MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LĨNH VỰC THỦY LỢI 3
1.1.TỔNG QUAN VỀ BĐKH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3
1.1.1.Tổng quan về BĐKH trên thế giới 3
1.2. Tổng quan về các hệ thống thủy lợi ở Đồng Bằng Sông Hồng 9
1.2.1. Hệ thống tưới vùng đồng bằng sông Hồng 9
1.2.2. Hệ thố
ng tiêu đồng bằng sông Hồng 11
1.3.Tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến các hệ thống thủy lợi ở
vùng Đồng Bằng Bắc Bộ 13
1.3.1.Tác động của ngập lụt 13
1.3.2.Tác động của biến đổi lượng mưa và nhiệt độ đến nhu cầu nước 13
1.3.3.Tác động của BĐKH đến xâm nhập mặn và cấp nước 15
1.3.4.Tác động của BĐKH và khả năng khai thác n
ước dưới đất 15
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG BẮC THÁI BÌNH 17
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên 17
2.1.1. Vị trí địa lý. 17
2.1.2. Đặc điểm địa hình 17
2.1.3. Đặc điểm cấu tạo địa chất 18
2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 18
2.1.5 Đặc điểm khí tượng,khí hậu 20
2.1.6 Đặc điểm sông ngòi, thủy- hải văn 22
2.1.7 Nhận xét và đánh giá chung 26
2.2. Hiệ
n trạng kinh tế, xã hội và định hướng phát triển kinh tế 27
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất 27
3.3.3. Xâm nhập mặn 92
3.4.Tác động của BĐKH đến giải pháp quản lý vận hành 93
CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 94 4.1. Giải pháp công trình 94
4.1.1. Bổ sung, nâng cấp các công trình thủy lợi 94
4.1.2. Tiếp tục thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương 95
4.1.3. Xây dựng hệ thống quan trắc hiện đại 95
4.2. Giải pháp phi công trình 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI 97
I.KẾT LUẬN 97
II.KIẾN NGHỊ 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 MỤC LỤC BẢNG
v
,C
s
52
Bảng 3.2: Bảng thống kê chọn mô hình mưa đại diện ứng với từng thời vụ 52Bảng 3. 3: Nhiệt độ bình quân tháng trung bình nhiều năm trạm Thái Bình (1961-2003)
53
Bảng 3. 4: Độ ẩm bình quân tháng trung bình nhiều năm trạm Thái Bình (1961-2003)
53
Bảng 3. 5: Tốc độ gió bình quân tháng trung bình nhiêu năm tại trạm Thái Bình 53
Bảng 3. 6: Số giờ nắng bình quân tháng trung bình nhiều năm của trạm Thái Bình53
Bảng 3. 7: Tổng lượng bốc hơi bình quân tháng trung bình nhiều năm tại trạm Thái Bình
54
Bảng 3. 8: Tổng lượng mưa bình quân tháng trung bình nhiều nă
m tại trạm Thái Bình
54
Bảng 3. 9: Thời vụ các loại cây trồng trong hệ thống Bắc Thái Bình 56
Bảng 3.10: Độ ẩm trong lớp đất canh tác cho cây trồng cạn 56
Bảng 3.11: Thời kỳ sinh trưởng và hệ số cây trồng Kc của lúa 56
Bảng 3.12: Thời kỳ sinh trưởng và hệ số cây trồng Kc của các loại cây trồng 57
Bảng 3.13: Các chỉ tiêu cơ lý của đất 57
Bảng 3.14: Thống kê kết quả yêu cầu nước của lúa vụ chiêm 58
Bảng 3.15: Thống kê kết quả yêu cầu nước của lúa vụ mùa 59
Bảng 3.16: Thống kê kết quả yêu cầu nước của cây ngô 62
Bảng 3.17: Thống kê kết quả yêu cầu nước của cây trồng thời kỳ nền 62
Bảng 3. 18: Mức tăng nhiệt độ trung bình (°C) so với thời kỳ 1980-1999 ở các vùng
khí hậu của Việt Nam theo các kịch bản phát thải trung bình B2 62
(10
3
m
3
) 78
Bảng 3.35: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ chiêm của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ nền 81
Bảng 3.36: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ mùa của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ nền 83
Bảng 3.37: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ đông của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ nề
n 84
Bảng 3.38: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ chiêm của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2020 85
Bảng 3.39: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ mùa của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2020 86
Bảng 3.40: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ đông của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2020 87
Bảng 3.41: Kế
t quả khả năng cung cấp nước vụ chiêm của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2050 88Bảng 3.42: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ mùa của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2050 89
Bảng 3.43: Kết quả khả năng cung cấp nước vụ đông của trạm bơm Cao Nội trong
thời kỳ 2050 90
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
- Khí hậu của trái đất luôn luôn thay đổi. Trước đây, sự thay đổi này mang tính tự
nhiên. Kể từ đầu thế kỷ 19 thuật ngữ biến đổi khí hậu bắt đầu được sử dụng khi nói đến
những sự thay đổi khí hậu được so sánh tại thời điểm nói đến và những dự báo trong
vòng khoảng 80 năm sau đó mà nguyên nhân thay
đổi chủ yếu là do những hoạt động
của con người gây ra hơn là những thay đổi tự nhiên trong bầu khí quyển.
- Sự biến động của thời tiết nước ta không thể tách rời những thay đổi lớn của
khí hậu thời tiết toàn cầu. Chính sự biến đổi phức tạp của hệ thống khí hậu thời tiết
toàn cầu đã và đang làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết nước ta. Việt
Nam là nơi bị ảnh hưởng của hiện tượng ElNinô. Mối quan hệ giữa ElNinô và khí
hậu thời tiết ở Việt Nam đang được nghiên cứu. Tuy nhiên, một số biểu hiện của
mối quan hệ này có thể thấy rõ qua những lần thiên tai xảy ra gần đây trên diện rộng
ở Việt Nam.
- Trong khoảng 50 năm qua, BĐKH làm nhiệt độ trung bình năm đã t
ăng
khoảng 0,7
o
C và mực nước biển đã dâng khoảng 0,20m. BĐKH thực sự đã làm cho
các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng mãnh liệt không còn theo quy
luật tự nhiên
- Hệ thống thủy nông (HTTN) Bắc Thái Bình có tổng diện tích tự nhiên 67.200 ha,
diện tích yêu cầu tưới 54.628 ha (trong đồng 52.529 ha, đất bãi 2.099 ha).
- Vùng trong đồng: Diện tích có công trình tưới là 52.529 ha, hiện có 24 cống
dưới đê lấy trữ nước vào các sông trục như Tiên Hưng, Sa Lung và các sông trục
cấp I, II để tưới trực ti
ếp một phần, còn chủ yếu là bơm với 754 trạm bơm, các loại
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp
điều tra, khảo sát thực địa
- Phương pháp kế thừa
- Phương pháp phân tích, thống kê
- Phương pháp mô hình toán
4. Kết quả dự kiến đạt được
- Đánh giá được tác động của BĐKH đến các công trình tưới và khả năng đáp
ứng tưới của các công trình trong HTTN Bắc Thái Bình.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp ứng phó nhằm thích ứng với BĐKH cho hệ
thống tưới Bắc Thái Bình
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN LĨNH VỰC THỦY LỢI
1.1. TỔNG QUAN VỀ BĐKH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.1.1. Tổng quan về BĐKH trên thế giới
• Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là một vấn đề toàn cầu. Tính toàn cầu thể hiện ở phạm vi
ảnh hưởng xuyên quố
c gia, hệ quả của vấn đề là vô cùng nghiêm trọng liên quan
đến sự tồn vong của toàn nhân loại và để giải quyết vấn đề này cần sự hợp tác
trên toàn thế giới. Theo tính toán của tổ chức Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
(viết tắt là IPCC), trong những thập niên gần đây, nhiệt độ trái đất tăng trung bình
0,3
o
C mỗi thập niên. Mưa trở nên thất thường hơn, cường độ mưa thay đổi. Những
vùng mưa nhiều, lượng mưa trở nên nhiều hơn, cường độ mưa lớn hơn. Các vùng
hạn trở nên hạn hơn. Toàn bộ mặt đệm, cả mặt đất và đại dương đều nóng lên đặc
nay. Gần đây nhất, ngày 4/5/2008 bão Nagis tàn phá Myanma làm 22.000 người
thiệt mạng, 41.000 người bị mất tích. Động đất ở Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày
12/5/2008 đã làm thiệt mạng và mất tích hơn 90.000 người.
Khí hậu trái đất được giữ ổn định nhờ sự cân bằng và ổn định cán cân bức
xạ m
ặt trời. Sự ổn định đó có được là nhờ cân bằng của các thành phần quan
trọng trong khí quyển, đặc biệt là các loại khí có khả năng bức xạ và phản xạ bức
xạ mặt trời với các bước sóng khác nhau. Thành phần quan trọng trong khí
quyển có khả năng đó là khí nhà kính. Là các loại khí trong suốt đối với các bức
xạ sóng ngắn nhưng có khả năng phản xạ và ngăn cản bức xạ sóng dài. Các khí
này hầu hết tồn tại trong tự nhiên. Nhờ có chúng mà khí hậu trái đất ấm áp với
muôn loài sinh sống hiện nay.
Tuy nhiên, do tăng dân số, phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế của
con người đã bổ sung thêm vào khí quyển một khối lượng lớn các loại khí nhà kính
khác hoàn toàn do con người tạo ra, gây tác động xấu đến sự bền vững của các tầng
khí. Sự thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển thể hi
ện trong bảng 1.1
5 Bảng 1.1: Thay đổi nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển
Các loại khí CO
2
CH
4
N
2
O CFC-11 HCFC22 CF4
Thời kỳ tiền CN 280 ppmv 700 ppbv 275 ppbv 0 0 0
Nồng độ năm 1994 358 ppmv 1720 ppbv 312 ppmv 268 pptv 110 pptv 72 pptv
1,5
o
đến 4,5
o
C. Nhiệt độ mặt đất tăng nhanh hơn mặt biển. Nhiệt độ bắc bán cầu
tăng nhiều hơn nam bán cầu.
Lượng mưa tăng không đều, nhiều vùng mưa quá nhiều nhưng nhiều vùng
trở nên khô hạn hơn. Mưa nhiều hơn ở các vùng cực. Mực nước biển có thể dâng
lên từ 30 đến 100 cm.
Các chuyên gia khí tượng hàng đầu thế giới vừa lên tiếng cảnh báo mực nước
biển toàn cầu có thể dâng cao gấp hai lần so với dự báo của Liên Hiệp Quốc hai
năm trước đây, đe dọa cuộc sống của 1/6 cư dân Trái đất. Năm 2007, Ủy ban liên
chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) dự báo mực nước biển sẽ dâng cao nhiều nhất
là 59cm vào cuối thế kỷ 21. Tuy nhiên, các nhà khoa học tại hội nghị khoa học về
biến đổi khí hậu tại Copenhagen (Đan Mạch) hôm 10-3 lại khẳng định vào năm
2100, mực nước biển sẽ tăng tới 1m, thậm chí cao hơn.
Băng tan tại hai cực Trái đất do hiện tượng Trái đất ấm dần lên là yếu tố ảnh
hưởng lớn đến mực nước biển tăng cao. “Các tảng băng lớn tại Greenland và Nam
Cực đang góp phần nhiều hơn và nhanh hơn vào hiện tượng mực nước biển tăng so
với những dự báo trước đó” - BBC dẫn lời giáo sư Eric Rignot thuộc Cơ quan Hàng
không - vũ trụ Mỹ (NASA). Kịch bản này, nếu xảy ra, sẽ trở thành thảm họa đối với
600 triệu người dân thế giới sống tại các vùng ven biển và hải đảo. Giới chuyên gia
dự báo một phần diện tích lớn của các quốc gia như Bangladesh, Myanmar hay Ai
Cập sẽ chìm trong nước biển, các đảo tại Thái Bình Dương như Tuvalu hay
Maldives sẽ biến mất hoàn toàn. Việt Nam sẽ là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng lớn
của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đặc biệt là ở đồng bàng sông Cửu Long và
đồng bằng sông Hồng.
• Diễn biến biến đổi khí hâu - nước biển dâng
Các k
ịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam trong thế kỷ 21
đã được Chính phủ giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng dựa theo các
kịch bản phát thải khí nhà kính thấp, trung bình và cao.
Kịch bản phát thải thấp mô tả một thế giới phát triển tương đối hoàn hảo theo
hướng ít phát thải khí nhà kính nhất, tốc độ tăng dân số rất thấp, cơ cấu kinh tế thay
8
đổi nhanh theo hướng dịch vụ và thông tin, các thỏa thuận quốc tế nhằm giảm thiểu
phát thải khí nhà kính được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc trên phạm vi toàn cầu.
Kịch bản phát thải cao mô tả một thế giới không đồng nhất ở quy mô toàn cầu,
có tốc độ tăng dân số rất cao, chậm đổi mới công nghệ hoặc sử dụng tối đa năng lượng
hóa thạch. Đây là kịch bản xấu nhất mà nhân loại cần phải nghĩ đến.
Do tính phức tạp của biến đổi khí hậu và những hiểu biết chưa thật đầy đủ về
biến đổi khí hậu của Việt Nam cũng như trên thế giới cùng với yếu tố tâm lý, kinh
tế, xã hội, tính chưa chắc chắn về các kịch bản phát thải khí nhà kính, tính chưa
chắc chắn của kết quả mô hình tính toán xây dựng kịch bản v.v , nên Chính phủ
đồng ý với đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường trình Bộ Chính trị kịch bản
biến đổi khí hậu ứng với kịch bản phát thải khí nhà kính trung bình, là cơ sở khuyến
nghị cho các Bộ, ngành và địa phương làm định hướng ban đầu để xây dựng kế
hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu, với các nội dung chính như sau:
- Nhiệt độ
: Vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,3
o
C so với
trung bình thời kỳ 1980-1999. Mức tăng nhiệt độ dao động từ 1,6 đến 2,8
o
C ở các
vùng khí hậu khác nhau. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc và Bắc Trung Bộ
1.2.1. Hệ thống tưới vùng đồng bằng sông Hồng.
Tổng số có 5.261 công trình:
Trong đó: có 3.445 trạm bơm, 898 cống, 749 hồ, đập, 169 công trình tạm.
Tổng diện tích yêu cầu tưới toàn vùng 883.578 ha, diện tích tưới thi
ết kế 857.735 ha,
diện tích chủ động tưới: 609.877 ha, so với diện tích yêu cầu tưới đạt 69% (chủ yếu là diện
tích lúa màu còn cây lâu năm hầu như chưa tưới được).
Bảng 1.2: Tổng hợp hiện trạng tưới toàn vùng Đồng Bằng Sông Hồng
TT Vùng thủy lợi Số CT
DT yc tưới
(ha)
DT tưới TK
(ha)
DT tưới thực tế
(ha)
I Lô - Phó Đáy 164 15.846 11.427 8.093
Hồ, đập 141 7.189 4.753
TB 23 4.238 3.340
II Cầu – Thương 704 97.396 125.852 95.841
Hồ đập 83 40.833 37.087
TB 486 83.448 57.346
CT Tiểu thủy nông 135 1.571 1.408
III Hữu Hồng 1.479 350.504 332.089 222.775
Hồ, đập 72 17.653 15.468
10
TT Vùng thủy lợi Số CT
DT yc tưới
(ha)
DT tưới TK
kênh mương bị bồi lấp Còn lại các vùng miền núi như vùng Sông Lô-Phó Đáy, vùng
Quảng Ninh hầu hết là dùng công trình nhỏ lấy nước tại chỗ nên nhiều khu chưa có
11
công trình tưới, diện tích tưới bấp bênh, diện tích được tưới chỉ mới giải quyết tưới
lúa còn lại màu và cây lâu năm chưa được tưới và chủ yếu nhờ vào nước trời.
Các trạm bơm tưới, tiêu một số mới được xây dựng nên chất lượng còn tốt các
trạm còn lại đa số đã được xây dựng từ lâu nên thiết bị và nhà trạm đã bị hư hỏng cầ
n
được sửa chữa và nâng cấp.
Hệ thống kênh mương chủ yếu có kết cấu bằng đất, kinh phí cho nạo vét hàng
năm hạn chế, hơn nữa tình trạng lấn chiếm lòng kênh và xả thải bừa bãi dẫn đến ách
tắc làm hạn chế năng lực dẫn nước.
Đối với vùng hạ du sông Thái Bình trong vụ Đông xuân, nguồn nước ngọt chủ
yếu lấy từ các nhánh sông thuộc hạ
lưu hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình. Tuy
nhiên trong thời gian này, nguồn nước từ thượng lưu về giảm làm cho nước mặn từ
biển thường xâm nhập sâu vào các vùng cửa sông từ 20 đến 40 km cho nên việc lấy
nước cũng trở nên khó khăn như hệ thống Tiên Lãng, An Kim Hải, Thuỷ Nguyên.
Chất lượng nguồn nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp đang bị suy giảm
do bị ô nhiễm từ các nguồn nướ
c xả thải từ các làng nghề và các khu công nghiệp
trong khu vực như nguồn nước sông Nhuệ, sông Ngũ Huyện Khê, sông trục Bắc
Hưng Hải, sông Rế
1.2.2. Hệ thống tiêu đồng bằng sông Hồng.
Tổng số có 2.136 công trình tiêu trong đó tiêu tự chảy là 935 cống, tiêu bơm là
1.201 công trình trạm bơm.
Tổng diện tích cần tiêu vùng đồng bằng sông Hồng 1.182.737 ha, tổng diện
tích tiêu thiết kế 1.105.376 ha, diện tích tiêu chủ động là 879.955 ha so với diện tích
yêu c
Tổng diện tích chưa có công trình tiêu toàn đồng bằng sông Hồng chủ yếu tập
trung vào vùng hữu sông Hồng 142.773 ha nằm ở các khu thủy lợi Bắc Ninh Bình,
Nam Ninh Bình do tồn tại thiếu công trình trạm bơm và công trình tiêu tự chảy.
13
Vùng sông Cầu - sông Thương còn 38.893 ha tập trung ở khu Vĩnh Tường - Yên
Lạc (thuộc sông Phan - sông Cà Lồ) và vùng Bắc Đuống. Vùng Tả sông Hồng còn
105.571 ha tập trung ở vùng Bắc Hưng Hải. Vùng hạ du sông Thái Bình còn 15.545
ha do công trình tiêu đã bố trí đầy đủ nhưng công trình bị hỏng hóc, hệ thống kênh
mương bị bồi lấp.
Hiện nay tần suất tiêu mới đảm bảo ở nội đồng tiêu 10%, mực nước ngoài
sông tiêu 10%, hệ số tiêu củ
a hệ thống đạt 3,5÷4,5l/s/ha, một số hệ thống tiêu độc
lập đã đạt 5÷6 l/s/ha, các trạm bơm tiêu cho đô thị như ở Hà Nội, Hải Dương đã
thiết kế từ 10÷15 l/s/ha.
Với vùng hạ du trong vụ mùa việc tiêu thoát nước của các hệ thống thuỷ lợi về
cơ bản là khá thuận lợi. Tuy nhiên khi gặp tổ hợp bất lợi mưa to đến 200 mm/ngày,
chân triều cao kế
t hợp xuất hiện lũ từ thượng lưu thì việc tiêu nước cho hệ thống
cực kỳ khó khăn. Trường hợp mưa đến 300 mm/ngày vào thời điểm chân triều cao
kết hợp xuất hiện lũ từ thượng lưu thì diện tích các vùng úng tập trung có thể đến
gần 10.000 ha, chủ yếu tập trung ở khu vực 8 xã huyện vĩnh Bảo, các xã giữa huyện
Thuỷ Nguyên, khu vực đầu nguồn hệ thống Đa Độ, khu vực Bắc sông Mới Tiên Lãng.
1.3.Tổng quan các nghiên cứu về tác động của BĐKH đến các hệ thống thủy lợi
ở vùng Đồng Bằng Bắc Bộ.
1.3.1. Tác động của ngập lụt
Ảnh hưởng của nước biển dâng kết hợp lượng mưa lớn nhất tăng thêm 25% do
BĐKH, diện tích úng của đồng bằng Bắc Bộ có th
ể sẽ là 550.000ha với trường hợp
tăng 0,69m (gần 1/4 diện tích thấp hơn mực nước Biển) và 650.000ha đối với trường
nước trên các sông nhánh thuộc lưu vực sông Hồng – Thái Bình cũng xuống thấp
chỉ xuất hiện dao động nhỏ trong vài ngày; lượng dòng chảy trên sông giảm nhanh,
lượng dòng chảy trung bình tháng trên các sông ở trên lưu vực đều ở mức thiếu hụt
với mức trung bình nhiều năm từ 20 – 30%, có nơi thiếu hụt nhiều hơ
n. Lượng nước
trong mùa cạn chiếm 15 – 20% tổng lượng nước cả năm.
Theo kịch bản về biến đổi khí hậu, nhiệt độ tăng lên sẽ làm tăng lượng bốc
hơi, dẫn đến tăng nhu cầu sử dụng nước. Lượng mưa vào mùa khô có xu hướng
giảm; lượng mưa vào mùa mưa và cuối mùa mưa có xu hướng tăng lên do đó nếu
chủ động tích trữ nước và xây dự
ng các công trình hồ chứa đa mục tiêu để cấp nước
cho mùa khô sẽ giảm thiểu được hạn hán. 15
1.3.3. Tác động của BĐKH đến xâm nhập mặn và cấp nước
Theo kết quả tính toán của Viện Quy hoạch Thủy lợi, trong trường hợp lượng
mưa giảm 5%, lượng dòng chảy giảm 14.5%, và mực nước triều tăng lên 1.0 m thì
ranh giới mặn 4% cách các cửa sông khoảng 25-40 km, mặc dù đã sử dụng các hồ
chứa thượng nguồn để cấp nước cho hạ du về mùa kiệt. Một s
ố cống bị ảnh hưởng
mặn vượt quá 4%0
:
như: Ngô Đồng, Nguyệt Lâm, Lịch Bài, Thái Học trên sông
Hồng, Thuyền Quang, Dục Dương, Sa Lung, Ngữ trên sông Trà Lý, Hệ trên sông
Hóa, Đồng Câu, Mới, Rỗ trên sông Văn Úc, Hệ, Ba Đồng, Lý Xã, Cao Nội trên
sông Thái Bình, Cống Thóp trên sông Ninh Cơ. Các hệ thống ven biển như hệ thống
Thủy Nguyên, Đa Độ, An Kim Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Bắc - Nam Thái Bình,
Trung- Nam Nam Định và Nam Ninh Bình sẽ thiếu nước do bị mặn (khoảng 70%
16
thống giếng đào, giếng khoan hộ gia đình do không chịu sự quản lý của nhà nước
nên khai thác tùy tiện không theo quy hoạch nên nguồn nước và chất lượng ngày
càng suy giảm. Ngoài ra việc lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,
nước thải không được xử lý cũng làm chất lượng nước ngầm ngày càng xấu đi.
Theo các kịch bản BĐKH, sự suy giảm lượng mưa vào cuối mùa khô, dòng
chảy trên sông suối giảm nhỏ và kết hợp với mực nước biển dâng sẽ làm mặn xâm
nhập sâu vào các sông. Do nước ngầm và nước mặt có sự tương tác nên nước ngầm
các vùng ven sông bị xâm mặn sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm mặn. Việc khai thác
nước ngầm không theo quy hoạch làm hạ thấp mực nước ngầm sẽ làm tăng diện tich
nước dưới đất bị nhiễm mặn. Đối với các vùng ven biển, mức độ nhiễm mặn sẽ trầm
trọng hơn nếu việc khai thác nước ngầm phục vụ nuôi trồng thủy sản không theo
quy hoạch và không được quản lý tốt. 17
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG BẮC THÁI BÌNH
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý.
Hệ thống thủy nông Bắc Thái Bình là vùng đồng bằng ven biển thuộc hạ du
sông Hồng bao gồm các huyện Đông Hưng, huyện Hưng Hà, huyện Quỳnh Phụ,
huyện Thái Thụy và một phần thành phố Thái Bình. Vị trí địa lý của hệ thống được
giới hạn bởi:
- Phía Tây Bắc giáp sông Luộc và tỉnh Hưng Yên.