MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của văn minh nông nghiệp lúa nước, từ hàng
ngàn năm trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn
Việt Nam. Sự hình thành và phát triển của các nghề thủ công - trong đó có
nghề đúc đồng - qua các thời kỳ lịch sử đã góp phần tạo nên một diện mạo
kinh tế, một bản sắc văn hoá riêng trong cộng đồng làng xã người Việt.
Đồng gắn bó với nhân dân ta trong suốt trường kỳ lịch sử. Đây là chất
kim loại quý và “thiêng” dùng để đúc tượng thờ và nhiều đồ tế khí. Không chỉ
thế, sản phẩm đúc đồng còn gắn bó với sinh hoạt đời thường của con người từ
xa xưa cho đến ngày nay mà sự bền vững của nó đã vượt lên trên sức phá hoại
của thời gian. Với giá trị kinh tế to lớn, giá trị văn hóa sâu sắc trong đời sống
xã hội, đồng đã được mệnh danh cho cả một thời đại lịch sử của nhân loại -
Thời đại đồ đồng.
Sự xuất hiện của đồ đồng trong sinh hoạt gia đình, trong các hoạt động
văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo phản ánh sự phát triển của nghề đúc đồng, một
nghề thủ công truyền thống được ra đời từ rất sớm. Nghiên cứu nghề và làng
nghề thủ công truyền thống nói chung, nghề đúc đồng nói riêng chúng ta
không chỉ thấy ở đó bản tính cần cù, sự khéo léo, khả năng sáng tạo tuyệt vời
của ông cha mà chúng ta còn tìm thấy và kế thừa những tinh hoa văn hoá,
những kinh nghiệm sản xuất cổ truyền vô cùng quý báu của dân tộc, từ đó
phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, lòng tự hào dân tộc, sức sáng tạo trong lao
động, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội mới.
Là một nghề thủ công truyền thống nhưng so với nghề gò, đúc đồng ở
Đại Bái (Bắc Ninh), hay đúc đồng ở Ngũ Xã (Hà Nội)…, nghề đúc đồng ở xã
Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên chưa thực sự được quan tâm
nghiên cứu, tìm hiểu một cách khoa học và hệ thống. Kể từ năm 2000, khi các
nhà khảo cổ học thuộc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á phát hiện ra hệ thống
làng đúc đồng cổ nằm trên phạm vi cánh đồng hoang hoá thuộc khu vực Ao
Chai của làng Rồng, xã Đại Đồng - Văn Lâm - Hưng Yên thì việc tìm hiểu
1
2
lịch sử hình thành và phát triển của một số ngành nghề thủ công khác nhau ở
Việt Nam như nghề làm gốm, lụa, đúc đồng… Các tác giả đã khẳng định
nghề thủ công ở Việt Nam ra đời từ sớm, trong đó có kỹ thuật đúc đồng phát
triển rực rỡ vào thời đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt. Tuy nhiên tác giả mới dừng
lại ở việc trình bày về ông tổ của nghề là chính, còn quy trình sản xuất của các
ngành nghề chưa được đề cập đến một cách toàn diện và sâu sắc.
Trong các năm 1985, 1987 và 1995, công tác tìm hiểu và nghiên cứu
các nghề thủ công truyền thống trên địa bàn tỉnh Hưng Yên bước đầu đã được
triển khai trên một phạm vi rộng. Với sự đóng góp công sức và trí tuệ của các
nhà nghiên cứu địa phương, Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Hải Hưng đã lần lượt
ra mắt bạn đọc 3 tập “Nghề cổ truyền” [23] do Tăng Bá Hoành làm chủ biên.
Nội dung tập 1, 2 của bộ sách đã mô tả lần lượt 36 nghề cổ truyền của tỉnh Hải
Hưng, trong đó nghề đúc đồng ở Đại Đồng được tác giả đề cập những nét khái
quát về quy trình sản xuất, tuy nhiên đây mới chỉ là những phác thảo ban đầu.
Năm 1988, trong tác phẩm "Những bàn tay tài hoa của cha ông" [13]
hai tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc đã đề cập đến nhiều nghề thủ
công như gốm, đúc đồng, thêu, mộc, tiện, luyện sắt… Riêng nghề đúc đồng
thì các tác giả chỉ mới trình bày những nét chung nhất, đặc biệt nhấn mạnh về
tổ sư nghề đúc đồng ở Hưng Yên.
Năm 1991, với tác phẩm "Làng Vó và nghề đúc đồng truyền thống"
[20] tác giả Đỗ Thị Hảo đã trình bày khá đầy đủ về nghề đúc đồng của địa
phương, về con người với các phong tục, tập quán mang đậm nét một làng
quê Việt Nam của người dân làng Vó (Bắc Ninh). Tác giả cũng đã phác họa
về vai trò của nghề đúc đồng trong đời sống kinh tế văn hóa của dân Làng Vó,
đồng thời xác định vị trí của nó đối với đời sống của nhân dân địa phương
trong hiện tại và tương lai.
Còng trong năm này, Nguyễn Hồng Phương với Khóa luận tốt nghiệp
Đại học “Cầu Nôm - Làng buôn xứ Bắc” [51] đã lược tả khá đầy đủ từ lịch sử
hình thành đến các hoạt động buôn bán đồng nát của làng Cầu Nôm (thuộc xã
thuật đúc cổ truyền.
4
Năm 2005, thông qua việc khảo tả đình Đại Đồng, chùa Đại Đồng “Báo
cáo khảo sát làng Nôm xã Đại Đồng huyện Văn Lâm - Hưng Yên” [61], đã
xác định những tượng thờ (bằng đồng) và những đồ dùng trong tế lễ là sản
phẩm đúc đồng của nhân dân xã Đại Đồng. Báo cáo có đề cập đến tính cấp
thiết của việc phát triển làng nghề, bảo tồn làng Việt cổ ở xã Đại Đồng.
Nghề thủ công truyền thống còn được đề cập đến trong các bài viết
đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: “Vài nét về truyền thống công
nghiệp Việt Nam thế kỷ XIX” [33], “Làng nghề truyền thống và những vấn
đề cấp bách đặt ra” [71], “Một số vấn đề của làng nghề truyền thống Việt
Nam hiện nay” [30], “Quan hệ giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp trong các
làng nghề ở miền Bắc Việt Nam” [82]….Nội dung các bài viết trên đã khẳng
định sự đa dạng phong phú của nghề truyền thống ở Việt Nam, đồng thời nêu
lên thực trạng của các ngành nghề, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm bảo
tồn và phát triển nghề truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hoá cổ truyền kết hợp
với tinh hoa văn hoá hiện đại.
Nhìn chung, nghề thủ công truyền thống ở nước ta đã được tìm hiểu,
nghiên cứu dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay
chưa có một công trình nào phản ánh đầy đủ quá trình phát triển của nghề, làng
nghề và đóng góp của nghề đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Với Luận văn này chúng tôi mong muốn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề
mà giới nghiên cứu chưa đề cập đến hoặc mới nhắc đến với những nét khái
quát nhất. Chúng tôi cũng hy vọng rằng thông qua nội dung luận văn với sự
trình bày một cách hệ thống, phản ánh hoàn chỉnh sự xuất hiện nghề, quy trình
sản xuất và những tác động của nghề đúc đồng đối với nhân dân Đại Đồng sẽ
góp phần bổ khuyết cho những khoảng trống về lịch sử các ngành nghề thủ
công truyền thống tỉnh Hưng Yên nói riêng và cả nước nói chung.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
liệu bi ký, gia phả hầu như không còn. Để xác định thời điểm ra đời của nghề
đúc đồng chúng tôi chủ yếu dùa vào tư liệu khảo cổ học. Nhìn chung nguồn tư
6
liệu hết sức tản mạn vì vậy buộc chúng tôi phải đối chiếu so sánh, kiểm tra độ
tin cậy của thông tin.
Cơ sở tư liệu mà chúng tôi sử dụng để giải quyết vấn đề đặt ra là:
4.1.1. Nguồn tài liệu thành văn
- Đó là các bộ chính sử, địa lý học lịch sử do các sử gia phong kiến biên
soạn như: Đại Việt sử ký toàn thư [35], Lịch triều hiến chương loại chí [10],
Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Hưng Yên) [30], hoặc các cuốn Địa phương chí
như: Hưng Yên địa chí [65], Địa chí Hà Bắc [69]… Ngoài ra là nguồn tư liệu
sưu tầm được ở địa phương như:
- Văn bia: ở đình, chùa trong xã Đại Đồng
- Thần tích, thần sắc : ở thôn Văn Ổ, Xuân Phao, Lộng Thượng …[84]
- Các luận văn, các bài viết đăng trên tạp chí, các sách liên quan trực
tiếp hay gián tiếp đến đề tài.
4.1.2. Nguồn tài liệu vật chất
- Các sản phẩm bằng đồng còn lưu giữ trong các đình, chùa, nhà thờ ở
Đại Đồng như đình Đại Đồng, chùa Đại Đồng; đình, chùa Lộng Thượng;
nghĩa trang huyện Văn Lâm …
- Di vật đồng ở khu di tích khảo cổ học Ao Chai.
- Sản phẩm đồng ở cửa hàng bán đồ đồng của ông bà Hoằng Thắm,
thôn Lộng Thượng.
- Lò đúc đồng của các gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Bổng, Phạm
Văn Chân (đúc sanh); Nguyễn Văn Nhiên (đúc ninh); Dương Văn Ban (đúc
đỉnh); Dương Hồng Thắm (đúc chuông)…
- Ga xe lửa: Đồng Xá, Lạc Đạo nằm trên địa bàn xã Đại Đồng, trước
đây là nơi trung chuyển đồ đồng đi các vùng miền trong cả nước.
- Chợ Cầu Nôm - trung tâm buôn bán đồng nát và các sản đồng trước đây.
4.1.3. Nguồn tài liệu dân gian
- Luận văn cung cấp nguồn tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử
địa phương về làng nghề truyền thống, là nguồn tư liệu cho những người
nghiên cứu tiếp theo.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phần phụ lục, nội dung của luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng
Yên.
Chương 2: Nghề đúc đồng cổ truyền ở Đại Đồng.
8
Chương 3: Nghề đúc đồng trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của
nhân dân địa phương.
9
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ XÃ ĐẠI ĐỒNG, HUYỆN VĂN LÂM
TỈNH HƯNG YÊN
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Từ thủ đô Hà Nội, xuôi theo quốc lộ số 5, khoảng chừng 15km đến
chân cầu vượt Như Quỳnh, rẽ tay trái theo đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng
khoảng 3km, chóng ta vào địa phận xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng
Yên - nơi đã và đang tồn tại một số làng nghề đúc đồng cổ truyền và buôn bán
đồng nát.
Phía Bắc, Đại Đồng giáp xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh, nơi có làng Rí (nay là làng Đào Viên) xưa kia là một làng đúc đồng nổi
tiếng chuyên đúc những sản phẩm thờ cúng cao cấp, tinh xảo và quý giá, đặc
biệt họ có biệt tài về đúc tượng đồng. Phía Nam giáp xã Phan Đình Phùng,
phía Đông giáp xã Việt Hưng, chủ yếu làm nông nghiệp, phía Tây giáp xã Chỉ
Đạo, ở đây có làng Đông Mai (Hè) trước đây cũng khá nổi tiếng về làm nghề
đúc đồng và nghề nặn khuôn. Phía Bắc của xã hiện có con sông chảy qua, tới
thôn Văn Ổ (Ã) khoảng 3km thì cụt hẳn. Qua khảo sát trên thực địa, kết hợp
liên huyện chạy qua giữa xã và các đường liên xã nối Đại Đồng với Việt
Hưng, Lương Tài, Chỉ Đạo và xã Phan Đình Phùng huyện Mỹ Hào. Đây là
địa bàn chiến lược quan trọng không chỉ về kinh tế, chính trị mà cả về quân sự
vì Đại Đồng nằm ở giữa Hà Nội và Hải Phòng, sát Bắc Ninh, thông liền với 4
huyện khác. Nằm ở đầu mối các tuyến giao thông liên tỉnh, liên huyện và gần
với đường quốc lộ, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đại Đồng đã góp
phần làm nên chiến công to lớn “Sấm đường 5 vang dội và đường sắt kiên
cường”. Mạng lưới giao thông thuỷ, bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sù giao
lưu buôn bán giữa các vùng miền với chợ Nôm. Mỗi khi có phiên chợ Nôm
nhân dân ở các xã Lạc Đạo, Như Quỳnh, Đình Dù lại mang các sản phẩm
11
nông nghiệp đến bán và mua. Mặt hàng mà họ buôn bán trao đổi nhiều nhất là
đồng nát và các sản phẩm đồ đồng. Vì thế, chợ Nôm trở thành nơi cung cấp
chủ yếu nguyên liệu đồng cho các làng đúc trong xã và các vùng lân cận.
Nằm ở phía Đông của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xã Đại Đồng có
diện tích tự nhiên là 80.296 ha; chiều dài của xã là 4km; chiều rộng, chỗ rộng
nhất là 2km. Đại Đồng có đất đai màu mỡ, dân cư tập trung đông đúc. Theo
điều tra dân số năm 2005, toàn xã có 2.100 hé, 8.578 khẩu, tập trung ở 9 thôn
hầu hết đều làm nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, ngoài ra Đại Đồng còn có
nhiều ao, hồ để thả cá, chăn nuôi gia cầm như gà, ngan, vịt…
Bên cạnh nghề nông là chính thì trên địa bàn xã Đại Đồng đã và đang
tồn tại một làng buôn nổi tiếng xứ Kinh Bắc xưa - làng Cầu Nôm, chuyên
buôn bán đồng nát và các sản phẩm đúc đồng. Hoạt động tấp nập của chợ Cầu
Nôm xưa cũng như nay đã tạo điều kiện thuận tiện cho việc sản xuất và tiêu
thụ đồng, góp phần duy trì nghề đúc đồng cổ truyền và ngày càng phát triển.
Qua quá trình biến thiên của lịch sử, địa giới hành chính ở Đại Đồng có
nhiều thay đổi. Năm 1890, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập
đạo Bãi Sậy. Huyện Văn Lâm thuộc đạo Bãi Sậy gồm 7 tổng 54 xã của 3 huyện
Văn Giang, Gia Lâm, Siêu Loại (tỉnh Bắc Ninh), huyện lỵ đặt tại xã Nghĩa Lộ.
Trong đó, tổng Đồng Xá gồm: Bắc Hoa, Đại Đồng, Hậu Trường, Hữu Môn,
Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Theo nội
dung bản thần tích tại đình làng Nôm được sao lại từ năm Vĩnh Hựu thứ 6
(1740) và năm Khải Định thứ 7 (1922) cho biết thì đây là một trong những
nơi thờ đức thánh Tam Giang. Bấy giờ, vào thời Đông Hán khi Hai Bà Trưng
phất cờ khởi nghĩa, Tam Giang đã chiêu mộ quân sĩ, tham gia khởi nghĩa và
được cử làm Điện tiền Đô chỉ huy sứ tướng quân. Một lần, khi đem quân đi
đánh giặc đến trại Đồng Cầu, trang Đồng Xá, huyện Siêu Loại, thấy có một ụ
đất lớn hình long hổ ôm Êp, sơn thuỷ quan quanh, liền cho quân sĩ lập đồn
phòng thủ, làm lễ cáo trời đất và xuất quân đi đánh giặc Hán. Đây là một cứ
liệu để suy đoán, ngay từ đầu công nguyên, vùng đất Đại Đồng đã có cư dân
13
sinh sống và vùng đất này đã có một vai trò lịch sử trong công cuộc chống
giặc ngoại xâm.
Nội dung thần phả đình làng Đại Từ, xã Đại Đồng cho biết: Thời 12 sứ
quân (thế kỷ IX - X), vùng Siêu Loại là địa bàn cát cứ của Lý Khuê (tức Lý
Lãng Công). Trong quá trình dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đã cử tướng
Lưu Cơ (Lưu Kỳ) về vùng Siêu Loại. Sau này, Lưu Cơ được dân trong vùng
thờ làm Thành hoàng. Nội dung các bản Thần tích cho thấy sự tụ cư khá sớm
trên vùng đất này, có thể là vào thời đầu Công nguyên. Từ thế kỷ XV trở đi,
cư dân ở đây đã khá mật tập và trù phú. Nội dung tấm bia (sè 3) dựng ở chùa
Linh Thông được soạn năm Chính Hoà thứ 21 (1700) đã phản ánh điều
đó.Với lợi thế giao thông thuỷ, bộ, lại là vùng có nhiều làng nghề đúc đồng
nổi tiếng, cộng đồng cư dân Đại Đồng đã sớm đi vào ổn định và từng bước
phát triển.
Xã Đại Đồng ngày nay được hình thành trên cơ sở hai xã Lộng Đình và
Tùng Xá thuộc huyện Siêu Loại, phủ Thuận An trấn Kinh Bắc.
Theo “Lịch sử Hà Bắc”[25], xã Lộng Đình dưới thời Nguyễn thuộc
tổng Đồng Xá, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Xã có 6 làng:
Văn Ổ (Ã), Xuân Phao (Pheo), Lộng Đình (Rồng), Đình Tổ (Tó), Cự Đình,
Bùng Đông. Trong xã này, chỉ có hai làng Cự Đình và Đình Tổ là chuyên làm
Đường làng quanh co, lát gạch nghiêng và đường đất. Bờ rào dâm bụt, mây
leo, ô rô và tường đất. Luỹ tre cạnh hồ nước, ao làng. Cây đa cổ thụ và những
cây lưu niên toả bóng mát…
Theo dòng chảy của lịch sử, cư dân ở Đại Đồng ngày một đông đúc
hơn. Năm 1930, dân số xã Đại Đồng có 677 hé, 2.476 nhân khẩu; năm 1939,
có 735 hé, 2.918 nhân khẩu; năm 1950 có 819 hé, 3.265 nhân khẩu và đến
năm 2005 có tới 2.100 hé, 8.578 nhân khẩu [6; 10]. Để tồn tại và phát triển,
người dân Đại Đồng luôn kề vai sát cánh bên nhau đấu tranh chinh phục thiên
nhiên và chống giặc ngoại xâm để bảo vệ xóm làng và xây dựng cuộc sống.
Trong quá trình Êy đã tạo nên truyền thống đoàn kết, gắn bó thương yêu đùm
15
bọc lẫn nhau trong tình làng, nghĩa xóm… Có thể nói, Đại Đồng là vùng đất
có lịch sử lâu đời. Từ thuở xa xưa, nơi đây đã là điểm dừng chân của nhiều
bậc hiền tài giúp dân dẹp loạn cứu nước cứu làng, rồi nhập cư nơi đây cùng
nhân dân bản địa khai hoang, mở đất tạo lập xóm, làng.
Cùng với các thế hệ nối tiếp nhau từ đời này qua đời khác. Ngày nay,
Đại Đồng đã trở thành một vùng quê đông vui, trù phú, nơi hội tụ của gần 40
dòng họ lớn nhỏ. Với những nét riêng, chung của từng thôn xóm đã hình
thành nên bản sắc riêng của quê hương Đại Đồng trong dòng chảy lịch sử của
dân tộc…
1.2.2. Đời sống văn hoá tinh thần
Nằm trong vùng văn minh sông Hồng rực rỡ, từ xa xưa nhân dân Đại
Đồng đã không ngừng xây dựng, giữ gìn và phát huy những nét đẹp truyền
thống văn hoá của quê hương mình. Nhiều phong tục tập quán của Đại Đồng
đã nói nên bản sắc văn hoá riêng của làng quê Việt Nam, những nét riêng biệt
đó lại được hoà quyện vào truyền thống văn hoá dân tộc Việt, tạo nên nền
tảng vững chắc trong tâm hồn người Việt Nam. Nét đẹp trong đời sống văn
hoá của nhân dân Đại Đồng được tạo nên bởi phong cách lễ nghi, phong tục
tập quán cổ truyền, bởi sự cố kết bền chặt giữa các gia đình, dòng tộc, xóm
giềng tương thân tương ái. Sự đoàn kết gắn bó đó được thể hiện trong sinh
chùa thì chùa được xây dựng vào năm Quang Trung thứ nhất (1789). Xưa kia,
chùa không chỉ là nơi diễn ra các lễ nghi sinh hoạt tôn giáo mà còn là trung
tâm sinh hoạt văn hoá của cả cộng đồng làng xã. Ngày nay, chùa làng vẫn là
nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của cả làng xã. Ngày hội làng, tết Nguyên
đán, ngày rằm, mồng một hàng tháng nhân dân trong xã vẫn tấp nập đến chùa
hương khói lễ bái. Ngoài thờ Phật, nhân dân Đại Đồng còn có đời sống sinh
hoạt tín ngưỡng khá phong phú. Đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo huyết
thống trong các gia đình, dòng tộc, và cao hơn cả là tục thờ cúng mang tính
cộng đồng làng xã như: thờ Tổ nghề - người đem nghề về dạy cho dân làng,
thờ Thành hoàng - vị thần hộ mệnh của cả cộng đồng làng xã. Các vị thần
17
được thờ có cả thiên thần và nhân thần, song dù là đối tượng nào thì theo thần
tích, các vị Thành hoàng đều là những người có công đánh giặc cứu dân, giúp
tạo dựng quê hương. Thành hoàng là vị thần đem lại điều phúc lành cho dân,
diệt ma trừ tà bảo hộ cho cả cộng đồng làng xã, bởi vậy Tổ nghề và Thành
Hoàng được dân làng thờ phụng với nghi lễ trang trọng, thiêng liêng và thành
kính nhất.
Trước kia, ở Đại Đồng, cả bốn thôn Lộng Thượng, Xuân Phao, Văn Ổ,
Bùng Đông làm nghề đúc đồng đều thờ chung một tổ nghề Khổng Minh
Không, nhưng điều đặc biệt là hiện nay ở cả bốn thôn này không có thôn nào
có nhà thờ tổ nghề và tục thờ tổ nghề hiện chỉ còn ở làng Lộng Thượng.
Một câu hỏi đặt ra là: Tại sao xã có tới bốn thôn làm nghề đúc đồng
mà chỉ còn thôn Lộng Thượng có tục thờ tổ nghề? Giải thích điều này các cụ
trong xã cho biết : Trước Cách mạng tháng Tám 1945, cả bốn thôn này đều
thuộc xã Lộng Đình, trong bốn thôn chỉ thôn Lộng Thượng là thôn có tay
nghề cao hơn cả vì vậy được tôn làm anh cả, theo quy định làng nào có tay
nghề cao nhất thì được xây đền thờ tổ nghề. Mặt khác, nói về nghề đúc dụng
cụ đun nấu thì làng nắm giữ bí quyết tay nghề cao nhất lại là thợ đúc làng Hè
(Chỉ Đạo, Văn Lâm), do vậy ba thôn Xuân Phao, Văn Ổ, Bùng Đông không
có nhà thờ tổ nghề. Hàng năm, cứ đến ngày giỗ tổ, ngày rằm tháng giêng âm
cúng phải có trọng lượng 50kg. Các gia đình trong Giáp khi được được phân
công thường ngầm có sự ganh đua nhau cho nên cứ năm sau thường lợn to
hơn năm trước, dù chỉ là vài cân. Lợn cúng khác lợn thường từ khâu chăm
nuôi; cho ăn đầy đủ, thức ăn ngon, sạch. Chuồng nuôi cũng phải sạch, không
được nói hỗn với “ông ỷ”(lợn cúng tổ được gọi là ông ỷ). Mỗi khi “ông ỷ” trái
gió, trở trời chỉ cần ra nhà thờ lễ là “ông” khái ngay?.
Lợn giỗ tổ được gọi là lợn đãi quan viên. Ai có lợn thì được làng ban
cho phẩm oản ba cân (5 cái) và ba cân giò lợn cho người nuôi. Người nuôi lợn
sẽ nhận phần giò Êy rồi căn cứ số đinh trong làng để cắt ra làm nhiều miếng
19
gọi là “léc”. Khi chuẩn bị xong, người phụ trách lễ giỗ tổ đánh một hồi trống
mời các gia đình đến nhà thờ để nhận lộc. Nhận lộc, mọi người bao giờ cũng
so sánh với năm trước, vì thế mà người nuôi “ông ỷ” rất tự hào.
Trong ngày lễ tổ làng quy định, không cứ lý do gì, nếu lợn năm sau nhỏ
hơn lợn năm trước thì phẩm oản ba cân thuộc về người nuôi lợn năm trước,
nghĩa là “kỷ lục” chưa bị phá. Nhưng về sau thấy sự ganh đua lớn, khó khăn
cho những gia đình nghèo nên làng phá bỏ lệ này.
Ngày lễ tổ, tiên chỉ của làng là người được dâng lễ đầu tiên gồm hương
hoa và rượu. Sau đó đến lượt đại diện 2 giáp, mỗi bên 3 người chứng kiến, rồi
đến gia đình được nuôi “ông ỷ”, mọi người trong gia đình sắp xếp theo thứ tự
cha, mẹ, con trai, con gái. Bài văn cúng không dài nhưng chủ nhà phải học
thuộc từ trước để khấn cho trôi chảy. Đại ý bài cúng là: “Hôm nay nhân lễ
nguyên tiêu, dân làng không quên ơn tổ, có nén nhang gọi là tấm lòng thành
của người sau… “ Uống nước nhớ nguồn”. Phần gia đình con nhờ tổ ăn nên
làm ra, mọi người khoẻ mạnh cũng nuôi được một “ông” hôm nay mong tổ
chứng giám, nhận lễ và phù hộ cho cả làng”. Sau lễ này mọi người về nhà
mới được sờ vào đất để làm khuôn hoặc mua bán, trao đổi hàng hoá bằng
đồng, cũng có nơi gọi đó là lễ khai cân.
Người chủ lễ tổ không phải là tiên chỉ (khác với người được thắp
nhang, dâng lễ đầu tiên). Làng có hai giáp: Đông và Đoài thì mỗi năm người
giống như các ngày trước, nhưng đoàn rước lần này có vai trò “đối ngoại”:
rước sang làng Đào Viên (làng Đề Cầu xưa) giao lưu. Số lượng người tham
gia buổi rước do làng cắt cử và giao cho một người cao tuổi có uy tín và nuôi
được “ông ỷ” đãi quan viên (tất nhiên phải có nghề làm ăn phát đạt) dẫn đầu.
Đoàn rước sang mời chạ (làng Đào Viên) sang Lộng Thượng dự hội làng.
Đoàn rước ở lại qua đêm, sáng mồng 9 mới về. Bữa tiệc mà làng Đào Viên
tiếp chạ (làng Lộng Thượng) phải đảm bảo: Một đĩa thịt thủ (bắt buộc), lòng,
gan, một món rau sống, hai bát nấu, một bát sào. Cỗ đóng 5 người. Ngày
mồng 10, làng Đào Viên lại rước qua Lộng Thượng và mời chạ Lộng Thượng
21
sang dự hội làng. Làng Lộng Thượng làng bên “chạ” ngày mồng 10 tháng
giêng, làm hội to nhất có mổ lợn. Khi làm cỗ cũng chỉ đóng 5 người. Cả làng
Lộng Thượng có bao nhiêu suất đinh được ra đình ăn cỗ bấy nhiêu, còn
những người ở làng khác không ra đình thì được cấp phát phần mang về nhà
ăn tại nhà.
Ngoài “ông ỷ” được phân công nuôi trong lễ tổ, ngày mồng 10 tháng
giêng còn có lợn của trai làng đến tuổi trưởng thành (từ 16 đến 18 tuổi). Có
năm số lợn này có tới năm con, phần vì người trưởng thành nhiều, phần vì có
người năm trước khó khăn phải xin khất lễ vào đám và sang năm thì làm bù
số lợn này. Vì vậy, không nhất thiết năm nào cỗ bàn cũng như nhau, có năm
làng ăn cỗ kéo dài cả tuần lễ.
Trong hội làng, chủ tế là người giáp Đông hoặc giáp Đoài. Người làm
chủ tế phải thông thạo từ việc đọc văn tế đến việc điều hành các nghi lễ.
Người chủ tế bên giáp Đông bao giờ không làm việc được nữa (quá già yếu
hoặc chết) mới chuyển sang người giáp Đoài. NÕu vì lÝ do ốm thì phải người
thay thế, bên giáp Đoài không chịu trách nhiệm. Khi người giáp Đoài được
làm chủ tế cũng như vậy, không quy định niên hạn.
Khi tế có hai hàng người mặc lễ phục: áo dài màu xanh bằng sa tanh có
thêu chim phượng hoặc chữ thọ (không được thêu rồng, không được dùng
màu vàng), quần màu trắng cũng bằng sa tanh và đi giầy vải (được đặt riêng).
hữu). Xung quanh làng Lộng Thượng không chỉ có Đào Viên (tức Đề Cầu), còn
có các làng nông nghiệp thuần tuý như Đại Từ, có làng đúc như Văn Ổ, Xuân
Phao và làng buôn như làng Nôm thế nhưng, chỉ có Lộng Thượng và Đào
Viên mới có quan hệ làng chạ. Đây là nguồn gốc việc thờ cúng tổ nghề đúc
đồng: cùng thờ một tổ. Vì lẽ đó mà hội làng, ma chay, cưới xin hai làng đều có
nhau và cử đoàn đại biểu qua lại chu đáo chứ không tuỳ tiện ai thích thì đi.
Trải qua thăng trầm, nghề đúc làng Đề Cầu dần bị mai một và mất hẳn,
chỉ còn làng Lộng Thượng giữ được nghề và ngày càng phát triển. Bởi vậy,
những năm vừa qua, bên chạ (Đề Cầu) muốn khôi phục lại nghề, làng Lộng
23
Thượng đã sang Đề Cầu để truyền lại. Đây là việc làm ngoại lệ ở các làng
nghề nói chung và ở Lộng Thượng nói riêng.
Như vậy, hội làng không chỉ là những hoạt động sinh hoạt vui chơi,
giải trí mà còn là hoạt động giao lưu văn hoá, thể hiện nét đẹp truyền thống
của nhân dân Việt Nam nói chung và của nhân dân Đại Đồng nói riêng. Vì
thế, nó cần được giữ gìn và phát triển để những người dân Việt Nam luôn tự
hào về truyền thống quê hương mình.
1.3. CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ SỰ RA ĐỜI CÁC LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG
CỦA XÃ ĐẠI ĐỒNG.
Là cư dân của đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ xưa, cư dân Đại Đồng
đều lấy nghề nông làm nền tảng kinh tế truyền thống. Hầu hết các thôn trong
xã đều sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa với phương thức độc canh.
Mặc dù làm ruộng là nghề sản xuất chính, là nguồn sống chủ yếu của các gia
đình ở nông thôn, song do phụ thuộc quá nhiều vào điều kiện tự nhiên nên thu
nhập từ việc làm ruộng rất thấp và bấp bênh. Thêm vào đó, đồng ruộng ở Đại
Đồng không bằng phẳng, nơi cao, nơi thấp, lệch nhau khá nhiều, nơi cao thì
hạn hán, nơi trũng lại ngập úng, người dân quanh năm phải chịu cảnh “chiêm
khê, mùa thối”. Vùng cao hàng năm cấy một vụ lúa mùa, vùng trũng cấy một
vụ lúa chiêm, năng suất lúa năm cao nhất cũng chỉ đạt 40 đến 50kg/sào Bắc
Bộ. Ở Đại Đồng, ngoài làm ruộng, chăn nuôi không được phát triển vì lương
liệu đồng và bán sản phẩm đồng). Từ xa xưa khi hỏi đến làng nghề đúc đồng
ở Đại Đồng dân thường nói rằng;
Đố ai biết cổng làng Rồng
Biết sông làng Ã, biết chồng bà Đô.
Làng Rồng là Lộng Thượng, xưa kia làng có hai giáp: giáp Đông và
giáp Đoài, ngày nay có 4 xóm, với 3 dòng họ, không phân biệt giàu nghèo.
Ngoài trồng lúa, làng có nghề thủ công đúc đồng. Cổng làng có từ thế kỷ XVI
được dựng bằng đồng, chứng tỏ vào thời gian này nghề đúc đồng ở đây đã
thực sự phát đạt, đồng thời cũng phản ánh lịch sử của làng, lịch sử của nghề
đúc đồng có từ trước đó rất lâu. Nghề phát triển, dân làng tập trung dựng cổng
25