Nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư bò sát ở xã thiện khê, huyện sơn dương, tỉnh tuyên quang - Pdf 31

TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thiện Kế là một xã vùng núi nằm trong vùng đệm của VQG Tam
Đảo. Diện tích toàn xã là 3104,38 ha. Địa hình chủ yếu của xã là đồi núi
với nhiều khe suối nhỏ, ngắn và dốc. Mặc dù trong vùng đệm của VQG
Tam Đảo nhưng thành phần loài LC-BS nói riêng, khu hệ động vật nói
chung của xã Thiện Kế chưa được nghiên cứu cụ thể.
Tổng quan chung về VQG Tam Đảo chúng tôi thấy đây là một khu
giàu có về nguồn tài nguyên động vật, là nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi
đẹp, một trung tâm du lịch giàu tiềm năng. Nhưng cũng giống như với các
hệ sinh thái rừng khác ở nước ta, VQG Tam Đảo cũng đang bị tàn phá nặng
nề, tài nguyên rừng bị giảm sút, nhiều loài động vật, thực vật (trong đó có
nhiều loài thuộc lớp LC-BS) đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt.
Khu hệ LC-BS ở VQG Tam Đảo khá phong phú và được nhiều tác giả
như: Bourret, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Lê Nguyên Ngật, Nguyễn
Thị Thuận nghiên cứu. Nhưng hầu hết các công trình của họ chủ yếu được
thực hiện ở khu vực phía Nam (Khu du lịch Tam Đảo, Thị trấn Tam Đảo
(Vĩnh Phúc)) [12]. Từ năm 2007 đến nay, tác giả Đỗ Thế Hải và Nguyễn
Trung Thành đã khảo sát ở khu vực phía Đông (Thái Nguyên). Khu vực
phía Tây do điều kiện giao thông đi lại khó khăn, địa hình, địa mạo hiểm
trở hơn nên chưa được chú ý. Để thống kê đầy đủ thành phần các loài LCBS cũng như khu vực phân bố chủ yếu của các loài LC-BS, chúng tôi chọn
đề tài “Nghiên cứu thành phần hloài LC-BS ở Thiện Kế, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang” thuộc khu vực sườn phía Tây của Vườn Quốc gia Tam
Đảo.
II.

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU LC-BS
LC-BS ở Việt Nam đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX. Song ban
đầu chủ yếu là do các nhà khoa học nước ngoài thực hiện như: Tirant
(1885), Boulenger (1903), Smith (1921, 1924, 1932). Đáng chú ý nhất là
các công trình nghiên cứu LC-BS Đông Dương của Bourret (1934, 3944)
trong đó có Việt Nam. Công trình nghiên cứu tiêu biểu của Bourret gồm:
1934 - 1941: Các thông báo về LC-BS Đông Dương (tập 1)
1942: Khu hệ ếch nhái Đông Dương và các loài rùa Đông Dương
1943: Giới thiệu khoá định loại Thằn Lằn Đông Dương
Sau hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954), các nghiên cứu về thành phần
loài LC-BS mới tăng cường bởi các tác giả Việt Nam.
* 1960 - 1970: Đào Văn Tiến và cộng sự đã tiến hành điều tra ở khu
vực Vĩnh Linh (Quảng Trị) thống kê được 1 loài ếch nhái, 2 loài thằn lằn, 4
loài rắn và 2 loài rùa, trong đó có 1 loài mới (Annamensis grochovsbiac);
1962 ông công bố tiếp 2 loài là Trăn đất (Python molurus) và Ba ba gai
(Palea sicidachneri) sưu tầm ở Đình Cả, Thái Nguyên. Năm 1968 - 1970
Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh như:
Hà Bắc, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Tĩnh …..[54].
* 1970 - 1990: Thêm một số công trình: “Kết quả điều tra cơ bản
động vật miền Bắc Việt Nam”, 1981 (phần LC-BS) của các tác giả Trần

* 1987 - 1988 - 1989: Trần Kiên cùng Hoàng Nguyễn Bình nghiên
cứu về đặc tính sinh thái học của Rắn cạp nong (Bungasrus fasciatus) và
Rắn cạp nia bắc (Bungarus multicinctus) [3]
1991 - 1992: Trần Kiên, Lê Nguyên Ngật nghiên cứu một số đặc điểm của
Rắn hổ mang non (Naja naja) trong điều kiện nuôi [13] ….
1993: Trần Kiên, Đinh Thị Phương Anh nghiên cứu sự sinh sản và dinh
dưỡng của Rắn ráo (Ptyas korros) nuôi trong lồng [14, 15]
1995: Nguyễn Văn Sáng, Lê Sỹ Thục với nghiên cứu về sự sinh sản của
Các cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) trong điều kiện nuôi.
1997 Lê Nguyên Ngật, Đoàn Thị Phương Lý nghiên cứu tập tính của Cá
cóc tam đảo (Paramesotriton deloustali) trong điều kiện nuôi.[23]
* 1999 - 2002: Trần Kiên, Ngô Thái Lan với nghiên cứu sự sinh sản
của Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) trong điều kiện nuôi [17]
và nhiều nghiên cứu khác của các tác giả khác.
Các kết quả nghiên cứu đã được công bố rộng rãi, trở thành mối quan tâm
của nhiều người dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhưng hầu hết các nghiên
cứu mới được thực hiện ở khu vực trung tâm của các VQG, khu BTTN.
Còn khu vực thuộc vùng đệm, các địa phương nhỏ lẻ vẫn chưa được chú ý.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.2.1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính

- Khu vực xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang nằm
trong khoảng 2103 - 2104 vĩ độ Bắc và 10502 - 10505 kinh độ Đông.
- Diện tích: 3104,38 ha
+Phía Bắc giáp với xã Hợp Hoà, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.
+Phía Nam giáp với xã Ninh Lai, Sơn Dương, Tuyên Quang.
+Phía Đông tiếp giáp với vùng lõi Vườn Quốc gia Tam Đảo.
+Phía Tây ngăn cách với xã Sơn Nam, Sơn Dương, Tuyên
Quang bởi sông +Phó Đáy.

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

- Nhiệt độ trung bình: 200C
Nhiệt độ cao tuyệt đối (mùa hè): 33,10 - 35,60
Nhiệt độ thấp tuyệt đối (mùa đông): 00 - 20
- Lượng mưa năm: 2630,9mm
- Số ngày mưa: 193,7
- Số giờ nắng: 1500
- Độ ẩm tương đối: 87%
- Độ ẩm cực tiểu: 6%
- Bốc hơi nước: 561,5
Vào mùa hè và mùa thu tổng lượng mưa rất cao, khoảng 90% lượng
mưa của năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Tần suất xuất
hiện các cơn mưa to trong mùa hè hơn 20%, tập trung nhất vào khoảng
tháng 7, tháng 8.
Về mùa đông và mùa xuân lượng mưa không đáng kể, chiếm 10%
lượng mưa của năm. Thời tiết khô hanh đôi lúc có gió mạnh.
1.2.4. Thủy văn

Do đặc điểm địa hình, Thiện Kế có mạng lưới khe, suối nhỏ và trung
bình rất nhiều. Hầu hết các khe, suối này đều nhỏ, ngắn, dốc. Các suối đều
bắt nguồn từ phía Đông (đỉnh dãy núi Tam Đảo) đổ thẳng xuống phía Tây
là sông Phó Đáy.
Với đặc điểm khí hậu: có mưa lớn, mùa mưa kéo dài, lượng nước
bốc hơi ít nên đa số khe suối có nước chảy quanh năm như suối Làng
Thiện, suối Cả Nhật Tân, suối Gò Ranh, Ngòi Liệt…
Chế độ thủy văn chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa lũ (từ tháng 4 đến tháng
10), mùa cạn (tháng 11 đến tháng 3). Lũ thường xảy ra vào tháng 7 và 8, lũ
có đặc điểm tập trung nhanh và rút nhanh, phân phối dòng chảy giữa 2 mùa
rất chênh lệch.

toàn như Hươu sao, Vượn đen, Hổ… Nhiều loài đang trong tình trạng nguy
cấp (Vọoc mũi hếch, Cá cóc tam đảo, Rắn hổ chúa, Rùa núi vàng…).
Nhóm LC-BS nhìn chung còn đầy đủ về thành phần loài, nhưng một số loài
đang ở mức độ báo động: Rùa sa nhân, Ếch giun, Tắc kè, Trăn đất, Rắn hổ
chúa…
1.2.6. Đặc điểm nhân văn

Theo số liệu của Ủy ban Nhân dân xã Thiện Kế (năm 2009). Toàn xã
có 15 thôn, bản, 1194 hộ gia đình với 5901 nhân khẩu. Gồm 5 dân tộc:
-

Dân tộc Sán Dìu có 695 hộ gia đình với 3110 nhân khẩu.
Dân tộc Dao là 47 hộ với 247 khẩu.
Dân tộc Hoa có 46 hộ, 187 khẩu.
Dân tộc Tày gồm 5 hộ, 31 khẩu.
Dân tộc Cao Lan có 1 hộ với 9 nhân khẩu.
Còn lại là dân tộc Kinh.
Trình độ dân trí không đều, đa số dân cư của xã làm nông nghiệp,
trình độ văn hóa thấp. Đây là một trong những trở ngại lớn của việc phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

7

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC


2.3. Phương Pháp nghiên cứu
a. Khảo sát và điều tra

- Khảo sát dọc theo khe suối của dãy núi Tam Đảo, ở các độ cao khác
nhau của xã Thiện Kế.
- Khảo sát khu vực đồng ruộng, khu vực ven sông Phó Đáy và khu dân
cư xã Thiện Kế.
- Điều tra, phỏng vấn nhân dân địa phương về tình hình đánh bắt,
buôn bán LC-BS trong khu vực nghiên cứu.
b. Nghiên cứu đặc điểm sinh cảnh sống của một số loài LC-BS

8

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

- Trong quá trình khảo sát thực địa, thu bắt mẫu. Chúng tôi kết hợp
quan sát, ghi chép lại đặc điểm sinh cảnh sống của một số loài LCBS.
- Nghiên cứu sự phân bố của LC-BS theo 3 sinh cảnh: dân cư, đồi núi
và đồng ruộng.
- Nghiên cứu LC-BS theo 4 tầng: trong nước, trong hang, trên mặt đất
và trên cây.
- Nghiên cứu thành phần thức ăn của một số LC-BS bằng cách nôn
thức ăn và mổ dạ dày.
c. Thu mẫu, xử lí và bảo quản mẫu vật


Từ kết quả nghiên cứu trên, đã xác định được khu vực xã Thiện Kế có
tổng là 42 loài LC-BS. Trong đó, Lưỡng cư có 18 loài thuộc 14 giống, 8
họ, 3 bộ và Bò sát có 24 loài thuộc 20 giống 13 họ và 2 bộ cụ thể được
trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Danh sách các loài LC-BS của xã Thiện Kế

STT

Tên khoa học

Tên Việt Nam

(1)

(2)
AMPHIBIA
I. APODA

(3)
LỚP ẾCH NHÁI
BỘ CHÂN
KHÔNG
Họ Ếch giun
Ếch giun

1

2

3

(5)

(6)

Mức
độ
quý
(7)

QS

+

N

VU

M

++

N

EN

M

+

N

Họ Cóc bùn
Cóc mày gai mí

Cóc mắt bên
Họ cóc
Cóc nhà
Cóc rừng
10

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh

VU


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

7

8
9
10
11
12
13
14
15

16

17

(Boulenger ,1882)
Amolops ricketti
(Boulenger, 1899)

Chàng anđécsơn

7. Rhacophoridae

Họ ếch cây

Họ Ếch nhái
Cóc nước sần

+

ĐR

M

+++

M

+ + + ĐR

M

+ + + ĐR

M


EN

Ếch đồng

Ngóe
Chẫu chuộc
Ếch trơn
Ếch gai

Ếch bám đá
M

Polypedates leucomystax Ếch cây mép trắng
(Gravenhorst, 1829)
8.Micrchylidae
Kaloula pulchra
(Gray, 1831)
Microhyla phulchra
(Hallowell, 1861)
REPTILIA
IV. SQUAMATA
9. Gekkonidae
Gekko gecko
(Linnaeus, 1758)
Hemidactylus frenatus
(Schlegel, 1836)
10. Agamidae
Acanthosaura
lepidogaster


Thạch thùng đuôi
M
sần
Họ Nhông
Ôrô vảy
M
11

+

DC,
ĐN

+ + + DC

++

N

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

22

23
24


(Daudin, 1802)
13. Varanidae
Varanus salvtor
(Laurenti, 1786)
14. Typhlopidae
Ramphotyphlops
braminus
(Daudin, 1843)
15. Boidae
Python molurus
(Linnaeus, 1758)
16. Xeropeltidae
Xenopeltis unicolor
(Reinwardt, 1827)
17. Colubridae
Xenochrophis piscatar
(Schneider, 1799)
Amphiesma stolata
(Linnaeus, 1758)
Elaphe rediata
(Schlegel, 1837)
Ptyas korros
(Schlegel, 1837)
Rhabdophis subminiatus
(Schlegel, 1837)
18. Elapidae
Bungarus fasciatus
(Schneider, 1801)
Bunganus condidus
(Blyth, 1861)

ĐT

-

ĐN

M

+

ĐN

ĐT

-

ĐN

QS

+

ĐR

M

++

ĐR


Kì đà nước

VU

EN

Họ Rắn giun
Rắn giun thường

Họ Trăn
Trăn đất
Họ Rắn mống
Rắn mồng
Họ Rắn nước
Rắn nước
Rắn sãi thường
Rắn sọc dưa
Rắn ráo thường
Rắn hoa cỏ nhỏ
Họ Rắn hổ
Rắn cạp nong
Rắn cạp nia
Rắn hổ mang
Rắn hổ chúa
12

CR

VU


Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

39
40

41

42

19. Viperidae
Trimeresurus
mucrosquamatus
(Gunther, 1839)
Trimeresurus stejneyeri
(K. Schmidt, 1925)
V. TESTUDINATA
20. Emydidae
Pyxidea movhoti
(Gray, 1862)
21. Testydudae
Indotestudo elongata
(Blyth, 1853)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Họ Rắn lục
Rắn lục cườm

Tư liệu: M = Mẫu; QS = Quan sát; ĐT = Điều tra
Tần suất gặp:

(+) = Chỉ gặp 1 đến 2 lần.
(+ + ) = Số lần gặp khoảng từ 2 đến 10 lần.
(+ + +) = Gặp nhiều (> 10 lần)
(-) = Không gặp lần nào

Sinh cảnh: DC = Dân cư; ĐR = Đồng ruộng; ĐN = Đồi núi
Mức độ quý hiếm: EN = Nguy cấp; VU = Sẽ nguy cấp; CR = Rất
nguy cấp (Theo danh lục Sách Đỏ Việt Nam).
Qua bảng thấy khu hệ LC-BS của xã Thiện Kế, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang gồm 5 bộ, 21 họ và 42 loài. Trong đó Lưỡng cư có 3 bộ ,
8 họ và 18 loài, Bò sát có 2 bộ, 13 họ và 24 loài. Chiếm ưu thế là bộ Có
vảy (Squamata) với 11 họ và 22 loài, tiếp đến là bộ Không đuôi (Anura)
với 6 họ và 16 loài. Về họ, chiếm ưu thế là họ Ếch nhái (Ranidae) với 8
loài (19,05%), họ Rắn nước (Colubridae) có 5 loài (11,90%), họ Rắn hổ
(Elapidae), 4 loài (9,51%). Các họ khác mỗi họ chỉ có 1 đến 2 loài.
So sánh thành phần phân loại học LC-BS của xã Thiện Kế với một
số khu BTTN, VQG và khu vực lân cận như: VQG Tam Đảo[10], Đầm Ao
Châu (Hạ Hòa - Phú Thọ)[7], Khu BTTN Xuân Sơn (Phú Thọ)[24], VQG
Ba Vì[23], xã Kháng Nhật(Tuyên Quang)[Thế An, 2005], Xã Trung
Mỹ(Vĩnh Phúc)[Đỗ Thế Hải, 2009] được trình bày ở bảng 2.

13

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh

EN


Số
loài
42
179

Mật độ
Loại/ha
0.014
0.005

Số họ

280

4

20

54

0.193

7013
7377
28070
4478

3
4
4

đây hệ LC-BS không chỉ chỉ đa dạng về số lượng loài mà còn đa dạng cả
về số bộ và số họ.
2.2. Các loài LC-BS quý, hiếm của khu vực xã Thiện Kế
Căn cứ vào Sách Đỏ Việt Nam (phần Động vật, 2007), Nghị định
32/2006 NĐ-CP của chính phủ ngày 30-03-2006 về quản lý động vật rừng
và thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và Danh lục đỏ IUCN(2007). Chúng
tôi đã đưa ra được xã Thiện kế có 15 loài (chiếm 36.67%) quý hiếm trong
tổng số 42 loài đã thống kê.
Cụ thể có: 3 loài (Trắn đất, Cóc mày gai mí, Rắn hổ chúa) xếp ở mức
rất nguy cấp (CR); 7 loài (Kì đà nước, Rắn ráo thường, Rắn cạp nong, Rắn
hổ, Rùa núi vàng, Cá cóc tam đảo, Ếch gai) ở mức nguy cấp (EN); 5 loài
14

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

(Tắc kè, Rồng đất, Rắn sọc dưa, Ếch giun, Cóc rừng) xếp ở mức độ sẽ nguy
cấp (bậc VU) [4, 19], thể hiện ở bảng 3.
Bảng 3: Các loài LC-BS quý, hiếm ở xã Thiện Kế

STT Tên khoa học
1
1
2
3
4

Rana Andersoni

Tên Việt Nam
3
Tắc kè
Rồng đất
Kì đà nước
Trăn đất
Rắn sọc dưa
Rắn ráo thường
Rắn cạp nong
Rắn hổ mang
Rắn hổ chúa
Rùa núi vàng
Cá cóc tam đảo

DLD
UICN
(2007)
4
T
V

SĐVN
(2007)

Nhị định
32/CP

5


VU
VU

Chàng anđécsơn

VU

IIB
IIB
IIB
IIB
IIB
IB
IIB
IIB

CR

Ghi chú:
Sách Đỏ Việt Nam (2007): CR = Rất nguy cấp; EN = Nguy cấp; VU
= Sẽ nguy cấp.
Nghị định số 32/2006 NĐ – CP của Chính phủ ngày 30 tháng 3 năm
2006 về Quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm: IB =
Nghiêm cấm khai thác sử dụng; IIB = Hạn chế khai thác sử dụng.
Danh lục Đỏ IUCN (2007): E= Nguy cấp; R= Hiếm; V= Sẽ nguy
cấp; T= Bị đe dọa.
2.3. Một số đặc điểm sinh học và sinh thái học của LC-BS ở khu vực xã
Thiện Kế
2.3.1. Nơi phân bố


Bò sát
6
4
21

9
11
31

(%)
17.6
21.7
60.7

Kết quả khảo sát trên 3 sinh cảnh cho thấy:
Khu vực đồi núi có số loài phong phú nhất 31 loài (60.7%), khu vực
đồng ruộng và khu dân cư có số loài sinh sống ít hơn. Khu vực đồng ruộng
có 11 loài (21.7%), ít nhất là khu dân cư chỉ có 9 loài (17.6%). Sở dĩ như
vậy là do khu vực đồi núi, thảm thực vật còn nhiều, có nhiều khe, suối có
nước chảy hoặc ẩm ướt. Hơn nữa khu vực này ít bị tác động của con người
nhất so với 3 sinh cảnh trên. Đây là nơi có nhiều chỗ trú ẩn và còn nhiều
thức ăn cho các loài LC-BS.
Sinh cảnh đồng ruộng có số loài chỉ bằng 1/3 sinh cảnh đồi núi do trong
những năm gần đây bên cạnh việc luân canh, thâm canh tăng vụ người
nông dân còn sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh hóa học để
nhằm tăng năng suất cây trồng, đồng thời săn bắn một số loài sử dụng làm
thực phẩm. Ngoài ra thì diện tích đất nông nghiệp hiện nay đang bị thu hẹp
để nhường chỗ cho công trình phúc lợi xã hội như: trường học, trạm y tế,
nhà văn hóa, công trình thủy lợi, thủy điện…làm cho diện tích đất nông


Trên mặt đất

3
2
5
11.9%

1
1
2
4.7%

11
14
25
59.5%

Trên cây
(vách đá,
tường nhà)
2
8
10
23.9%

Từ bảng 5, chúng tôi có nhận xét sau:
LC-BS tập trung chủ yếu trên mặt đất 25 loài (chiếm 59.5%) trong đó
Lưỡng cư có 11 loài: Cóc nhà (Bufo melanostictus), Cóc rừng (Bufo
galeatus), Cóc mày gai mí (Megophrys longipes), Ếch gai (Paa spinosa)…


Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ôrô vảy (Acanthosaura lepidogaster), Rắn lục (Trimeresurus stejnegeri)…
có thức ăn chủ yếu là côn trùng, kiến, sâu bọ trên cây. Đối với loài sống
trên mặt đất như: Rắn hổ mang (Naja naja), Rắn hổ chúa (Ophiophagus
hannah), Rắn ráo (Ptyas korros) ăn các động vật như: chuột, cóc, rắn nhỏ,
ngóe, ếch, thằn lằn… Riêng Rắn giun ăn giun, mối và côn trùng trong đất.
Nhóm ăn tạp: Rồng đất (Physignathus cocinicinus) ăn giun đất, cua, côn
trùng, cá nhỏ, lá cỏ. Ba ba ăn ốc, cua, tôm, thực vật thủy sinh.
Nhóm ăn thực vật: nhóm này gặp ở đa số các loài rùa. Rùa sa nhân
(Pyxidea mouhoti) chỉ ăn quả của cây sa nhân, còn các loài rùa cạn khác ăn
quả và lá cây, một số ăn nấm.
Thành phần thức ăn của bò sát còn phụ thuộc vào nơi sống, phụ
thuộc vào mùa và kích thước cơ thể.
Qua nghiên cứu cho thấy, hầu hết các loài LC-BS có thành phần thức
ăn là các loài côn trùng, ấu trùng côn trùng, giáp xác (tôm, cua,..), cá nhỏ,
một số ăn chuột. Tất cả các loại thức ăn đa số là các loài có hại cho nông
nghiệp và con người. Vậy bảo vệ các loài LC-BS là bảo vệ mùa màng, bảo
vệ nên nông nghiêp.
2.3.3. Sự sinh sản của LC-BS

Hầu hết các loài LC-BS đều phân tính, cá thể đực thường to hơn cá
thể cái hoặc ngược lại cá thể cái lớn hơn cá thể đực tùy thuộc vào loài. Vào
mùa sinh sản nhiều loài xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp như màu

chúa, Rắn hổ mang, Tắc kè, Rùa sa nhân,…
Theo điều tra, phỏng vấn người dân địa phương như ông Triệu Văn
Bình (thôn Thiện Tân), người hay đi rừng săn bắt các loài LC-BS để bán.
Khoảng 10 năm về trước, số lượng cá thể ở các loài LC-BS rất nhiều. Bởi
vì mỗi khi trời mưa hoặc sẩm tối đi trên đường, theo suối cũng như cánh
đồng gặp rất nhiều Ếch nhái, Ngóe, Chẫu chuộc, Ễnh ương và có thể bắt
được vài kg Ếch đồng. Nếu đi lên rừng sau khi trời mưa đôi khi bắt được
hàng trăm con Ếch gai. Một ngày đi bắt Cá cóc tam đảo cũng được 30 đến
40 con, đôi khi còn được nhiều hơn. Những ngày nắng, vào buổi trưa đi
ven đường hoặc theo bờ ruộng, theo triền đồi gặp nhiều rắn nằm sưởi nắng
hay bắt mồi, Thằn lằn nằm phơi mình trên đá, trên bãi cỏ.
Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây ông Bình thường xuyên đi bắt LCBS nhưng rất ít thấy điều đó. Bây giờ thậm chí đi vài ngày vào tận rừng sâu
cũng chỉ bắt được vài con Cá cóc tam đảo, còn rắn thì may mắn lắm mới
gặp một con. Điều đó chứng tỏ số lượng các loài LC-BS đang suy giảm
một cách nghiêm trọng.
Theo tôi, nguyên nhân gây suy giảm số lượng loài LC-BS là do:
Phá rừng làm mất nơi cư trú.
Sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học quá nhiều.
Săn bắt, khai thác sử dụng bừa bãi.
Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng.
Do dịch bệnh.
Cụ thể:
Phá rừng làm mất nơi ẩn nấp, cư trú của các loài LC-BS.
Hiện nay, rừng ở xã Thiện Kế đang bị tàn phá nặng nề, đặc biệt là
khu vực Ngòi Cho và Ngòi Liệt ở đầu nguồn suối Thiện. Diện tích rừng bị
giảm là do các nguyên nhân sau:
Dân số đông, tăng nhanh. Theo số liệu của Ủy ban Nhân dân xã
Thiện Kế năm 2005 là 5029 người đến 2009 dân số tăng lên 5901 người.
Trong 5 tăng gần 1000 người. Trung bình 1 cặp vợ chồng người dân tộc
(Tày, Cao Lan, Sán Dìu, Dao) sinh 3-5 con. Điều đó cho thấy dân số ở xã

không tồn tại trong môi trường có độ axit quá lớn, thức ăn nghèo nàn dẫn
đến ấu trùng bị chết.
Ngoài ra việc sử dụng các loại thuốc sâu phun cho cây trồng không
chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến Lưỡng cư trưởng thành, con non và ấu trùng,
mà nồng độ thuốc trừ sâu cao làm chết các loài côn trùng, giáp xác, sâu là
thức ăn của các loài Lưỡng cư gây ảnh hưởng gián tiếp đến đời sống của
chúng.
Vậy việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, ngoài ảnh hưởng
gián tiếp ( môi trường sống thay đổi, thức ăn khan hiếm) còn ảnh hưởng
trực tiếp đến sự sống của nhiều loài LC-BS. Đó là một trong những nguyên
nhân gây suy giảm số lượng của các loài LC - BS.
* Săn bắt và sử dụng bừa bãi.
Vấn đề khai thác, săn bắt và sử dụng bừa bãi nguồn tài nguyên động
vật đặc biệt là LC-BS hiện nay đang là nguyên nhân khiến số lượng các
loài LC-BS giảm nhanh nhất. Đặc biệt là các loài có giá trị kinh tế như:
Rắn hổ mang, Rùa sa nhân, Rùa núi vàng,Cá cóc tam đảo. Chúng bị săn bắt
làm thực phẩm, dược liệu và mục đích thương mại khác nên còn rất ít ngoài
tự nhiên. Nhiều loài LC-BS được dân địa phương bắt để làm thức ăn trong
bữa cơm hàng ngày như: Ếch đồng, Ếch gai, Rắn ráo, Cóc, Kì đà…
Một số loài LC-BS hoặc sản phẩm (nọc, mật, vảy…) của chúng là
một trong những vị của các bài thuốc đông y cũng như những bài thuốc dân
gian.
Hiện nay, một số loài LC-BS quý hiếm bị săn bắt nhiều vì mục đích
thương mại. Đa số người dân nơi đây đi bắt các loài LC-BS quý về để bán,
ít ai để dùng. Vì nhiều loài có giá thành rất hấp dẫn. Ví dụ: Rắn hổ chúa có
giá 2.000.000đ/kg, Rùa núi vàng khoảng 1.000.000đ/kg, Ba ba trơn
330.000đ/kg, Tắc kè khoảng 80.000-150.000đ/con…Các loài này được các
lái buôn mua, sau đó chuyển lậu qua biên giới hoặc bán cho các nhà hàng
lớn ở các thành phố để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.


dịch bệnh cho một số loài: Theo kết quả phân tích của PTS. Hà Duy Ngọ
và cộng sự (phòng Kí Sinh Trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật)
đã phát hiện được 4 loài sán lá ( Diplocliscus subelavatus, Brachycoelium
salamandrae, Phyllodis tomun pulnsonalis, Mesocoelium tritoni) kí sinh và
gây bệnh đường ruột ở Cá cóc tam đảo. Một số loài giun tròn (Tanquatiara
strongyloides, Piratuba varanicola, Herpetostronyylus varani) gây bệnh ỉa
chảy ở Kì đà [18]. Ở rắn (Rắn bồng chì, Rắn hổ mang, Rắn ráo, Rắn cạp
nong) có một số loài sán lá (Ommatobrephus lobatum, Singhiatrema
vietnamersis) kí sinh ở hệ tiêu hóa (thực quản, dạ dày, ruột) và hệ hô hấp
(phổi), hệ bài tiết (thận) làm ảnh hưởng đến chức năng của cơ quan này
[22].
Trong 5 nguyên nhân đã đưa ra, 3 nguyên nhân đầu là nguyên nhân
chính gây ra suy giảm số lượng cũng như thành phần loài LC-BS ở xã
Thiện Kế, làm cho nhiều loài LC-BS (đặc biệt là loài quý, loài đặc hữu)
giảm sút trầm trọng và ở mức đe dọa tuyệt diệt. Thực trạng trên cho thấy
nhiều loài đang kêu cứu thảm thiết. Vậy chúng ta phải nhanh chóng đưa ra
các giải pháp cụ thể và khả thi để cứu lấy sự sống còn hết sức mong manh
của một số loài LC-BS ở khu vực xã Thiện Kế nói riêng, VQG Tam Đảo
nói chung.

21

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

2.5. Đề xuất biện pháp bảo tồn các loài LC-BS.

Khu vực xã Thiện Kế có nhiều loài LC-BS quý hiếm 15/42 loài.
Trong đó có 3 loài được xếp ở cấp CR A1c, d, 7 loài được xếp ở cấp EN
(với bậc ENA1c,d, ENA1d +2d, ENB1 + 2bcd), 5 loài được xếp ở cấp VU
(VUA1c,d, VUB1 +2a,b,c, VUB1 + 2a,b,c,d) trong Sách Đỏ Việt Nam[4],
ở nhóm IB và IIB trong Nghị định 32/2006/ NĐ- CP của chính phủ [19]. Vì
vậy, chính quyền địa phương và ban Quản lý VQG Tam Đảo cần có hình
thức sử phạt thật nặng về kinh tế, thậm chí có thể truy tố hình sự về hành vi
săn bắt, mua bán trái phép các loài LC-BS quý hiếm đã nêu bảng 3.
* Nhóm giải pháp bảo tồn
+ Bảo tồn tại chỗ (Insitu) tại địa phương và VQG Tam Đảo:
- Bảo tồn ngoài tự nhiên:
22

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh


TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Đánh dấu, khoanh vùng những chỗ có các loài LS-BS quý, hiếm sinh
sống, không cho người dân tiếp cận hoặc chặt phá những khu vực xung
quanh để tạo môi trường tự nhiên cho các loài này sinh sống và phát triển
ổn định. Đối với một số loài đẻ trứng, không cần ấp như: Ếch gai, Cá cóc
tam đảo có thể chủ động vớt trứng và nòng nọc về để đem nuôi dưỡng
riêng trong điều kiện an toàn và đầy đủ để giúp các con vật non vượt qua
giai đoạn khó khăn nhất trong đời sống của chúng, nhằm nâng cao tỷ lệ
sống sót rồi thả lại môi trường tự nhiên.
- Bảo tồn trong điều kiện nuôi tại địa phương:
Dựa trên những nghiên cứu về sinh sản của một số loài LC-BS như: Rắn

họ và 3 bộ, Bò sát có 24 loài với 13 họ và 2 bộ. So với khu vực lân
cận Thiện Kế không chỉ đa dạng về số loài mà đa dạng về cả số họ
và số bộ.
2. Thiện Kế thì có 15 loài (36.67%) được ghi trong sách Đỏ Việt Nam
(2007), 9 loài (21.43%) ghi trong nhóm IB, IIB của Nghị định
32/2006/NĐ- CP (2006), 1 loài đặc hữu của Việt Nam.
3. Sự phân bố các loài LC-BS không đều giữa 3 sinh cảnh dân cư, đồng
ruộng và đồi núi. Chủ yếu các loài LC-BS tập trung ở vùng đồi núi
(60.7%), còn ở khu vực khu dân cư (Nhà dân, đường giao thông, ven
bìa rừng…) và khu vực đồng ruộng thì ít hơn.
Thức ăn của đa số các loài LC-BS là côn trùng, ấu trùng, cá nhỏ,
giáp xác, chuột,…Hầu hết là các loài sâu bọ, động vật gẫy hại cho nông
nghiệp. Mùa sinh sản của loài LC-BS ở xã Thiện Kế thường vào mùa
mưa, kéo dài từ khoảng tháng 6 đến tháng 9.
4. Hiện nay số lượng các loài LC-BS ở xã Thiện Kế đang bị suy giảm
nghiêm trọng, nguyên nhân do: môi trường sống bị thu hẹp do rừng
bị tàn phá nặng nề, sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu chưa
đúng cách làm ảnh hưởng đến LC-BS sống ở khu vực đồng ruộng,
nạn khai thác, săn bắt, sử dụng bừa bãi các loài LC-BS, thiên tai, lũ
lụt, hạn hán, cháy rừng xảy ra làm số lượng cũng như môi trường
sống bị biến động, dịch bệnh xảy ra ở một số loài LC-BS.
5. Chúng tôi đưa ra 2 nhóm giải pháp là: Nhóm giải pháp về tuyên
truyền, quản lí và nhóm giải pháp bảo tồn (bảo tồn tại chỗ Intru và
bảo tồn ngoại vi Extru) nhằm bảo tồn, khôi phục và phát triển một số
loài quý hiếm có giá trị kinh tế, giá trị khoa học (Rắn hổ chúa, Rắn
hổ mang,Trăn đất, Cá nóc tam đảo, Ếch gai…) tại địa phương.

24

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh

Lưới, tỉnh Thừa Thiên- Huế. Tạp chí Sinh học, tập 24 số 2A: tr(2935).
9. Hồ Thu Cúc, 1992: Bảo vệ loài Cá cọc Paramamesotriton dloutali
một nguồn gen quý hiếm của Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo.
Khóa luận tốt nghiệp lớp sau đại hoc về Tài nguyên và môi trường,
Hà Nội: 27tr.
10. Hồ Thu Cúc, Nikolai, Orlor, Arny- Lathnop, 2000: Góp phần
nghiên cứu khu hệ Ếch nhái – Bò sát Vườn Quốc gia Tam Đảo. Hội
thảo khoa học về đa dạng Sinh học Vườn Quốc gia Tam Đảo,
30/11/2000.
11. Phạm Văn Hòa, Ngô Đắc Chứng, Hoàng Xuân Quang, 2000:
Khu hệ Ếch nhái- Bò sát ở vùng núi Bà Đen (Tây Ninh). Tạp chí
Sinh học, tập 22 số 1B: tr(24-29).
12. Hội các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam,
2001: Vườn Quốc gia Tam Đảo. Nxb Nông Nghiệp: 108tr.

25

Lý Thị Kiều Ân. K32A- Sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status