Gia đình người Sán Dìu ở xã Ninh Lai huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truyền thống và biến đổi - Pdf 25


4
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
4
2. Mục tiêu nghiên cứu
5
3. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
5
4. Nguồn tư liệu của luận văn
5
5. Đóng góp của luận văn
5
6. Bố cục của luận văn
6
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu
7
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về gia đình
7
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước về gia đình
9
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
12
1.2.1. Cơ sở lý thuyết
12

48
2.4.3. Chức năng xã hội
52
2.4.4. Chức năng giáo dục
53

5
2.5. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
56
2.5.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái
56
2.5.2. Quan hệ giữa vợ và chồng
58
2.5.3. Quan hệ giữa các anh, chị, em trong gia đình
59
Tiểu kết
60
Chương 3: CÁC PHONG TỤC VÀ NGHI LỄ TRONG CHU KÌ ĐỜI
NGƯỜI

3.1. Phong tục, nghi lễ sinh đẻ và nuôi con
61
3.1.1. Phong tục và nghi lễ sinh đẻ
61
3.1.2. Phong tục và nghi lễ nuôi dạy con cái
64
3.2. Phong tục và nghi lễ cưới xin
67
3.2.1. Quan niệm về hôn nhân và cưới xin của người Sán Dìu
67

129
Tiểu kết
135
Kết luận
136
Tài liệu tham khảo
138
Danh sách những người trả lời phỏng vấn sâu
141
Phụ lục
142

6

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Phân bố dân cư dân tộc Sán Dìu trên địa bàn huyện Sơn Dương
26
Bảng 1.2: Thành phần dân tộc xã Ninh Lai, chia theo đơn vị hộ gia đình và
nhân khẩu
27
Bảng 2.1: Số lần sinh con của các bà mẹ người Sán Dìu
45
Bảng 2.2: Người quyết định hôn nhân của ông/bà trong xã hội truyền thống
57
Bảng 3.1: Tuổi kết hôn lần đầu của người Sán Dìu trong xã hội truyền thống
68
Bảng 4.1: Số lượng thành viên trong gia đình ở một số thôn ở Ninh Lai
101


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Sán Dìu có dân số 126.565
người - đứng thứ 17 trong bảng thống kê dân số ở Việt Nam [10, tr.46]. Người Sán
Dìu cư trú tập trung ở vùng trung du các tỉnh Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh,
Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Trong nhiều thập kỉ qua, đã có không ít
các công trình nghiên cứu về dân tộc này. Tuy nhiên, chưa có một chuyên khảo dân
tộc học nào về truyền thống và biến đổi của gia đình dân tộc Sán Dìu ở một địa
phương cụ thể.
Người Sán Dìu với phong tục tập quán phong phú chứa đựng các giá trị nhân văn
sâu sắc được hình thành và phát triển trong tiến trình lịch sử đã trở thành những đặc trưng
văn hóa cần được lưu giữ. Gia đình là nơi bảo lưu một phần đáng kể các yếu tố văn hóa
truyền thống, là nơi biểu hiện các chân giá trị về chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, tâm lý,
mối quan hệ giữa con người với con người và con người với xã hội. Do đó cần có nghiên
cứu về gia đình, tìm hiểu và luận giải một phần cụ thể về bản sắc của tộc người Sán Dìu.
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Các yếu tố văn hóa nảy sinh trong điều kiện xã hội mới đã tác động
nhiều chiều đến đời sống của người Sán Dìu. Vì vậy, nghiên cứu về gia đình được đặt
ra như một nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn bởi gia đình là
một trong những thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của mỗi cá
nhân cũng như cộng đồng. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế xã hội biến đổi sẽ
dẫn đến cả hệ thống những thiết chế xã hội như kinh tế, pháp luật, văn hoá… biến đổi
theo. Chính vì vậy, gia đình và đặc biệt là gia đình các dân tộc thiểu số, phải đối mặt
với rất nhiều thách thức trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài: "Gia đình của người
Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang - truyền thống và
biến đổi" làm đề tài luận văn thạc sĩ. Qua nghiên cứu này, sẽ góp thêm tư liệu về gia


biến đổi của gia đình người Sán Dìu ở một địa phương cụ thể.

9
- Trên cơ sở nguồn tư liệu mới về gia đình người Sán Dìu, luận văn chỉ ra những
đặc trưng văn hóa, sự tương đồng và khác biệt với người Sán Dìu ở địa phương khác.
- Trên cơ sở chỉ rõ những biến đổi của gia đình Sán Dìu truyền thống, luận văn
còn phân tích những nguyên nhân dẫn đến những biến đổi.
- Luận văn đóng góp thêm cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý, hoạch định
chính sách, bảo tồn văn hóa dân tộc Sán Dìu.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm
có 4 chương:
Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lí thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Chương 2. Phân loại, cấu trúc, quy mô và chức năng của gia đình
Chương 3. Các phong tục và nghi lễ trong chu kì đời người
Chương 4. Những biến đổi của gia đình người Sán Dìu
10
Chương 1

11
Đóng góp quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu gia đình trên thế giới
nói chung và ở Liên Xô cũ nói riêng là M.O.Koxven với cuốn Sơ yếu lịch sử văn hóa
nguyên thủy xuất bản năm 1953. Trải qua nhiều thập kỷ tác phẩm vẫn được đón nhận
và là đề tài thảo luận sôi nổi của giới khoa học (dịch ra tiếng Việt năm 1958). Đây là
nghiên cứu có giá trị về quan điểm phương pháp luận được trình bày một cách khoa
học, đề cập đến những vấn đề trọng yếu về văn hóa nguyên thủy như: Mầm mống của
văn hóa; sự phát triển của kỹ thuật - kinh tế - xã hội; văn hóa tinh thần; sự tan rã của
chế độ công xã nguyên thủy; sự phát sinh xã hội có giai cấp sớm nhất và mô hình gia
đình trong xã hội… Nghiên cứu đã đánh dấu cho xu hướng nghiên cứu so sánh về gia
đình giữa các nước, các lục địa, các tộc người và các nền văn hóa khác nhau thể hiện
được tiến trình phát triển và lí giải nguồn gốc phát sinh một số vấn đề trong nghiên cứu
gia đình.
Tiếp đó có thể kể đến O.A.Sukhaneva, cũng là một nhà khoa học của Liên Xô cũ
với các nghiên cứu như: Phong tục tập quán trong hôn nhân và đám cưới tại làng
Tadzhiks ở Shakhristan, Gia đình Hồi giáo Uzbekistane (1960), Gia đình và gia đình các
dân tộc Trung Á, Nghi lễ kết hôn truyền thống của các dân tộc Trung Á (1978)… Những
nghiên cứu này vừa có tính khái quát tổng hợp trong nhân học vừa đưa ra những trường
hợp cụ thể thông qua những tư liệu thu thập ở thực địa làm luận cứ chứng minh cho các
giả thiết khoa học.
Nghiên cứu về gia đình hiện nay có thể kể đến tác giả Clark W.Soransen bài viết
in trong cuốn Asia’s Cultural Mosaic - An Anthropological Introduction (Bức khảm văn
hoá Châu Á - Tiếp cận nhân học) (1993), đề cập đến gia đình các cư dân châu Á trong
đó có Việt Nam, đặc biệt tác giả đã chú ý phân tích mô hình làng xã và cơ cấu của gia
đình truyền thống.
Bên cạnh đó là Emily A. Schultz và Robert H.Lavanda trong Nhân học - một
quan điểm về tình trạng nhân sinh (2001), đã đưa ra những vấn đề cơ bản của nghiên
cứu nhân học, trong đó có những vấn đề về nghiên cứu gia đình và cách phân loại gia
đình. Những nghiên cứu này nhấn mạnh đến các loại hình gia đình trong mối tương
quan với cơ cấu giai cấp và sự khác biệt của các gia đình qua các thông số như: ngành

giảng dạy nhân học.
Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh với nghiên cứu Gia đình và hôn nhân của dân tộc
Mường ở tỉnh Phú Thọ (2005) là nghiên cứu dân tộc học có giá trị sâu sắc, không chỉ

13
phác họa chi tiết những đặc điểm gia đình và hôn nhân của người Mường ở Phú Thọ
mà còn chỉ ra mô hình kết cấu, chức năng gia đình và những nguyên nhân ảnh hưởng
tới việc duy trì các yếu tố ảnh hưởng đến bản sắc tộc người cũng như xu thế ảnh hưởng
của xã hội hiện đại tới tộc người này.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu có thể kể đến một số lý thuyết
được tác giả Phạm Quang Hoan đề cập trong nghiên cứu nhân học về gia đình như: Vài
suy nghĩ về phương pháp phân loại gia đình, Tạp chí Dân tộc học số 2/1985; Gia đình,
bản chất, cấu trúc, loại hình Tạp chí Dân tộc học số 1-2/1988; Vài suy nghĩ về hôn
nhân và gia đình của các dân tộc ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân tộc học, số 2/1993.
Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu về gia đình dưới góc độ dân tộc học/nhân học có
thể kể đến Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Kim Oanh với đề tài Hôn nhân và gia đình của
người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (2009), trình bày khá chi tiết về các loại hình gia
đình truyền thống và hiện đại của người Thái hiện nay, có sự đánh giá các ảnh hưởng của
thời đại mới tới các bản sắc truyền thống tộc người.
- Các nghiên cứu về gia đình người Sán Dìu
Từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, Ma Khánh Bằng đã có nhiều nghiên cứu
dân tộc học về người Sán Dìu đăng trong Tạp chí Dân tộc học, sau đó công bố cuốn
Người Sán Dìu ở Việt Nam (1983). Cuốn sách miêu tả khá chi tiết những đặc trưng văn
hóa của dân tộc Sán Dìu trong đó khái quát về mối quan hệ gia đình và các nghi lễ gia
đình trong một số trang viết Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh những đổi thay về văn
hóa và đời sống của tộc người trong bối cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội mà ông gọi là
cách mạng và cuộc sống mới: “Một dân tộc gia nhập đại gia đình các dân tộc Việt
Nam muộn hơn nhiều dân tộc khác và đã trụ trên một mảnh đất không mấy thuận lợi,
nhưng do cần cù lao động, giàu óc sáng tạo, nên đã sớm xây dựng được cuộc sống
vững vàng ngày một phát triển” [6, tr. 8]. So với nghiên cứu của Bonifacy đầu thế kỷ

trên nhiều phương diện như: cấu trúc, chức năng, các mối quan hệ trong gia đình, nghi
lễ trong gia đình, qua đó ảnh hưởng đến vai trò, vị thế của mỗi thành viên và kinh tế
đời sống sinh hoạt của gia đình… Vì vậy, yêu cầu bổ sung tư liệu về vấn đề gia đình
của người Sán Dìu, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa tộc người Sán
Dìu ở Việt Nam là một việc làm cấp thiết và có ý nghĩa khoa học.
1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Cơ sở lý thuyết

15
Luận văn nghiên cứu về gia đình người Sán Dìu với việc đi sâu vào các văn
hóa đặc trưng của gia đình, cấu trúc, chức năng và xu hướng biến đổi của gia đình, vì
vậy hướng tiếp cận chủ yếu là về nhân học văn hóa với lý thuyết biến đổi văn hóa, và
chức năng cơ cấu.
Biến đổi văn hóa (Changement culturel) là một quá trình diễn ra trong tất cả các
xã hội và là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của nhân học. Khi nghiên cứu về biến
đổi văn hóa trong đó có tiếp biến văn hóa (Acculturation) dùng để diễn giải quá trình
thay đổi văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau; sự tiếp
xúc đó làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia. Tiếp biến văn hóa
gồm nhiều quá trình khác nhau như truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, gồm với nhiều
kiểu tái tổ chức văn hóa xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa”.
Hơn nữa, nếu vì bất cứ lý do nào mà nhóm văn hóa này từ chối công nhận tiếp biến
văn hóa của nền văn hóa kia thì việc rút ngắn khoảng cách văn hóa có thể sẽ không xảy
ra cùng với việc rút ngắn khoảng cách xã hội tương ứng (đồng hóa).
Lý thuyết tiếp biến văn hóa được vận dụng trong luận luận văn để lý giải sự biến
đổi của các phong tục tập quán trong gia đình, những nhận thức về xã hội mới tiếp xúc
vào cơ cấu gia đình truyền thống tạo nên những văn hóa mang sự thích ứng với biến đổi
của môi trường tự nhiên - xã hội, sự biến đổi đó xuất phát từ chính trong nội bộ tộc
người hay còn gọi là biến đổi nội sinh. Văn hóa không phải là bất biến mà nó luôn vận
động và biến đổi để duy trì và phát triển yếu tố truyền thống. Sự biến đổi đó ngày càng
rộng lớn về quy mô và mạnh về cường độ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa; mọi dân

nêu ra và nhấn mạnh đến hàng loạt tiểu hệ thống chức năng như: gia đình, giáo dục,
kinh tế… đảm bảo giữ gìn trạng thái cân bằng trong tổng số tác động qua lại giữa
chúng. Đối tượng trung tâm trong nghiên cứu là sự nhất thể của nhân cách, hệ thống
xã hội và văn hóa. Trong lý thuyết hệ thống xã hội, Parsons coi tiểu hệ thống văn hóa
là hệ thống có nhiều thông tin nhất và nó kiểm soát các tiểu hệ thống khác. Lý thuyết
của ông cho thấy mối liên hệ rõ ràng, trực tiếp giữa xã hội học với Dân tộc học, tâm lý
học và khoa học chính trị.
Nằm ngay trong thuyết chức năng cơ cấu của Talcott Parsons là những nhận
định rõ nét về biến đổi xã hội, bởi ngay trong câu hỏi về tính chức năng của các quá
trình xã hội đã phải đặt tiếp câu hỏi cơ bản rằng chúng dẫn tới ổn định hay biến đổi.

17
Chính các khái niệm về nghịch chức năng cũng như chức năng hiện và ẩn mở ra tiền
đề để nghiên cứu biến đổi. Chính vì vậy, hướng tiếp cận này giúp tôi giải thích được
vấn đề khi phân tích về cơ cấu, chức năng của gia đình trong trường hợp nghiên cứu,
đồng thời mở ra tiền đề nghiên cứu về sự biến đổi của gia đình truyền thống Sán Dìu
trong thời đại ngày nay.
Một trong những tiếp cận mang tính ứng dụng và hiện đại hơn trong nghiên cứu
về gia đình đó là tác phẩm Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh của
Emily A. Schultz và Robert H.Lavenda, đã đưa ra những vấn đề cơ bản của nghiên cứu
nhân học, trong đó luận văn đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu gia đình và cách phân
loại gia đình, thể hiện ở Chương 18 - Thân tộc và Chương 19 - Hôn nhân và gia đình.
Với cách tiếp cận này của các tác giả, vấn đề gia đình được nhìn nhận sâu sắc từ góc
độ thực tế với mô hình cấu trúc có tính đại diện. Hệ thống thân tộc được được đặt tên
theo các xã hội đại biểu cho mô hình gốc của từng loại hình: Hawai, Eskimo, Iroquois,
Crow, Omaha và Xudang. Bên cạnh đó, Emily A. Schultz và Robert H.Lavenda cũng
đưa ra những quan điểm về cấu trúc của gia đình, với cách phân loại thành: gia đình hạt
nhân, gia đình hạt nhân mở rộng (cha mẹ sống với con cái đã kết hôn) và gia đình liên
hợp những anh em (chị em) cùng gia đình của họ chung sống [15, tr. 323-327]. Qua đây,
tôi có thể định hướng được các vấn đề nghiên cứu cần tập trung khi triển khai đề tài, đặc

tham gia công tác chính quyền địa phương, tham gia công tác kế hoạch hóa gia đình, người
làm công tác văn hóa xã hội… Nội dung các cuộc phỏng vấn sâu này được chuẩn bị sẵn
bằng một bộ câu hỏi phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Điều tra theo bảng hỏi: Tiến hành điều tra theo bảng hỏi 50 hộ trên tổng số 78
hộ gia đình tại thôn Ninh Bình, xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang,
nhằm thu thập thông tin định lượng về quy mộ, phân công lao động trong gia đình; tuổi
kết hôn, tiêu chuẩn chọn bạn đời, cư trú sau hôn nhân, kiêng kị trong gia đình, các mối
quan hệ trong gia đình. Sau đó tiến hành phân tích và xử lý số liệu điều tra bảng hỏi
bằng phần mềm SPSS.
Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia nhằm bổ sung
các kiến thức còn thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn.
Để hoàn thiện, luận văn còn tiếp cận nghiên cứu theo hướng liên ngành dân tộc
học với xã hội học, tâm lý học, sử học… với mong muốn có cái nhìn đa chiều và toàn
diện hơn về chủ đề nghiên cứu. Ngoài ra, luận văn còn thu thập, kế thừa và phân tích

19
các tài liệu thống kê, tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài ở trung ương và địa
phương.
1.2.3. Một số khái niệm cơ bản
1.2.3.1. Khái niệm gia đình
- Khái niệm chung về gia đình
Gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội chuyên
biệt, vì thế việc sử dụng các khái niệm, các lí thuyết khác nhau là điều thường xảy ra.
Từ mỗi góc độ nghiên cứu hay một ngành khoa học, khi xem xét về gia đình đều có
thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu. Đối với
ngành dân tộc học, gia đình là nơi biểu hiện những sắc thái văn hóa độc đáo của tộc
người, vì vậy việc xác định khái niệm gia đình có vai trò vô cùng quan trọng.
F. Engels đã đề cập đến khái niệm gia đình trong tác phẩm: Nguồn gốc gia
đình, của chế độ tư hữu và nhà nước với một trong những khái niệm đầu tiên về gia
đình của Morgan: Gia đình là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng yên tại

chính là tập hợp những người có cùng quan hệ huyết thống sống chung dưới một mái
nhà. Người Sán Dìu còn có từ ốc để chỉ cả nhà và gia đình, nhà là nơi tập hợp và cư trú
của các thành viên, đứng đầu là người cha, người chồng (chủ gia đình). Các thành viên
trong gia đình lưu truyền các kiến thức tích lũy được từ thế hệ này sang thế hệ khác,
bảo tồn những khía cạnh tâm linh trong gia đình truyền thống, cùng sản xuất, phân
phối và tiêu dùng của cải vật chất.
Người Sán Dìu di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam trong thời kì Nho giáo
đang phát triển. Vì vậy gia đình người Sán Dìu chịu những ảnh hưởng khá sâu sắc
của tư tưởng Nho giáo, biển hiện rất rõ ở các nghi lễ gia đình và các mối quan hệ
như: con cái với bố mẹ, bố chồng và con dâu, anh chồng và em dâu, các cháu với
các bậc chú bác trong họ… cùng các kiêng kị nhất định trong đời sống hàng ngày.
Gia đình người Sán Dìu không đơn thuần là một đơn vị tình cảm chung
huyết thống, mà còn là một đơn vị kinh tế thống nhất, tài sản trong gia đình đều là
của chung, mọi người cùng lao động, cùng hưởng thụ, cùng thực hiện chức năng
tái sản xuất ra con người, chức năng văn hóa, giáo dục và xã hội. Trong gia
đình truyền thống, địa vị của người phụ nữ rất thấp kém, quyền quyết định chủ yếu
thuộc về người đàn ông. Con cái phải phụ thuộc theo mọi sự sắp đặt của cha mẹ.

21
Phong tục của người Sán Dìu quy định, con gái đi lấy chồng thì hoàn toàn là người
của nhà chồng; cha mẹ đẻ và con gái hầu như không có liên lạc với nhau.
1.2.3.2. Một số khái niệm khác
Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi
người công nhận và tuân theo [36, tr.1216]. Phong tục sinh ra do nhu cầu cuộc sống,
phát triển và định hình theo sự định hình của xã hội, tạo nên nếp sống truyền thống. Sinh
hoạt phong tục cho thấy cho thấy rõ rệt tâm thức folklore và ứng xử folklore của quần
chúng qua sự bền vững và biến đổi của nó [34, tr.779].
Tập quán là thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống xã
hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và tuân theo [36,
tr.1393].

tổng thể những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thể hiện chức
năng cố kết tộc người hình thành nên truyền thống tộc người [35, tr. 356]. Các yếu tố văn
hóa tộc người truyền thống làm nên diện mạo của nó, bao gồm các thành tố văn hóa vật
thể (làng bản, nhà cửa, công cụ sản xuất, đồ gia dụng,, quần áo, trang sức, đồ ăn thức
uống…) và các thành tố văn hóa phi vật thể (tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ cưới xin, ma
chay, sinh đẻ, lễ hội, âm nhạc, nghệ thuật, sinh hoạt dòng họ, hôn nhân và gia đình…).
1.3. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Tên gọi và nguồn gốc tộc người
Người Sán Dìu ở Việt Nam trước đây vẫn tự gọi dân tộc mình là San Dáo Nhín,
có nghĩa là Sơn Dao Nhân (tức người Dao ở trên núi). Các dân tộc lân cận dựa trên đặc
điểm cư trú, phương thức canh tác hoặc y phục truyền thống của người Sán Dìu mà gọi
họ bằng các tên khác như: Trại đất (người Trại ở nhà đất) để phân biệt với Trại cao
(người Cao Lan ở nhà sàn), Trại ruộng (người Trại làm ruộng), Trại cộc, Mán cộc,
Mán quần cộc (trang phục quần cộc), Mán váy xẻ (phụ nữ mặc váy xẻ), Slán Dao…
Tháng 3 năm 1960, Tổng cục thống kê Trung ương ghi nhận tên gọi của tộc
người là Sán Dìu. Căn cứ vào ngôn ngữ và một số phong tục tập quán, người Sán Dìu
được xếp vào hệ ngôn ngữ Hán - Tạng ở Việt Nam. Từ đây, tên Sán Dìu là tên gọi
chính thức trong các văn bản của Nhà nước.

23
Người Sán Dìu có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời trên lãnh thổ
Việt Nam. Vấn đề nguồn gốc của tộc người Sán Dìu được đề cập đến với các ý kiến
đa chiều thể hiện mối quan tâm của các nhà nghiên cứu dân tộc học từ nhiều thế kỉ.
Trước tiên có thể kể đến Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn từ thế kỷ XVIII, trong
đó có mô tả tới các tộc người ở Tuyên Quang như: người Nùng, người Sá, người La
Quả, người Thổ, người Man… [14, tr. 19], trong đó người Man ở đây là Sơn Man, chính
là người Sán Dìu. Tuy nhiên, cũng cần nói rằng, dưới chế độ phong kiến Việt Nam,
không riêng gì người Dao mà nhiều dân tộc khác như Hmông, Pà Thẻn, Sán Chay
(nhóm Cao Lan)… đều được gọi là Man; ta có thể nghĩ Man ở đây là người Dao, Sơn
Man tức là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu, vì vậy rất có thể người Sán Dìu có

phận người Sán Dìu đi đúng đường lên sinh sống ở miền núi, một số đến sau đi sai
đường xuống cư trú ở đồng bằng.
Phỏng vấn những người cao tuổi ở xã Ninh Lai và tham khảo gia phả của một
số gia đình (hiện nay gia đình cụ Đỗ Văn Truyền và cụ Lưu Kim Thanh ở thôn Hội Kế
vẫn còn lưu giữ) có ghi lại rằng: Trong thời buổi loạn lạc và đói kém, người Sán Dìu
tìm sang Việt Nam theo đường biển tới vùng Móng Cái, Mạo Khê, Đông Triều của
tỉnh Quảng Ninh. Khi dừng chân, một nhóm người quyết định ở lại sinh sống ở đây,
phần còn lại tiếp tục tiến sâu và đất liền đến huyện Chí Linh của tỉnh Hải Dương (hiện
nay vẫn còn những vết tích của tộc người này đã từng sinh sống), sau đó theo dãy núi
Yên Tử vào tỉnh Bắc Giang. Từ địa bàn này, người Sán Dìu chia thành các nhóm nhỏ:
có nhóm đi đến các huyện Yên Thế, Lạng Giang, Lục Ngạn của Bắc Giang, có nhóm
đi tới vùng trung du của tỉnh Vĩnh Phúc như các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình
Xuyên, Vĩnh Yên, nhóm khác lưu tán tới Thái Nguyên và cư trú tại các huyện Phú Bình,
Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương. Một số theo hướng đông bắc đến sinh sống tại tỉnh Tuyên
Quang và chỉ cư trú ở khu vực gò đồi thấp của huyện Sơn Dương. Trong quá trình thiên
di sang Việt Nam, có những bộ phận người duy trì được nguồn gốc Sán Dìu của mình,
nhưng không ít người đã bị hoà lẫn với những dân tộc khác.
Ở Ninh Lai, người Sán Dìu sống liền kề cùng dân tộc Kinh và Dao, họ luôn
đoàn kết và giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất và sinh hoạt đời sống hàng ngày.
Người Sán Dìu không sống đan xen với các tộc người khác mà quần tụ lại thành những
khu vực riêng biệt. Trong hôn nhân lựa chọn kết hôn với những người đồng tộc luôn

25
được ưu tiên. Họ rất chừng mực trong giao tiếp với các dân tộc khác và đặc biệt tránh
xảy ra xô sát.
Lịch sử tộc người Sán Dìu cho thấy một trang đấu tranh hào hùng, bất khuất để
sinh tồn và bảo vệ giống nòi, sự phát triển lâu dài của họ gắn bó với quá trình đấu tranh
dựng nước và giữ nước của Việt Nam, họ là một bộ phận của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam.
1.3.2. Điều kiện tự nhiên, môi trường

c - 13
o
c. Lượng mưa bình quân hàng năm 1.500 mm -

26
1.800 mm, năm có lượng mưa cao từ 2.400 mm - 2.420 mm, năm có lượng mưa thấp
từ 1.100 mm - 1.200 mm. Độ ẩm trung bình là 85%.
Trên địa bàn xã có sông Đáy chảy qua, tạo nên hệ thống suối, khe, lạch với
nguồn nước phong phú, thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp.
- Tài nguyên thiên nhiên
+ Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Ninh Lai là 783,09 ha. Trong
đó đất dành cho nông nghiệp là 640,07 ha, chiếm hơn 80% diện tích đất đai, gồm đất
trồng cây hàng năm như lúa, cỏ, đậu tương và đất trồng cây công nghiệp như chè, mía
Diện tích đất phi nông nghiệp - đất sông suối, đất ở chiếm khoảng 15,7% diện tích. Còn
lại là diện tích đất bằng, đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây, chiếm
4,3% [10, tr.121].
+ Tài nguyên khoáng sản: Đến nay trên toàn huyện Sơn Dương đã phát hiện
được 9 điểm có quặng thiếc. Riêng ở xã Ninh Lai, chỉ có 1 điểm với trữ lượng cả
quặng và quặng sa khoáng khoảng 700 tấn; mănggan trữ lượng khoảng 230 nghìn tấn;
bên cạnh đó còn có đá vôi, ăngtimoan là các loại khoáng sản quý phục vụ cho công
nghiệp hoá chất và chế tạo máy.
Đây là những điều kiện thuận lợi để xã Ninh Lai có thể góp phần cùng với huyện
và tỉnh đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khai thác tài nguyên phục vụ
đời sống người dân, thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội trong tương lai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status