Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI BÍCH PHƯƠNG Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN TẠI
XÃ VĨNH LỢI, HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG”.KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến Nông
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2010 – 2014 Thái Nguyên - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


“Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang”.
Hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm
ơn tới thầy giáo ThS. Vũ Đức Hải là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi
trông suốt quá trình hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp, đồng thời cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông
thôn đã giúp tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cô, chú, anh, chị trong Trạm Khuyến
nông huyện Sơn Dương, ban lãnh đạo UBND xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn
Dương, tỉnh tuyên Quang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực tập tại địa phương.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót,
nên tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong
khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên Bùi Bích Phương

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

Bảng 4.1: Tình hình đất đai của xã Vĩnh Lợi giai đoạn 2011 – 2013 25
Bảng 4.2: Dân số và lao động xã Vĩnh Lợi năm 2011 – 2013 27
Bảng 4.3: Giá trị sản xuất qua 3 năm các ngành Kinh tế của xã 29
Bảng 4.4: Doanh thu qua 3 năm từ sản xuất, kinh doanh của xã 29
Bảng 4.5: Tình hình cơ bản của các hộ điều tra 32
Bảng 4.6: Đánh giá của người dân về công tác triển khai mô hình (n=60) 35
Bảng 4.7: So sánh diện tích trồng RAT và RTT năm 2011-2013 38
Bảng 4.8: Năng suất một số loại RAT và RTT (2011-2013) 39
Bảng 4.9: Mức đầu tư phân bón cho 1 sào RAT và RTT năm 2013 40
Bảng 4.10: Thực trạng sử dụng thuốc BVTV của người dân trong mô hình
RAT và RTT năm 2013 43
Bảng 4.11: Tổng hợp kết quả điều tra về tình hình tiêu thụ RAT ở 60 hộ. 45
Bảng 4.12: Giá bán một số loại RAT, RTT và Lúa trong năm 2013 46
Bảng 4.13: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một
sào rau bắp cải 48
Bảng 4.14: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận thu được cho một
sào rau súp lơ xanh 49
Bảng 4.15: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận cho một sào xu hào 50
Bảng 4.16: Hạch toán sơ bộ chi phí sản xuất và lợi nhuận cho một sào lúa
Khang Dân 18 51
Bảng 4.17: So sánh hiệu quả kinh tế giữa mô hình RAT, RTT với trồng lúa tại
xã Vĩnh Lợi (tính cho 1 sào) 52
MỤC LỤC

Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu của đề tài 2
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Những khái niệm liên quan đến rau an toàn 3

4.2.2. Nhận thức đánh giá của người dân về công tác triển khai dự án. . 34
4.3. Thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương 36
4.3.1. Các loại mô hình trồng RAT 36
4.3.2. Thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương 37
4.3.3. Hiệu quả của mô hình sản xuất rau an toàn và rau thông thường
ngoài đồng ruộng. 46
4.3.4. Khả năng lan rộng của mô hình sản xuất RAT tại xã Vĩnh Lợi 57
4.4. Một số giải pháp phát triển mô hình sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh
Lợi – Sơn Dương – Tuyên Quang. 59
4.4.1. Giải pháp về quy hoạch mở rộng diện tích vùng trồng rau an toàn. 59
4.4.2. Giải pháp về vốn 60
4.4.4. Giải pháp về đất đai 60
4.4.3. Giải pháp về cơ sở hạ tầng 60
4.4.5. Giải pháp về lao động 61
4.4.6. Giải pháp về kỹ thuật 62
4.4.7. Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm 63
4.4.8. Giải pháp về Khuyến nông 64
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1. Kết luận 65
5.2. Kiến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
1

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày
của con người, đó là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng hết sức quan trọng, đặc
biệt là Vitamin và chất khoáng. Do đó, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm


huyện được quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn. Trong đó xã Vĩnh Lợi là
xã có nhiều lợi thế và tiềm năng, tháng 9 năm 2013, Dự án sản xuất và sơ
chế RAT được triển khai và bắt đầu sản xuất tại xã Vĩnh Lợi theo quy trình
của thành phố Tuyên Quang.
Trong những năm qua mô hình đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ làm cho người nông dân phấn khởi, tin tưởng vào cái mới song vẫn còn
nhiều tồn tại trong vấn đề sản xuất rau an toàn: Đó là người nông dân chưa
thực sự chủ động trong việc sản xuất, ruộng đất vẫn còn manh mún chưa tập
trung, gặp khó khăn trong việc đầu tư thâm canh, chăm bón. Quy trình sản
xuất rau an toàn đôi khi không tuân thủ triệt để nên ảnh hưởng đến chất lượng
và việc tiêu thụ sản phẩm, làm người tiêu dùng giảm độ tin cậy. Từ những hạn
chế đó làm cho hiệu quả kinh tế của việc sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi
giảm đi cả về số lượng cũng như chất lượng.
Từ những vấn đề trên, được sự nhất trí của ban quản lý dự án rau an
toàn tại xã Vĩnh Lợi và sự đồng ý của khoa Kinh tế và Phát triển Nông thôn
tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu thực trạng sản xuất rau an
toàn tại xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Nắm rõ tình hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn nghiên cứu, phân
tích chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong
quá trình sản xuất RAT. Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của mô hình sản xuất RAT tại xã Vĩnh Lợi.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận và thực tiễn của sản xuất rau an toàn.
- Đánh giá hiện trạng sản xuất rau an toàn tại xã Vĩnh Lợi, những thuận
lợi và khó khăn gặp phải khi thực hiện mô hình.
- Đề xuất một số biện pháp để sản xuất rau an toàn có hiệu quả và nhằm
phát triển mô hình rau an toàn trong những năm tới.

bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe
người sản xuất và người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và nguồn gốc sản phẩm.
*Ngưỡng an toàn: Là mức giới hạn tối đa cho phép của dư lượng hóa
chất độc hại (kim loại nặng, nitrat, thuốc Bảo vệ thực vật, các chất điều hòa
sinh trưởng), các vi sinh vật có hại được phép tồn tại trên rau mà không ảnh
hưởng đến sức khỏe con người theo Quy định hiện hành của Bộ Y tế.
2.1.2. Tiêu chuẩn Rau an toàn
Theo Quyết định số 106/2007/QĐ – BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) [7] sản phẩm rau
được hiểu là an toàn khi đáp ứng được các yêu cầu sau:
4

2.1.2.1. Chỉ tiêu về hình thái
Chỉ tiêu hình thái tức là xét ở khía cạnh sạch, hấp dẫn về hình thức: sản
phẩm rau phải tươi, sạch bụi bẩn, không lẫn các tạp chất, thu đúng độ chín –
khi có chất lượng cao nhất, không có triệu chứng bệnh, có bao bì bảo quản vệ
sinh hấp dẫn.
2.1.2.2. Chỉ tiêu về nội chất
Chỉ tiêu nội chất tức là xét về khía cạnh sạch, an toàn về chất lượng:
Khi sản phẩm rau không chứa các dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép của
tiêu chuẩn vệ sinh y tế (TCVN) như :
- Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
- Dư lượng đạm Nitrat(NO
3
).
- Dư lượng kim loại nặng(chì, thủy ngân, asenic, kẽm, đồng…).
- Số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng gây hại.
Trong đó yêu cầu (2) hoàn toàn phụ thuộc vào môi trường canh tác và
kỹ thuật trồng trọt, nó là yếu tố quyết định rau sạch hay rau bị ô nhiễm.
2.1.3. Sự quan trọng của cây rau

hóa giữa các nước.[24]
2.1.4. Nguyên tắc sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP
Các nguyên tắc sản xuất rau an toàn được quy định theo tiêu chuẩn
GAP [13] bao gồm:
- Chọn đất:
Đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình
sinh trưởng, phát triển của rau. Tốt nhất là chọn đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc
đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30cm. Vùng trồng rau phải cách ly
với khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2km, với chất
thải sinh hoạt của thành phố ít nhất 200m. Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim
loại nhưng không được tồn dư hoá chất độc hại.
- Nước tưới:
Vì trong rau xanh nước chứa trên 90% nên việc tưới nước có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Nếu không có nước giếng cần dùng nước
sông, ao, hồ không bị ô nhiễm. Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón
lá, thuốc BVTV Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng
nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh.
- Giống:
Chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khoẻ mạnh, không có
mầm bệnh. Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống. Hạt giống nhập nội phải
6

qua kiểm dịch thực vật. Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hoá
chất hoặc nhiệt. Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1%
để phòng và trừ sâu hại sau này.
- Phân bón:
Mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau. Trung bình để bón lót
dùng 15 tấn phân chuồng và 300kg lân hữu cơ vi sinh cho 1ha. Tuyệt đối không
dùng phân chuồng tươi để loại trừ các vi sinh vật gây bệnh, tránh nóng cho rễ
cây và để tránh sự cạnh tranh đạm giữa cây trồng và các nhóm vi sinh vật. Tuyệt

cây được để trong nhà cách ly với cây trồng gây hại. Hệ thống này có ưu điểm
không phải đầu tư chi phí thiết bị làm chuyển động dung dịch nên giá thành
thấp. Nhược điểm chính thường thiếu oxi trong dung dịch và giảm độ pH gây
độc cho cây. [8]
- Hệ thống thủy canh động: Là hệ thống mà quá trình cây trồng trong
dung dịch dinh dưỡng có chuyển động, chi phí cao hơn nhưng dung dịch
không thiếu oxi. Các mô hình trồng rau thủy canh được thực hiện tại các khu
nông nghiệp cao của Hà Nội, Hải Phòng, Viện nghiên cứu rau quả tại Mộc
Châu theo hướng thủy canh mở (Rtw) cho năng suất cà chua trên 100
tấn/ha/vụ, ớt ngọt, dưa chuột đạt 60 – 80 tấn/ha/vụ. Mô hình thủy canh kín
của hệ thống thủy canh động, trong đó có sự tuần hoàn trở lại nhờ một hệ
thống bám hút dung dịch từ bể chứa, được thực hiện tại Viện nghiên cứu rau
quả, trường Đại học Nông nghiệp I năng suất 3 – 5 kg/m
2
/vụ mỗi vụ 15 – 30
ngày đặc biệt có thể trồng rau trong điều kiện mùa hè. [8]
Sản xuất rau thủy canh đang là phương pháp phù hợp với sản xuất
nông nghiệp đô thị, nơi diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, môi
trường canh tác bị ô nhiễm và thị trường hiện nay lại đòi hỏi sản phẩm an
toàn, chất lượng cao. Mô hình trồng rau thủy canh là mô hình có triển vọng
trong tương lai.
b. Kỹ thuật trồng rau trong nhà lưới.
Mô hình nhà lưới trồng rau là một bước đột phá mới trong việc đưa
công nghệ tiên tiến vào sản xuất. Có các loại mô hình nhà lưới sau:
- Loại nhà lưới kín: Là loại nhà lưới được phủ hoàn toàn bằng lưới cả
trên mái cũng như xung quanh, có cửa ra vào cũng được phủ kín bằng lưới.
Được sử dụng để ngăn ngừa côn trùng thâm nhập (chủ yếu là các loại bướm,
bọ cánh cứng, nhóm côn trùng bay được). Về thiết kế với kiểu mái bằng và
mái nghiêng hai bên. Khung nhà được làm bằng cột bê tông hoặc bằng khung
sắt hàn hoặc bắt ốc vít. Độ cao từ 2,0 – 3,9 m. Quy mô diện tích: từ 500 –

Nền kinh tế của thế giới hiện nay đang trên đà phát triển với tốc độ tăng
trưởng cao để đạt mục tiêu là tạo mức cân bằng mới, với sự ổn định thị trường
trên toàn cầu. Cùng với sự phát triển kinh tế đã kéo theo hàng loạt các vấn đề
có liên quan đến môi trường xung quanh. Do sự phát triển mạnh mẽ của đô thị
và công nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu trong
nông nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con
9

người. Trong nhưng năm gần đây các tổ chức Quốc tế: Nông lương (FAO), tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) và các tổ chức về vấn đề môi trường đã đưa ra các
khuyến cáo hạn chế việc sử dụng hóa chất nhân tạo vào Nông nghiệp, xây
dựng các quy trình sản xuất theo công nghệ sạch, công nghệ sinh học, công
nghệ sử dụng nguồn năng lượng sáng tạo… Ở thập kỉ 80, lượng thuốc bảo vệ
thực vật được sử dụng trên các nước như: Indonesia, Srilanca, Philippin đã
gia tăng hơn 10% hàng năm. Tổ chức Y tế Thế giới đã ước tính rằng mỗi năm
có 3% lao động Nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễm độc thuốc
bảo vệ thực vật. Trong thập kỉ 90 ở Châu Phi hàng năm có khoảng 11 triệu
trường hợp bị ngộ độc. Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm, 15%
người bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời. Chính vì
vậy, từ quy trình công nghệ sản xuất rau truyền thống, các nước này đã cải
tiến ứng dụng công nghệ sản xuất rau an toàn và được phát triển mạnh, ngày
càng được phổ biến rộng rãi trên Thế giới.
Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình
độ cao. Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở
nên quen thuộc. Phần lớn các loại rau quả trên thị trường đều có thể sản xuất
theo quy trình rau an toàn. Vì vậy rau an toàn là nhu cầu không thể thiếu trong
mỗi bữa ăn hàng ngày của các nước này. Những năm gần đây một số nước
như Singapore, Thái Lan, Hồng Kông… cũng đã phát triển mạnh trong công
nghệ sản xuất rau an toàn để phục vụ cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu. Ở
Đức có hàng ngàn cửa hàng bán “ rau xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái”

Vẫn là thị trường nhập khẩu lơn nhất các sản phẩm rau quả của Việt
Nam. Nhu cầu tăng cao tại Trung Quốc, Hoa Kỳ và một số nước Đông Nam
Á trong những tháng đầu năm đã đẩy kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng
mạnh. Trong tháng 2/2011 kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường
Trung Quốc đạt cao nhất với 4,4 triệu USD, tăng 42,6% so với cùng kì năm
2010. [19]
* Indonexia:
Đã vượt qua Nhật Bản và Liên Bang Nga để vươn lên vị trí thứ 2 trong
số những thị trường nhập khẩu rau quả lớn nhất Việt Nam đầu năm 2011.
Kim ngạch xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường Indonexia trong tháng
2 đạt 7,8 triệu USD, tăng 73,3% so với cùng kỳ năm 2010. Tính chung 2
tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu rau quả sang thị trường này đạt
10,2 triệu USD, tăng 107,7%. [19]
11
* Thị trường Mỹ:
Trong năm 2013 nước ta đã xuất khẩu sang Mỹ được 1300 tấn thanh
long, 300 tấn chôm chôm, kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt mức 1,04 tỉ USD,
tăng gần 200 USD so với kế hoạch.
Cũng theo thống kê của Hiệp hội rau quả Việt Nam (Vinafruit), xuất
khẩu rau quả trong 2 tháng đầu năm 2014 đã đạt 136 triệu USD, tăng hơn
22% so với cùng kỳ năm 2013. [19]
2.2.2 Tình hình sản xuất rau an toàn ở Việt Nam
Trong nhưng năm qua, quá trình đô thị hóa đã làm diện tích đất Nông
nghiệp bị thu hẹp với tốc độ rất nhanh. Do đó việc sản xuất Nông nghiệp của
nông dân ở các vùng ngày càng khó khăn, đứng trước thách thức này đòi hỏi
họ phải vận động để thay đổi hoạt động sản xuất như chuyển dần một phần
lao động trong nông hộ sang tham gia hoạt động phi Nông nghiệp, chuyên
môn hóa các loại cây đặc sản (cây ăn quả, cây cảnh…) hay chuyển từ sản xuất
rau truyền thống sang sản xuất rau an toàn. Đi cùng với quá trình thay đổi
hình thái canh tác là sự thay đổi về tổ chức sản xuất như sự ra đời của các

được các vùng sản xuất lớn, tập chung, chuyên canh cho RAT, tạo sản lượng
lớn ổn định, chất lượng cao… đáp ứng yêu cầu thị trường xuất khẩu. Quy mô
nhỏ lẻ, chưa thành sản xuất hàng hóa. Cho tới nay, sản xuất của người nông
dân vẫn chủ yếu theo kinh nghiệm và phương pháp truyền thống, dựa chủ yếu
vào lợi thế khai thác tự nhiên, theo mùa vụ nên vào thời kỳ cao điểm của các
mùa vụ (mùa đông với rau, mùa hè với quả) thì lượng hàng hóa tập trung quá
cao, không tiêu thụ nhanh thì thua lỗ nặng, nhưng trái vụ thì hầu như không
có, không tạo được sản lượng đủ lớn, ổn định cho xuất khẩu. Sản xuất chủ
yếu vẫn theo quy mô hộ gia đình, với mỗi hộ từ 200 – 300 m
2
. Quy mô sản
xuât quá nhỏ bé khiến cho lượng hàng hóa không nhiều. Hạ tầng cơ sở cho
sản xuất rau an toàn vừa yếu, thiếu, lại không đồng bộ, thường phải sản xuất
chung với cây lương thực và cây công nghiệp nên rất khó đảm bảo chất lượng
và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Lại thêm việc tổ chức hoạt động xuất
khẩu của hầu hết các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất rau an toàn còn
thiếu tính chuyên nghiệp. Chưa có đơn vị nào tổ chức kinh doanh sản xuất,
xuất khẩu bài bản, chính quy theo các quy trình tiên tiến từ canh tác đến thu
hái, chọn lựa, phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho bảo quản lạnh, dưỡng sinh,
vận chuyển giao hàng đến tay người mua nước ngoài đảm bảo chất lượng và
vệ sinh an toàn thực phẩm như Công ty liên doanh của Hà Lan – Indonesia
13
HATSFARM ở Đà Lạt hiện nay. Đa phần các doanh nghiệp sản xuất rau an
toàn không gắn được thương hiệu của doanh nghiệp vào sản phẩm. Không có
thương hiệu riêng cũng khiến rau an toàn Việt Nam không tạo được chỗ đứng
trên thị trường. [21]
Hiện nay, ở Việt Nam đã có công nghệ sản xuất rau an toàn bằng công
nghệ cao không dùng đất. Đây là công nghệ sản xuất rau an toàn của Mỹ đã
được nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và phát triển ở nước ta – PGS.TS
Hồ Hữu An, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội. Công nghệ này hoàn toàn

tương đương với lượng rau dùng hàng ngày trung bình một người vào khoảng
250 – 300 gr/ngày (tức khoảng 7,5 – 9 kg/người/tháng), lượng rau phải cung
cấp trung bình/người khoảng 360gr/ngày (tức khoảng 10,8kg/tháng/người).
Vì vậy, rau xanh là món ăn không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày, nhưng
phải đòi hỏi an toàn vệ sinh thực phẩm, song sản xuất rau an toàn chưa đáp
ứng đủ nhu cầu thị trường. [19]
Theo báo Hanoinet – Nhu cầu sử dụng rau an toàn (RAT) ngày càng
lớn nên những năm gần đây, các địa phương trên cả nước đã dành nhiều ưu
tiên cho phát triển các vùng RAT và khuyến khích các doanh nghiệp tiêu thụ.
Song trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, RAT vẫn khó “ chen chân” vào
các nhà hàng, siêu thị và các đại lý phân phối lớn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng rau và quả
chiếm 13,2% tổng giá trị sản lượng Nông nghiệp và 16% giá trị sản lượng
trồng trọt của cả nước. Nhưng sản lượng rau an toàn chỉ chiếm khoảng 5% và
chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của số người tiêu dùng, các bếp ăn tập thể
nội bộ, các trường học và những doanh nghiệp quan tâm đang ngày càng tăng
về số lượng.
* Thành phố Hồ Chí Minh: Theo tình hình hiện nay cho thấy tiềm năng
tiêu thụ của RAT là rất lớn (nhu cầu tiêu thụ rau của thành phố ước tính
khoảng 2.000 – 3.000 tấn/ngày), hệ thống chuỗi siêu thị Sài Gòn Coop trên
địa bàn thành phố thu mua rau an toàn khoảng 40 tấn/ngày. [22]
*Thành phố Hà Nội: Sản lượng rau xanh toàn thành phố là 569.802
tấn/năm, đáp ứng 60% nhu cầu rau xanh của thành phố, trong đó RAT được
trên 131.000 tấn, đáp ứng được 14%, còn lại 40% lượng rau phải nhập từ các
tỉnh lân cận. [23]
15
* Tỉnh Tuyên Quang cũng như các tỉnh lân cận.
Hiện nay nhu cầu tiêu thụ rau an toàn của tỉnh Tuyên Quang rất lớn,
hàng năm số lượng rau an toàn sản xuất ra đều chưa đủ cung cấp cho toàn tỉnh
và các tỉnh lân cận. Tiềm năng phát triển thị trường tiêu thụ RAT tại thành

tác theo cách thông thường. Trồng theo hướng này hoàn toàn phải sử dụng
các chế phẩm từ phân vi sinh, áp dụng các tiến bộ KHKT mới để canh tác,
hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV. Do đó vừa tiết kiệm được chi phí,
đồng thời nâng cao giá trị của cây rau thương phẩm. Trồng theo hướng an
toàn, vừa đảm bảo sự ổn định bởi không phải “hụt hơi” chạy theo giá thị
trường vì đã có đầu ra đảm bảo và cũng yên tâm đối với sức khỏe người tiêu
dùng. Hiện cơ sở có 12 thành viên (hộ), khi mới triển khai diện tích trồng
RAT chỉ có 0,7 ha nhưng đến nay đã phát triển lên 2,7 ha.
Theo đánh giá của nhiều người trồng rau tại các vùng chuyên canh rau
của tỉnh thì các sản phẩm sản xuất theo tiêu chí VietGAP cho năng suất và
chất lượng cao hơn so với việc sản xuất theo kiểu truyền thống. Bà Đỗ Thị
Xuân, cùng tổ 20, phường Hưng Thành, một hộ trồng RAT cho biết: ban đầu
gia đình bà chỉ dám chuyển một phần diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang
trồng rau nhưng sau vài vụ thu hoạch thấy có hiệu quả bà đã quyết định
chuyển toàn bộ diện tích gần 3 sào sang trồng súp lơ, cà chua, bắp cải… mùa
nào rau đấy,năng suất luôn cao hơn từ 10- 15% so với trồng rau theo cách
thông thường. Cũng theo bà Xuân thì tuy giá trị đầu tư ban đầu hơi cao vì
phải đáp ứng đầy đủ các quy chuẩn của hệ thống an toàn nhưng việc thu hồi
lại vốn cũng khá nhanh bởi giá bán các loại sản phẩm luôn ổn định và cao hơn
10- 15% sao với rau trồng không theo hướng an toàn. Trừ toàn bộ chi phí,
hàng năm vườn rau nhà bà Xuân đều cho thu nhập trên 50 triệu đồng.
Nhiều người làm nghề nông ở các phường Tân Hà, Ỷ La… cũng đã tiếp
cận mạnh mẽ với sản xuất rau an toàn theo các tiêu chí của tiêu chuẩn
VietGAP. Bà Lục Thị Nheo, tổ 3, phường Tân Hà có 2 sào quanh năm trồng
rau các loại và hoa cúc, hoa hồng theo các tiêu chí đủ điều kiện sản xuất an
toàn theo hướng VietGAP. Năm 2010, chỉ một vụ đông, trừ mọi chi phí, gia
đình bà thu về gần 40 triệu đồng. Gia đình anh Đoàn Văn Cường cùng tổ 3,
phường Tân Hà có trên 2 sào trồng các loại rau và được cấp giấy chứng nhận
đầy đủ điều kiện sản xuất RAT theo hướng VietGAP vào năm 2010. Từng đó
diện tích rau đã mang về cho gia đình anh mức lãi trên 60 triệu đồng, lợi
18
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình sản xuất rau an toàn tại xã
Vĩnh Lợi.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1. Phạm vi về nội dung
- Đề tài tập chung đi sâu nghiên cứu về thực trạng sản xuất rau an toàn
của xã trong thời gian qua và đề xuất một số biện pháp nhằm thúc đẩy mô
hình phát triển một cách có hiệu quả trong thời gian tới.
- Một số loại rau được nghiên cứu điển hình là: súp lơ, bắp cải, cà
chua, xu hào, mướp đắng Tình hình sản xuất, tiêu thụ và hiệu quả của các
loại rau.
3.1.2.2. Phạm vi về không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.
3.1.2.3. Phạm vi về thời gian
Đề tài được nghiên cứu từ ngày 16/01/2014 - 27/04/2014
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về đặc điểm địa bàn nghiên cứu: Đặc điểm tự nhiên, điều
kiện Kinh tế - Xã hội, cơ sở hạ tầng.
- Tìm hiểu những nhận thức đánh giá của người dân về công tác triển
khai mô hình rau an toàn.
- Tìm hiểu và phân tích thực trạng sản xuất rau an toàn tại địa phương
trong những năm gần đây.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status