1% GDP (Nicholas Stern, 2007).
Trong phạm vi các nước Đông Nam Á, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
được công bố. Năm 2010, Phan Văn Tân và một số tác giả đã nghiên cứu xu thế giáng
thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái
Bình Dương. Kết quả cho thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) nhìn
chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á. Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các
nước khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1950 đến 2000, đã chỉ ra rằng số ngày ẩm
ướt (ngày có giáng thủy trên 1mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nước này, trong khi
đó cường độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ướt lại có xu thế tăng lên. Số
ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hưởng bởi
giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông. Sự giảm hiện tượng mưa trong thời kỳ
mùa khô cũng được tìm thấy ở Myanma.
Một nghiên cứu của Badjeck và cộng sự năm 2010 ở Bangladesh về tác động
của những dao động và thay đổi khí hậu đến sinh kế dựa vào thủy sản cho biết, sự ấm
lên toàn cầu ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh lương thực, đe dọa sinh kế của 36 triệu
ngư dân và ảnh hưởng đến gần 1,5 tỷ người tiêu dùng thủy sản trên thế giới. Và để ứng
phó với BĐKH thì cần chú ý: (i) cung cấp trước thông tin dự báo về BĐKH hỗ trợ cho
lập kế hoạch ứng phó; (ii) cần công nhận và tận dụng các cơ hội có lợi từ BĐKH đối
với ngành thủy sản, (iii) các chiến lược thích ứng với BĐKH cần được thiết kế trên
quan điểm đa ngành, liên ngành, và (iv) phải ghi nhận những đóng góp tiềm năng của
thủy sản trong các nỗ lực giảm nhẹ (Badjeck et al., 2010).
1.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
11
Ở Việt Nam đã có nhiều các nghiên cứu đánh giá tác động BĐKH, đánh giá tác
động của thiên tai. Với vùng miền núi Tây bắc nước ta cũng đã có các nghiên cứu cụ
thể trong Báo cáo “Phát triển bền vững miền núi Việt Nam – mười năm nhìn lại và các
vấn đề đặt ra” của Trung Tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường – Đại học quốc
gần nửa thế kỷ qua; 2) Đã lựa chọn và ứng dụng các mô hình thống kê thích hợp vào
dự báo mùa một số yếu tố và hiện tượng khí hậu cực đoan và thử nghiệm, đánh giá khả
năng áp dụng cho Việt Nam; 3) Đã lựa chọn và thử nghiệm ứng dụng các mô hình khí
hậu khu vực thích hợp có khả năng mô phỏng các trường khí hậu cơ bản và các yếu tố,
hiện tượng khí hậu cực đoan ở Việt Nam; 4) Đã thử nghiệm ứng dụng các mô hình khí
hậu toàn cầu kết hợp khí quyển – đại dương và các mô hình khu vực để dự báo mùa và
xây dựng qui trình dự báo mùa các trường khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan
ở Việt Nam; 5) Đã dự tính được sự biến đổi của các điều kiện khí hậu cực đoan trong
tương lai ở Việt Nam bằng các mô hình khí hậu khu vực dựa theo các kịch bản biến
đổi khí hậu; và 6) Đã đề xuất được một số giải pháp chiến lược ứng phó với các hiện
tượng khí hậu cực đoan cho một số lĩnh vực và vùng địa lí trên lãnh thổ Việt Nam
(Phan Văn Tân, 2010).
Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN) đã thực hiện rất
nhiều các công trình, dự án liên quan đến BĐKH, như: Dự án “UNDP/UNITAR/GEF -
CC: TRAIN (giai đoạn 1)” (1994-1996) với mục tiêu là giúp các nước xây dựng chính
sách về BĐKH để thực hiện UNFCCC; Dự án “Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với
chi phí thấp nhất ở châu Á” (ALGAS) (1995-1997); Dự án “Kinh tế trong hạn chế phát
thải khí nhà kính, Pha 1: Xây dựng phương pháp luận cho việc đánh giá giảm nhẹ
BĐKH” 1999. Năm 2011 được sự tài trợ của Chương trình phát triển liên Hợp Quốc
(UNDP), Viện đã thực hiện nghiên cứu và xây dựng tài liệu hướng dẫn “Đánh giá tác
động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng”. Ngoài ra Viện được Bộ TN &
MT giao cho nhiều nhiệm vụ về nghiên cứu có liên quan đến BĐKH, Viện được giao
nhiệm vụ xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam (2009) và kịch bản cập nhật (2012).
Các tổ chức phi chính phủ Quốc tế và trong nước cũng đã có nhiều nghiên cứu
về BĐKH, đặc biệt là có nhiều các nghiên cứu về đánh giá tác động của BĐKH. Trong
các nghiên cứu về BĐKH chủ yếu cho các vùng ven biển nhằm đánh giá tác động của
nước biển dâng, sự xâm nhập mặn. Các nghiên cứu tác động của BĐKH cho các lĩnh
vực cũng được tiến hành trong đó lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, tài nguyên nước
là được nghiên cứu nhiều, trong đó lĩnh vực về sinh kế của người dân được tập trung
nghiên cứu. Các tổ chức có nhiều nghiên cứu về BĐKH đó là CARE, Oxfam, Plan
giả Ngô Đức Thành và Phan Văn Tân, Đại
học quốc gia Hà nội đăng trên Tạp chí khoa
học số 3S, 2012 về kết quả Kiểm nghiệm phi
14
Hình 1.2: Xu thế nhiệt độ 2m
tham số xu thế biến đổi của một số yếu tố khí tượng cho giai đoạn 1961-2007. Báo cáo
kết luận xu thế biến đổi của 7 yếu tố khí tượng trên lãnh thổ Việt Nam được đánh giá
cho giai đoạn 1961-2007 khi sử dụng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Mann-
Kendall và phương pháp ước lượng xu thế của Sen. Kết quả cho thấy nhiệt độ tăng rõ
rệt trên toàn Việt Nam, trong đó nhiệt độ cực tiểu tăng nhanh hơn nhiệt độ cực đại
ngày, đặc biệt trên khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Lượng mưa giảm ở phía
Bắc vĩ tuyến 17 và tăng lên ở phía Nam. Tốc độ gió cực đại ngày thể hiện xu thể giảm
khá rõ, đặc biệt là ở khu vực Nam Trung Bộ. Sự biến đổi của độ ẩm tương đối cực tiểu
ngày không thể hiện rõ qui luật, trong khi đó lượng bốc hơi tiềm năng có xu thế biến
đổi rõ rệt, với mức tăng, giảm phụ thuộc vào từng vùng cụ thể. Kết quả nghiên cứu cụ
thể như sau:
- Về nhiệt độ: Trên toàn Việt Nam, T2m tăng rõ rệt trên hầu khắp các trạm.
Mức tăng cao (~0.035ºC/năm) được xác định cho khu vực miền Trung và một số trạm
thuộc vùng Bắc Bộ. Mức tăng phổ biến vào khoảng 0.015-0.025ºC/năm. Một số trạm
thể hiện xu thế nhiệt độ tăng nhưng giá trị tương đối nhỏ như trạm Hà Nam, Đà Lạt,
Bảo Lộc, Phan Thiết (~0.012ºC/năm). Một số trạm khác tuy cho xu thế tăng nhưng
không thoả mãn mức ý nghĩa 10% là Sapa, Bắc Quang, Thái Bình, Hà Tĩnh, Trường Sa.
Trạm Huế cho xu thế giảm, tuy nhiên lại không thoả mãn mức ý nghĩa 10% (hình 1.2).
- Về lượng mưa: Có thể thấy không giống như nhiệt độ, xu thế của lượng mưa
biến động khá mạnh theo không gian. Nhìn chung, khu vực phía Bắc giảm mưa trong
khi khu vực từ Trung Trung Bộ (khoảng vĩ tuyến 17) trở vào lượng mưa có xu hướng
tăng. Điều này phù hợp với các nhận
định từ các nghiên cứu trước đây. Một
điểm đáng lưu ý là xu thế giảm mưa từ
Bắc Trung Bộ trở ra nhìn chung là nhỏ
kinh tế xã hội của chính quyền địa phương và các ngành, lĩnh vực.
16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, ĐỊA ĐIỂM, PHƯƠNG PHÁP
LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tác động của BĐKH đến các lĩnh vực (sinh kế, sức khỏe, nguồn nước), vùng
cảnh quan (núi cao, núi thấp, ven sông Hồng).
- Năng lực của cộng đồng xã Y Can trong ứng phó với BĐKH.
- Các biện giải pháp ứng phó của cộng đồng với BĐKH.
2.2 Phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Phạm vi thời gian
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014. Các
số liệu về nhiệt độ và lượng mưa được hồi cứu trong giai đoạn 1982 đến năm 2012.
Ngoài ra các thông tin thu thập thông qua các công cụ đánh giá nông thôn có sự
tham gia (PRA) như hồ sơ lịch sử thiên tai, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, quan sát
thực địa được thực hiện với những người cao tuổi nắm được các thiên tai đã từng diễn
ra tại địa phương.
2.2.2 Phạm vi không gian
Nghiên cứu chủ yếu được thực hiện tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên
Bái. Các số liệu về khí nhiệt độ và lượng mưa được thu thập tại trạm Khí tượng Thủy
văn gần nhất đó là Trạm khí tượng thủy văn Yên Bái.
Ngoài ra các cán bộ có liên quan về thiên tai và BĐKH của huyện, lãnh đạo
UBND huyện cũng đã được phỏng vấn sâu. Kịch bản BĐKH của tỉnh Yên Bái và của
Việt nam cũng được sử dụng trong nghiên cứu này.
17
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Ngoài ra,
còn thu thập các thông tin từ cấp huyện thông qua phỏng vấn và thảo luận nhóm với
cán bộ huyện.
2.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
tác động bất lợi từ BĐKH. Mục đích của EBA là tăng cường sức chống chịu và khả
năng phục hồi của các cộng đồng dân cư cũng như các hệ sinh thái thông qua các hoạt
động cụ thể như quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý tổng hợp vùng đầu
nguồn… nhằm duy trì và khôi phục tính toàn vẹn các hệ sinh thái và các lợi ích mà hệ
sinh thái mang lại (Trương Quang Học, 2008a, b; WB, 2010).
Ở Việt Nam, cách tiếp cận dựa trên HST được bắt đầu nghiên cứu và triển khai
khá sớm trong quản lý tài nguyên; và hiện nay đang là cách tiếp cận được thử nghiệm
trong nhiều chương trình, dự án thích ứng với BĐKH. Tính chống chịu và thích ứng
với BĐKH, đây đó đã được xây dựng nhưng mới chỉ giới hạn ở từng khía cạnh, từng
bộ phận, từng hợp phần của các hệ thống, mà chưa có cách nhìn và cách làm tổng thể,
liên ngành cho toàn hệ thống và ở các cấp. Trong tương lai, chúng ta cần tiếp tục xây
dựng cơ sở khoa học và quy trình kỹ thuật hướng dẫn triển khai cách tiếp cận hệ sinh
thái trong thực tế cho từng lĩnh vực, cho từng cấp và tổng thể cho phát triển bền vững
của đất nước (Trương Quang Học, 2013).
2.4.1.2 Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng
BĐKH vừa mang tính toàn cầu lại vừa mang tính đặc thù cho từng vùng, miền,
địa phương mà cộng đồng dân cư là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
của BĐKH tại đó. Theo các chuyên gia, cộng đồng có vai trò chủ chốt trong thích ứng
và ứng phó với BKH. Cách tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) là phương pháp bền
vững. Tiếp cận dựa vào cộn đồng dựa trên nguyên tắc “Thực hiện từ cộng đồng, dựa
vào cộng đồng và làm lợi cho cộng đồng” nhằm nâng cao tính chủ động, tích cực của
người dân vào các giải pháp ứng phó với thiên tai và BĐKH. Cách tiếp cận dựa vào
cộng đồng tạo ra sự linh hoạt, nhạy bén trong thích ứng với BĐKH, tận dụng lực
lượng đông đảo cũng như huy động phương tiện sẵn có trong cộng đồng. Thích ứng
với BĐKH là việc làm cấp bách và có ý nghĩa, nhưng không dễ dàng, đòi hỏi sự tham
19
gia của cộng đồng để có thành công nhanh và hiệu quả hơn. Chính vì vậy, việc nâng
cao nhận thức của cộng đồng và các biện pháp ứng phó với BĐKH cần được thực hiện
rộng rãi hơn, thường xuyên hơn. Có như vậy, người dân mới hiểu và có những phản
ứng chủ động, có khoa học trước BĐKH.
Các chính sách và Chương trình quốc gia về ứng phó với BĐKH, Chiến lược
quốc gia về phòng tránh thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan đến năm 2020.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện còn tham khảo các thông tin, tài liệu trên mạng
internet, sách, báo, truyền hình tỉnh Yên Bái, các báo cáo hội nghị khoa học, hội thảo,
kỷ yếu hội thảo quốc gia về nâng cao sức chống chịu trước BĐKH v.v…Kết quả thử
nghiệm các mô hình sinh kế tại địa phương.
Các tài liệu sau khi thu thập được phân tích, tổng hợp, lưu trữ có hệ thống để tiện
cho việc sử dụng. Các thông tin trước khi sử dụng cho nghiên cứu được xem xét và có
sự đối chiếu, tham khảo từ nhiều tài liệu khác nhau để đảm bảo độ tin cậy cao.
2.4.2.2. Phương pháp điều tra, thu thập thông tin bổ sung tại thực địa
Quá trình nghiên cứu điều tra, khảo sát tại thực địa được tổ chức thành các đợt
với các đối tượng khác nhau. Các đợt khảo sát được tiến hành theo kế hoạch lập trước,
lần lượt từ cấp xã sau đó đến các thôn bản.
Các công cụ PRA được sử dụng chính để thu thập thông tin tại thực địa. Các
thông tin cần thu thập được chuẩn bị trước thông qua các phiếu điều tra, phiếu phỏng
vấn, câu hỏi định hướng trong thảo luận nhóm. Các công cụ sử dụng có hướng dẫn cụ
thể. Trước khi đưa vào sử dụng chính thức các phiếu điều tra, câu hỏi phỏng vấn được
thử trước, sau đó được chỉnh sửa sao cho câu, chữ đơn giản, phù hợp với bối cảnh địa
phương và sự hiểu biết người dân.
Trong quá trình thu thập thông tin, số liệu luôn luôn kết hợp với quan sát thực
địa, kiểm tra tính xác thực của thông tin, đối chiếu những số liệu sẵn có với thực tế khu
vực nghiên cứu. Để chứng minh cho các thông tin, số liệu trong quá trình thu thập thông
tin có chụp lại ảnh quá trình nghiên cứu cũng như ảnh minh họa thông tin và kết quả.
Sau khi các thông tin số liệu thu thập được rà soát, phân tích, đối chiếu với yêu
cầu, nếu còn thiếu hay chưa chính xác, tiến hành phỏng vấn và thảo luận nhóm bổ sung.
Bên cạnh đó tác giả còn tham gia một số hội thảo, thăm các mô hình sinh kế tại
địa phương, cùng với địa phương đánh giá tính phù hợp, khả năng áp dụng của các mô
hình sinh kế cũng như các phương pháp nâng cao nhận thức cộng đồng về BĐKH.
2.4.2.3. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
21
và môi trường huyện, Phó phòng tài chính kế hoạch huyện, Phó chủ tịch UBND
22
huyện). Ngoài ra còn phỏng vấn một số người cao tuổi trong xã để tìm hiểu về thông
tin lịch sử thiên tai, các câu chuyện về thiên tai.
Đã điều tra 276 hộ/12 thôn và tổ chức 3 cuộc thảo luận nhóm bổ sung để tìm hiểu
sâu hơn, kiểm tra chéo thông tin về thiên tai, BĐKH. Tìm hiểu về vai trò của chính quyền
và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn trong việc hỗ trợ người dân ứng phó với thiên tai,
BĐKH. Kết hợp với với quan sát hiện trường để phân tích, tìm hiểu và đánh giá vấn đề
nghiên cứu.
2.4.2.4. Phương pháp phân tích thông tin
• Phương pháp phân tích bằng công cụ PRA (điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội
- thách thức (SWOT))
Tại các thôn cũng như cấp xã các thảo luận nhóm đã được tiến hành, người dân và
cán bộ xã cùng phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của cộng đồng
trong bối cảnh BĐKH. Từ đó, xây dựng các biện pháp thích ứng dựa trên kinh nghiệm
và nguồn lực sẵn có của cộng đồng. Phương pháp này cũng được sử dụng với lãnh đạo
và đại diện các ban ngành cấp huyện nhằm có được những thông tin đa chiều và sự
đồng thuận của các cấp trong ứng phó với BĐKH.
• Phương pháp kiểm chứng thông tin
Trong quá trình thu thập thông tin và phân tích thông tin luôn sử dụng các phương
pháp kiểm tra chéo để kiểm chứng tính chính xác của thông tin. Kết hợp với các thông
tin thứ cấp trong các báo cáo, số liệu quan trắc từ Trạm khí tượng thủy văn và kết quả
điều tra, phỏng vấn. Các nội dung được phỏng vấn nhiều đối tượng ở các cương vị
khác nhau, nhằm tìm kiếm những bằng chứng khác nhau. Trong quá trình thảo luận
nhóm và phỏng vấn tuy đã có các câu hỏi định hướng để tránh sót thông tin, còn lưu ý
dùng các câu hỏi mở và câu hỏi sâu nhằm tìm hiểu sâu thông tin. Ngoài ra trong quá
trình thu thập thông tin kết hợp với quan sát và chụp ảnh lại, lưu lại thông tin trên giấy
A0 trong suốt quá trình thực hiện để phục vụ cho việc lưu giữ, phân tích thông tin đầy
đủ, chính xác.
Trong quá trình phân tích thông tin, có các thông tin chưa rõ hay chưa chắc
Xã Y Can