ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRẦN THỊ THANH HẢI NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU ĐẾN HỆ THỐNG CÁC CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HÀ NỘI – 2013
HÀ NỘI – 2013
LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
đến hệ thống các công trình hồ chứa tại tỉnh Thái Nguyên” đã được hoàn
thành tại Khoa Sau Đại Học – Đại Học Quốc Gia Hà Nội tháng 11 năm 2013.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình.
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Bảo
Thạnh và PGS. TS Trần Hồng Thái đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, bạn bè ở Trung
Tâm Tư vấn Khí tượng Thủy văn và Môi trường - Viện Khoa học Khí tượng
Thủy văn và Môi trường đã hỗ trợ chuyên môn, thu thập tài liệu liên quan để
luận văn được hoàn thành.
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Sau đại học – Đại học
Quốc gia Hà Nội và toàn thể các thầy cô đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho tác giả trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn.
Trong khuôn khổ một luận văn, do thời gian và điều kiện hạn chế nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các đồng nghiêp.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nôi, tháng 11 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Thanh Hải
1.4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội 11
1.5. ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ HIỆN TRẠNG CÁC CÔNG TRÌNH
THỦY LỢI TRÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
1.5.1. Đặc điểm tài nguyên nước 14
1.5.2. Hiện trạng hệ thống công trình thủy lợi 18
1.6. TỔNG QUAN CÁC TÁC ĐỘNG VÀ THIỆT HẠI DO THIÊN TAI LIÊN QUAN
ĐẾN CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA VÀ LƯU VỰC SÔNG CẦU Ở TỈNH THÁI
NGUYÊN 21
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH HỒ CHỨA
THỦY LỢI 24
2.1. BIỂU HIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ LỰA CHỌN KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU 24
2.1.1. Biểu hiện BĐKH ở tỉnh Thái Nguyên 24
2.1.2. Kịch bản biến đổi khí hậu 25
2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 27
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC i iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tần suất tổng lượng mưa năm 9
Bảng 1.2. Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm (
0
C) 11
Bảng 1.3. Lượng bốc hơi trung bình tháng và năm (mm) đo theo ống Piche 11
Bảng 1.4.Tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 (giá cố định 1994) 12
Bảng 1.5.Dân số trung bình phân theo giới tính ở tỉnh Thái Nguyên 13
Bảng 1.6. Đặc trưng hình thái các sông ở Thái Nguyên 14
Bảng 1.7. Lượng nước đến hàng năm trên các sông ởtỉnh Thái Nguyên 15
Bảng 1.8. Phân phối dòng chảy trung bình tháng tại các trạm (m
3
/s) 17
Bảng 2.9:Bộ thông số mô hình Mike Nam lưu vực sông Cầu 40
Bảng 2.10: Hệ số NASH (hiệu chỉnh và kiểm định) 41
Bảng 2.11. Độ thiếu hụt nước trung bình trong thời kỳ 1980 - 1999 52
Bảng 3.1. Độ thiếu hụt nước trung bình năm theo kịch bản A2 – phương án 1 58
Bảng 3.2. Độ thiếu hụt nước trung bình năm theo kịch bản B2 – phương án 1 60
Bảng 3.3. Độ thiếu hụt nước trung bình năm theo kịch bản B1 – phương án 1 61
Bảng 3.4. Độ thiếu hụt nước trung bình năm theo kịch bản A2 – phương án II 65
Bảng 3.5. Độ thiếu hụt nước trung bình theo kịch bản B2 – phương án II 66
Bảng 3.6. Độ thiếu hụt nước trung bình năm theo kịch bản B1 – phương án II 67
Bảng 3.7. Thông số thiết kế của hồ Núi Cốc 71
Bảng 3.8. Dung tích nướccần trữ cho mùa cạn của hồ Núi Cốc theo các kịch bản BĐKH 72
Bảng 3.9. Dung tích tích lũ trong 3 tháng của hồ Núi Cốc theo kịch bản BĐKH 73
Bảng 3.10. Thông số thiết kế dự kiến của hồ Văn Lăng 73
iv
Bảng 3.11. Dung tích trữ nước tháng kiệt nhất tại hồ Văn Lăngtheo các kịch bản BĐKH 74
Bảng 3.12. Dung tích trữ nước theo các kịch bản BĐKH tại hồ Văn Lăng vào mùa lũ theo chu
Hình 2.5. Sơ đồ khung đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước và hệ thống công
trình hồ chứa cho vùng nghiên cứu 29
Hình 2.6. Sơ đồ phân vùng khu cân bằng nước lưu vực sông Cầu 31
Hình 2.7. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước trung bình năm trên LVS Cầu theo kịch bản BĐKH
– Phương án I 36
Hình 2.8. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước trung bình năm trên LVS Cầu theo kịch bản BĐKH
– Phương án II 36
Hình 2.9. Kết quả hiệu chỉnh tại trạm Thác Bưởi (hệ số Nash = 0.91) 42
Hình 2.10. Kết quả kiểm định tại trạm Thác Bưởi (hệ số Nash = 0.85) 42
Hình 2.11. Khái niệm của Mike Basin về lập mô hình phân bổ nước 46
Hình 2.12. Sơ đồ hóa mô hình lưu vực sông trong Mike Basin 47
Hình 2.13. Sơ đồ các nút tính toán cân bằng nước lưu vực sông Cầu 49
Hình 2.14. Sơ đồ tính toán cân bằng nước lưu vực sông Cầu 50
Hình 2.15.Kết quả hiệu chỉnh mô hình tại trạm Thác Bưởi 51
Hình 2.16.Kết quả kiểm định mô hình tại trạm Thác Bưởi 51
Hình 2.17. Sơ đồ phân vùng thiếu nước ở lưu vực sông Cầu giai đoạn 1980 - 1999 53
Hình 3.1. Xu thế lưu lượng trung bình năm tại một số trạm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên –
STT Từ viết tắt Dịch nghĩa
1 BĐKH Biến đổi khí hậu
2 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
3 COP Hội nghị Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu
4 GDP
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic
Product)
5 IPCC
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)
6 KH KTTV&MT Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
7 KNK Khí nhà kính
8 KTXH Kinh tế xã hội
9 LVS Lưu vực sông
10 nnk Nhiều người khác
11 PA Phương án
12 PTBV Phát triển bền vững
13 TNMT Tài nguyên và Môi trường
14 TNN Tài nguyên nước
15 TTDBKTTV TƯ
Trung tâm Dự báo KTTV Khí tưtâm Dự báo
Trung ương
16 UNFCCC
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi
khí hậu
1
MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH), biểu hiện ở xu thế nóng lên của nhiệt độ toàn cầu và
mực nước biển dâng, các thiên tai hiện hữu gia tăng với tính chất cực đoan hơn được
minh chứng từ các số liệu đo đạc thực tế và những kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài
TỔNG QUAN
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Biến đổi khí hậu (Climate Change), theo IPCC (2007), là sự biến đổi về trạng
thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến
động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng
thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí
hậu hoặc do tác động thường xuyên của con người, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính
làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển.
Kịch bản Biến đổi khí hậu (Scenario), theo IPCC, kịch bản BĐKH là bức tranh
toàn cảnh của khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp các mối quan hệ khí hậu,
được xây dựng để sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của BĐKH do con người
gây ra và thường được dùng như là đầu vào cho các quy mô đánh giá tác động.
Tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại
hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thương không chỉ phụ thuộc vào độ
nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều
kiện khí hậu mới [IPCC,1996].
Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response) là các hoạt động của con người nhằm
thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Như vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính
là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH. Thích ứng (adaptation) với BĐKH là sự
điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT - XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay
đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và BĐKH hiện hữu
hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Giảm nhẹ (mitigation) BĐKH là
các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính.
Xây dựng năng lực (capacity building) trong bối cảnh BĐKH là quá trình phát
triển các kỹ năng công nghệ và những năng lực thể chế ở các nước đang phát triển và
các nền kinh tế chuyển đổi để giúp họ có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực: thích
ứng, giảm nhẹ và nghiên cứu về BĐKH nhằm thực hiện Công ước Khung của Liên
Hợp Quốc về BĐKH và Nghị định thư Kyoto.
Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu: là nghiên cứu xác định các ảnh hưởng
của BĐKH lên môi trường và các hoạt động kinh tế xã hội của địa phương. Ngoài các
thống các công trình thủy lợi (công trình hồ chứa) cho một khu vực thuộc vùng trung
du miền núi phía Bắc, cụ thể là tỉnh Thái Nguyên.
Do vị trí địa lý của một tỉnh nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ và là cửa
ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng Trung du miền núi Bắc Bộ với vùng đồng bằng
Bắc Bộ nên hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh tương đối phát triển,
nhằm phục vụ cho công tác tưới tiêu và cấp nước cho các hoạt động sản xuất và sinh
hoạt. Tuy nhiên trong điều kiện BĐKH hiện nay đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực
đến hệ thống các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Theo số liệu của
Chi cục Quản lý Đê điều và Phòng chống lụt bão tỉnh, trong mùa mưa bão năm 2008
đã có 119 cầu cống bị hư hại và hàng trăm công trình thủy lợi bị hư hỏng, nhiều kênh
mương bị vùi lấp; năm 2006 lũ trên sông Cầu làm trôi 54 công trình và đập tạm bị trôi,
330m kênh mương bị hư hỏng và bồi lấp; đặc biệt trận lũ quét năm 1990 đã khiến cho
371 mương phai đập bị lũ cuốn trôi, 19 hồ đập nhỏ bị sạt lở, 2 trạm thủy điện nhỏ bị
vùi lấp, một tuyến đê bị sạt, có chỗ sâu tới 20m và hình thành lòng sông mới [Viện
Quy hoạch Thủy lợi, 2011].
BĐKH là vấn đề phức tạp bởi ảnh hưởng của nó to lớn và rộng khắp. Ứng phó
với BĐKH đòi hỏi sự phối hợp hành động và hợp tác của nhiều địa phương, nhiều
quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa Nhà nước và người dân.Quan điểm "ứng phó với
BĐKH được tiến hành trên nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm tính hệ thống,
tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng" đã được Chính phủ nước ta đưa vào
Chương trình mục tiêu ứng phó với BĐKH.Nhận thức được những ảnh hưởng, tác
động to lớn của BĐKH đến kinh tế xã hội và môi trường, trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên đã bước đầu thực hiện một số các nhiệm vụ/dự án nghiên cứu có liên quan đến
BĐKH và các tác động của BĐKH. Tuy nhiên, đây là một vấn đề còn tương đối mới
mẻ nên trên địa bàn tỉnh hiện mới chỉ có dự án “Xây dựng Kế hoạch hành động ứng
4
phó với BĐKH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên” thực hiện theo tinh thần của công văn
số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về
việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH đã hoàn thành.
Nhìn chung, đã có những nghiên cứu bước đầu về biểu hiện và tác động của
qua [Fu G. B., 2004] cho thấy kết quả rõ ràng của BĐKH: (1) dòng chảy của lưu vực
đã giảm ngay cả sau khi cho phép sử dụng con người, (2) lưu vực sông đã trở lên ấm
áp hơn với một sự gia tăng đáng kể trong nhiệt độ tối thiểu so với trung bình và nhiệt
độ tối đa, và (3) không thay đổi đáng kể trong xu hướng lượng mưa đã được quan sát.
Laboyrie (2010) trong công trình “Những biện pháp thích ứng với BĐKH ở Hà Lan”
để ứng phó và thích ứng với BĐKH đã đề xuất xây dựng hệ thống công trình chống lũ
Delta Work dọc bờ biển và cải tạo hệ thống đê.Báo cáo của Ngân hàng phát triển Châu
Á (2009) về đánh giá giữa chi phí kinh tế và lợi ích của các hành động thích ứng và
giảm thiểu tác động của BĐKH của 5 nước Indonesia, Philippines, Singapore,
5
Thailand, và Việt Nam; trong đó đặc biệt nhấn mạnh “BĐKH đã, đang và sẽ tác động
đến các điều kiện tự nhiên và nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội trong vùng Đông Nam Á,
trong đó có tài nguyên nước, cả về lượng và chất”. Một số các công trình nghiên cứu
về đánh giá tác động của BĐKH đến tài nguyên nước, dòng chảy và lưu vực sông ở
khu vực Đông Nam Á [Hoanh. C.T, 2003; H. Lauri, 2012] cho thấy: BĐKH có tác
động lớn đến sự thay đổi về tài nguyên nước của khu vực, gây ra sự biến đổi của chu
trình thủy văn khiến hạn hán và ngập lụt gia tăng, tạo ra áp lực đối với môi trường và
tài nguyên thiên nhiên.
Những nghiên cứu trên đều khẳng định: BĐKH “đã, đang và sẽ tác động đến
các điều kiện tự nhiên và nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội” (ADB, 2009), đặc biệt tài
nguyên nước.
1.3.2. Nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu về BĐKH ở Việt Nam đã được tiến hành từ những thập niên 90 của
thế kỷ XX. Năm 1992, các nhà khoa học đã thực hiện và công bố báo cáo “BĐKH và
tác động của chúng ở Việt Nam”. Từ năm 1994 đến 1998, Nguyễn Đức Ngữ và nnk.
đã hoàn thành kiểm kê quốc gia KNK đến năm 1993, xây dựng các phương án giảm
KNK ở Việt Nam, đánh giá tác động của BĐKH đến các lĩnh vực KT - XH, xây dựng
kịch bản BĐKH ở Việt Nam cho các năm 2020, 2050, 2070.
Về các nghiên cứu tác động của BĐKH đến TNN, ở Việt Nam đến nay đã có
nhiều công trình được công bố như các công trình: Môi trường, tài nguyên nước và
BĐKH lên TNN và các biện pháp thích ứng (Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và
Môi trường, 2011); Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến biến động tài
nguyên nước và vấn đề ngập lụt lưu vực các sông Nhuệ, sông Đáy trên địa bàn thành
phố Hà Nội (Nguyễn Thanh Sơn, 2012); Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
đến sự biến đổi tài nguyên nước Đồng bằng sông Cửu Long (Trần Hồng Thái, 2013).
Các công trình này cũng đã góp phần quan trọng trong nhiệm vụ nâng cao nhận thức
của cộng đồng về BĐKH, góp phần tích cực cho các nhà hoạch định chính sách xây
dựng các chương trình và kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH ở các cấp, ngành
liên quan.
Qua một số kết quả tổng hợp nêu trên cho thấy, ở Việt Nam các nghiên cứu về
vấn đề BĐKH có liên quan đến TNN đã và đang ngày càng được chú trọng nhiều hơn,
cả về quy mô và mức độ. Các công trình nghiên cứu có xu hướng tập trung và bám sát
tới từng LVS, vùng miền và địa phương. Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu này
cũng đã từng bước tiến hành đề xuất các giải pháp thích ứng với BĐKH. Tuy nhiên,
chưa có những nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá tác động của BĐKH đến các công
trình hồ chứa của Việt Nam nói chung và những khu vực, địa phương cụ thể nói riêng.
Mặc dù, ngành TNN và các công trình thủy lợi (hồ chứa) ở Việt Nam có mối quan hệ
đặc biệt khăng khít trong hoàn cảnh Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp chủ
đạo. Vì vậy, đây là một hướng nghiên cứu mới cần được nghiên cứu trong thời gian
tới.
1.4. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI VÙNG
NGHIÊN CỨU
1.4.1. Đặc điểm tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có
diện tích tự nhiên 3.562,82km
2
, chiếm 1,08% diện tích cả nước. Về mặt hành chính,
Tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị hành chính: Thành phố Thái Nguyên; Thị xã Sông
Công và 7 huyện: Phổ Yên, Phú Bình, Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Đại Từ, Phú
125m, ch yu phõn b phớa Bc ca tnh, kộo di t i T n nh Hoỏ.
Thái Nguyên
Lạng Sơn
Tuyên Quang
Bắc Giang
Bắc Kạn
Vĩnh Phúc
TP. Hà Nội
Võ Nhai
Đại Từ
Định Hoá
Đồng Hỷ
Phú Lơng
Phổ Yên
Phú Bình
TP. Thái Nguyên
TX. Sông Công
10620'0"E
10620'0"E
10610'0"E
10610'0"E
1060'0"E
1060'0"E
10550'0"E
10550'0"E
10540'0"E
10540'0"E
10530'0"E
10530'0"E
10520'0"E
tích địa hình núi thấp có lớp phủ rừng, nhưng hiện nay lớp phủ rừng đang bị suy giảm.
9
Nhóm cảnh quan địa hình nhân tác
Nhóm cảnh quan địa hình nhân tác ở Thái Nguyên chỉ có một kiểu là các hồ
chứa nhân tạo, trong đó các hồ lớn là hồ Núi Cốc, Khe Lạnh, Bảo Linh, Cây Si, Ghềnh
Chè. Hiện tại, trên địa bàn toàn tỉnh có khoảng trên 200 hồ chứa các loại với tổng diện
tích mặt nước gần 6.000 ha. Đây là điều kiện thuận lợi lớn cho tỉnh trong việc phát
triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, đồng thời là những địa điểm hấp dẫn đối với du
lịch sinh thái.
Như vậy, có thể thấy cảnh quan địa hình Thái Nguyên khá phong phú, đa dạng.
Do đó, muốn khai thác, sử dụng tốt lãnh thổ phải tính đến đặc tính của từng kiểu cảnh
quan, đặc biệt là các kiểu cảnh quan đồi núi, chiếm phần lớn diện tích của tỉnh (Hình
1.2).
c. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của Trung tâm tư
liệu Khí tượng Thuỷ văn, nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng nóng nhất
(28,9
0
C- tháng 6) với tháng lạnh nhất (15,2
0
C- tháng 1) là 13,7
0
C. Tổng số giờ nắng
trong năm dao động từ 1.300-1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng
trong năm. Tổng tích nhiệt độ vượt 7.500
0
C, thời kỳ lạnh (nhiệt độ trung bình tháng
dưới 18
0
X
P
%
50 75 85 90
1 Thái Nguyên 1960-2008 1940 0,18 0,55 2158 1907 1686 1579
10
Stt Tên trạm Thời đoạn
X
TB
(mm)
C
V
C
S
X
P
%
50 75 85 90
2 Võ Nhai 1961-2008 1663 0,33 -0,53 2057 1711 1322 1094
3 Đại Từ 1959-2008 1852 0,23 0,42 2119 1823 1553 1419
4 Định Hóa 1960-2008 1651 0,19 0,14 1853 1644 1441 1335
5 Phổ Yên 1960-2008 1587 0,20 0,68 1777 1551 1358 1267
6 Kỳ Phú 1960-2008 1959 0,29 0,12 2336 1947 1569 1370
[Nguồn: Viện quy hoạch thủy lợi, 2011]
(Ghi chú: X
TB
: mưa trung bình nhiều năm (mm), Cv: hệ số phân tán, Cs: hệ số
không đối xứng)
15,9 17,1 19,8 23,6 27 28,4 28,5 28,1 27 24,4 21 17,5 23,2
Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình tháng và trung bình năm của Thái Nguyên dao động
trong khoảng từ 700 – 1000mm, biên độ dao động giữa các tháng nhỏ hơn 50mm,
tháng có lượng bốc hơi lớn nhất thường xảy ra vào tháng 5, lượng bốc hơi nhỏ hơn
100mm.
Bảng 1.3. Lượng bốc hơi trung bình tháng và năm (mm) đo theo ống Piche
Trạm I II III IV V VI VII VIII
IX X XI XII Năm
Định Hóa 52,4
49,7
54,2
60,8
85,5
77,9
78,1
65,9
66,3
68,7
85,2
978,9Nhìn chung, điều kiện khí hậu của Thái Nguyên tương đối thuận lợi về các mặt
để có thể phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển các
ngành nông, lâm nghiệp nói chung. Tuy vậy, vào mùa mưa với lượng mưa tập trung
lớn thường xảy ra tai biến như sụt lở, trượt đất, lũ quét ở một số triền đồi núi và lũ lụt
ở khu vực trên lưu vực sông Cầu và sông Công.
1.4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
a. Kinh tế
Tổng sản phẩm trong tỉnh đạt 19.816,2 tỷ đồng; trong đó khu vực công nghiệp,
xây dựng chiếm 41,54%; khu vực dịch vụ chiếm 36,73%; khu vực nông lâm nghiệp và
thủy sản chiếm 21,73%. GDP bình quân đầu người tăng 3 triệu đồng/người so với năm
2009.
Nông nghiêp – lâm nghiệp và thủy sản:
Về sản xuất nông, lâm nghiệp: Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
năm 2010 đạt 2.470 tỷ đồng, tăng 6,5% so với năm 2009 (Bảng 1.4). Trong đó giá trị
12
sản xuất nông nghiệp là 2.341 tỷ đồng, tăng 4,5%; giá trị sản xuất ngành lâm
nghiệp 84,7 tỷ đồng, tăng 4,4%; giá trị sản xuất ngành thuỷ sản 44,5 tỷ đồng,
tăng 10,3% so với năm 2009. Tính chung cả năm 2010, tổng diện tích gieo trồng cây
hàng năm đạt 119,3 nghìn ha, tăng 1,66% (+1.948 ha) so với năm 2009. Trong đó, cây
lương thực có hạt là 89,8 nghìn ha; cây chất bột có củ 11,2 ha; cây công nghiệp hàng
năm 6,26 nghìn ha. Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 2010 đạt 449,55 nghìn
tấn, bằng 111,3% kế hoạch và tăng 8,3% (+34,6 nghìn tấn) so với năm 2009.
Bảng 1.4.Tăng trưởng ngành nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 (giá cố định 1994)
Đơn vị: Tr. đồng
Hạng mục 2000 2005 2009 2010
tỷ trọng cao nhất đạt 7.248,6 tỷ đồng (chiếm 63%) tăng 24,3% cùng kỳ.
Trong đó, ngành thương nghiệp thực hiện 10.309,4 tỷ đồng (chiếm 89,6%),
tăng 24,6% so với 2009; ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 747 tỷ đồng, tăng 17,2%
cùng kỳ; hoạt động du lịch lữhành đạt 24 tỷ đồng, tăng 35,4% cùng kỳ; nhóm dịch vụ
tiêu dùng còn lại đạt 422 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm trước
b. Xã hội
Năm 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.131.300 người, trong đó nam là
558.900 người chiếm 49,4% và nữ là 572.400 người chiếm 50,6%; tỉ số giới tính
nam/nữ là 97,6/100. So với cả nước, dân số tỉnh Thái Nguyên đứng thứ 33 và đứng thứ
3 các tỉnh trong vùng trung du và miền núi phía Bắc (sau tỉnh Bắc Giang và tỉnh Phú
Thọ). Dân số thành thị của tỉnh Thái Nguyên tại thời điểm tổng điều tra 2010 là
293.600 người (25,95%) và tổng dân cư nông thôn là 837.700 người (74,05%), là tỉnh
có tỷ lệ dân số thành thị cao thứ 22 so với cả nước và đứng đầu trong số các tỉnh trung
du và miền núi phía Bắc (Bảng 1.5).
Bảng 1.5.Dân số trung bình phân theo giới tính ở tỉnh Thái Nguyên
Đơn vị: Người
Năm Tổng số
Phân theo giới tính
Nam Nữ
1999 1.047.800 521.900 525.900
2000 1.055.535 525.857 529.678
2002 1.071.009 533.566 537.443
2004 1.089.011 544.289 544.722
2006 1.106.498 553.849 552.649
2008 1.120.311 558.431 561.880
2009 1.127.430 560.467 566.963
2010 1.131.300 558.900 572.400
Nguồn:[Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2011]
Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong thời kỳ giữa 2 cuộc tổng điều tra năm
Thái Nguyên có tiềm năng tài nguyên nước với 3 sông lớn là sông Cầu, sông
Công và sông Rong (thượng nguồn sông Thương) chảy qua; với 2.500 ha mặt nước hồ
Núi Cốc và hơn 3.000 ha mặt nước ao hồ. Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao
động giữa mùa mưa và mùa khô khá lớn. Mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng
10 trong năm nhưng diễn ra sớm hơn ở các nhánh thượng lưu và muộn hơn ở hạ lưu.
65% - 80% tổng lượng dòng chảy trong năm tập trung trong mùa lũ. Số liệu đặc trưng
hình thái các sông chính ở Thái Nguyên được thể hiện tại Bảng 1.6 và 1.7.
Bảng 1.6. Đặc trưng hình thái các sông ở Thái Nguyên
TT
Tên sông
Chiều
dài
(km)
Diện
tích
lưu
vực
(km
2
)
Độ cao
trung bình
lưu vực
(m)
Độ dốc
trung
bình
(%)
Hệ số
(km
2
)
Modun dòng
chảy năm
M
0
(l/s/km
2
)
Lưu lượng
bình quân
Q
0
(m
3
/s)
Tổng lượng
dòng chảy
W
0
(10
6
m
3
/năm)
1
Sông Công
tỷ m
3
. Dòng con sông này cung cấp nước tưới cho 24 nghìn ha lúa hai vụ của huyện
Phú Bình của Thái Nguyên và các huyện Hiệp Hoà, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang.
- Sông Công
Sông Công là một phụ lưu cấp I của sông Cầu, có diện tích lưu vực 951 km
2
,
bắt nguồn từ vùng núi Ba Lá huyện Định Hoá, chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm
trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên. Toàn bộ chiều dài của sông Công nằm
trọn trên địa phận tỉnh Thái Nguyên. Sông Công chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam
và nhập vào sông Cầu tại Hương Ninh, Hợp Thịnh, Bắc Giang. Lưu vực sông Công có
độ cao trung bình 224m, độ dốc 27,3%. Tổng lượng nước sông Công vào khoảng
830,8 triệu m
3
, lưu lượng trung bình năm 26,3 m
3
/s và modul dòng chảy năm vào
khoảng 27,7 l/s.km
2
.
Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc có mặt nước rộng
khoảng 25 km
2
với sức chứa lên tới 175 triệu m
3
nước. Hồ này chủ động tưới tiêu cho
12 nghìn ha lúa hai vụ màu, cây công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho TP Thái
Nguyên và TX Sông Công.
- Sông Đu