ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THU PHƯƠNG Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT TẠI XÃ
ĐẠI PHÚ - HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 - 2014 Thái Nguyên, năm 2014 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
nghiệm lại chúng trong thực tế, nâng cao kiến thức nhằm phục vụ chuyên
môn sau này.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, với sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân và sự giúp đỡ của thầy cô, các anh chị ở cơ quan thực tập và bạn bè em
hoàn thành báo cáo tốt nghiệp của mình.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa Môi trường, đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS.TS. Đàm Xuân Vận đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em trong suốt
quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tốt nghiệp để em hoàn thành tốt đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Đại Phú và bà con nhân dân
trong xã đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian thực tập.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè của
em đã chia sẻ, giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập nghiên cứu
hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình.
Do thời gian có hạn, năng lực và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều
hạn chế nên đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy em rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo để đề tài được hoàn
thiện tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Vũ Thu Phương
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1: Trữ lượng nước trên thế giới 8
Bảng 4.12: Kết quả phân tích chất lượng nước khe suối 39
Bảng 4.13: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm 43 DANH MỤC CÁCSƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện tình hình sử dụng nguồn nước sinh hoạt của người dân
tại xã Đại Phú. 30
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện một số vấn đề về nguồn nước sinh hoạt người dân
đang dùng tại xã Đại Phú 31
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ người dân sử dụng hình thức lọc nước 33
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm đá vôi nguồn nước sinh hoạt tại xã Đại Phú 34
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ mức độ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt người dân
đang dùng 35
Hình 4.6: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi chất lượng nước sinh hoạt theo mùa 36
Hình 4.7: Biểu đồ thể hiện thực trạng môi trường nước những con mương, suối tại
xã Đại Phú 37
Hình 4.8: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ người dân mắc một số bệnh liên quan đến nguồn
nước sinh hoạt tại xã Đại Phú 38
Hình 4.9: Biều đồ thể hiện giá trị pH của nước khe suối 39
Hình 4.10: Biểu đồ thể hiện giá trị một số thông số của nước khe suối 40
Hình 4.11: Biều đồ thể hiện giá trị pH của nước khe suối 41
Hình 4.12: Biểu đồ thể hiện giá trị một số thông số nước khe suối 42
Hình 4.13: Biểu đồ thể hiện giá trị pH của các mẫu nước ngầm tại xã Đại Phú 43
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TT - BTNMT Thông tư - Bộ Tài nguyên Môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
UNICEF Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích của đề tài 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập 2
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
2.1. Cơ sở lý luận 3
2.1.1. Một số khái niệm về tài nguyên nước 3
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đại Phú – huyện Sơn Dương –
tỉnh Tuyên Quang. 19
3.3.2. Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Đại Phú – huyện
Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang. 19
3.3.3. Đề xuất một số giải pháp 19
3.4. Phương pháp nghiên cứu 19
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp 19
3.4.2. Phương pháp lấy mẫu 19
3.4.3. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 20
3.4.4. Phương pháp phỏng vấn 20
3.4.5. Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 21
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
22
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Đại Phú, huyện Sơn Dương,
tỉnh Tuyên Quang 22
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 22
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 25
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước là tài nguyên vô cùng quý giá đối với sự sống các sinh vật sống
trên Trái Đất. Trong cơ thể sinh vật nước chiếm đến khoảng 70% nên nước có
vai trò quan trọng đối với duy trì sự sống của các sinh vật.
Nước là khởi nguồn của sự sống. Con người hay sinh vật thì cũng đều
cần đến nước để duy trì các hoạt động sống của mình. Nhưng hiện nay nguồn
nước ngày càng khan hiếm, số lượng và chất lượng nước ở nhiều nơi đang bị
suy giảm. Biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng nguồn nước
cung cấp cho con người. Việc sử dụng không hợp lý tiết kiệm nước cũng là
nguyên nhân khiến nước giảm về số lượng và chất lượng. Nhiều nơi người
dân không có nước sạch để sử dụng. Ở Việt Nam theo thống kê của Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường năm 2012 thì một trong ba người Việt Nam sống
không có nước sạch, mỗi ngày có ba sinh linh bé nhỏ chết vì mắc các bệnh
liên quan đến nước sạch. Mỗi năm có khoảng 9000 người tử vong vì nguồn
nước và điều kiện vệ sinh kém [12].Vấn đề cung cấp nước sạch phục vụ cho
người dân đang là vấn đề bức thiết được quan tâm ở nhiều quốc gia trên thế
giới. Theo Liên Hiệp Quốc, nước sạch là một trong ba nhu cầu thiết yếu nhất
của con người. Trong 7 tỷ dân đang sinh sống trên thế giới có 1,1 tỷ người
đang sống không có nước sạch để dùng, 769 triệu người không được tiếp cận
với hệ thống nước sạch và 2,5 tỷ người đang bị ảnh hưởng từ môi trường sống
mất vệ sinh vì thiếu nước [15]. Chính vì nước có tầm quan trọng rất lớn đối
với cuộc sống, việc đảm bảo chất lượng sạch cho người dân sử dụng là vấn đề
cần phải quan tâm hàng đầu hiện nay.
Để biết được chất lượng nước sinh hoạt mà người dân đang sử dụng có
bị ô nhiễm hay không? Có đảm bảo an toàn cho sức khỏe người dân không?
Thì cần phải tiến hành đánh giá chất lượng nước mà người dân đang sử dụng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, cùng với sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm về tài nguyên nước
Tài nguyên nước là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt, vừa vô
hạn vừa hữu hạn và chính bản thân nước có thể đáp ứng các nhu cầu của cuộc
sống ăn uống, sinh hoạt hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng,
giao thông vận tải thủy, du lịch.
Tài nguyên nước được phân thành 3 dạng chủ yếu theo vị trí cũng
như đặc điểm hình thành, khai thác và sử dụng. Đó là nguồn nước trên mặt
đất (nước mặt), nước dưới đất (nước ngầm) và nước trong khí quyển (hơi
nước) [4].
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập
nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất
đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất.
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá
trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới
bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người [3].
Theo khoản 1 điều 2 luật Tài nguyên nước Việt Nam năm 2012:“Tài
nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển
thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
2.1.2. Nước hợp vệ sinh và nước sạch
Theo bộ chỉ số theo dõi đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn (Ban hành kèm theo Quyết định số 2570/QĐ-BNN-TCTL ngày 22 tháng
10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thì:
vệ thực vật hoặc các chất thải công nghiệp, làng nghề.
Nước sạch: Là nước phải đạt QCVN 02:2009/BYT ban hành kèm theo
thông tư số 05/BYT ngày 17/6/2009.
2.1.3. Vai trò của nước
Nước là một hợp chất liên quan trực tiếp và rộng rãi đến sự sống trên
Trái Đất, là cơ sở của sự sống đối với mọi sinh vật. Đối với thế giới vô sinh
nước là thành phần tham gia rộ ng rãi các phản ứng hóa học, nước là dung
môi và là môi trường tàng trữ các điều kiện thúc đẩy hay kìm hãm các quá
5
trình hoá học. Đối với con người nước là nguyên liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.
Con người có thể không ăn trong nhiều ngày mà vẫn sống, nhưng sẽ bị chết
chỉ sau ít ngày (khoảng 3 ngày) nhịn khát, vì cơ thể người có khoảng 65 - 68%
nước nếu mất 12% nước cơ thể có thể bị hôn mê và có thể chết.
Con người cần nước ngọt cho ăn uống, cho sinh hoạt hàng ngày và cho
sản xuất. Mỗi người một ngày ăn uống chỉ cần 2,5 lít nước nhưng tính chung
cả nước sinh hoạt thì ở các nước phương Tây mỗi người cần khoảng 300 lít
nước mỗi ngày. Với các nước đang phát triển số lượng nước đó thường được
dùng cho một gia đình 5 - 6 người.
Nhu cầu nước cho sản xuất công nghiệp và nhất là nông nghiệp rất lớn.
Để khai thác một tấn dầu mỏ cần phải có 10 m
3
nước, muốn chế biến tạo một
tấn sợi tổng hợp cần có 5600 m
3
nước, một trung tâm nhiệt điện hiện đại với
công suất 1 triệu kW cần đến 1,2 - 1,6 tỷ m
3
- Bệnh do vi yếu tố và các chất khác trong nước.
- Bệnh bướu cổ: Do đất, nước, thực phẩm quá thiếu iốt, ví dụ: vùng núi
cao, vùng xa biển.
- Bệnh về răng do thiếu hoặc thừa flo: Flo < 0,5 mg/l sẽ bị bệnh sâu
răng, >1,5 mg/l sẽ làm hoen ố men răng và các bệnh về khớp.
- Bệnh do nhiễm độc bởi các chất độc hoá học: ví dụ: ăn/uống nước nhiễm
asen, thuốc trừ sâu… tăng nguy cơ bị ung thư, bệnh Minamata, Itai - Itai
- Bệnh Minamata: Do hàm lượng thủy ngân trong nước quá mức cho
phép dẫn tới nhiễm độc thủy ngân. Triệu chứng: mất khả năng nghe, giảm
tầm nhìn, nói khó khăn, không điều khiển được hoạt động, tứ chi run rẩy, mất
cảm giác ở đầu ngón tay, ngón chân, mất trí nhớ, ung thư [14].
2.2. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước CHXHCNVN
khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành
ngày 01/07/2006.
- Luật Tài nguyên nước số: 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày
21/06/2012 và có hiệu lực từ 01/01/2013.
- Căn cứ nghị định 117/2007/NĐ – CP ngày 11/07/2007 của Chính phủ
về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch.
- Thông tư 21/2012/TT-BTNMT ban hành ngày 19/12/2012 quy định
việc bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng trong quan trắc môi trường.
7
- Quyết định số 104/2000/QĐ – TTg ngày 25/08/2000 của Thủ tướng
chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh
nông thôn đến năm 2020.
- Quyết định số 09/2005/QĐ – BYT ngày 11/03/2005 của Bộ trưởng y
tế về việc ban hành tiêu chuẩn ngành : Tiêu chuẩn vệ sinh nước sạch.
đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu ta trừ phần nước bị ô nhiễm ra thì chỉ có
khoảng 0,003% là nước ngọt sạch mà con người có thể sử dụng được và nếu
tính ra trung bình mỗi người được cung cấp 879.000 lít nước ngọt để sử dụng
(Miller, 1988) [19].
Theo hiểu biết hiện nay thì nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh
từ 3 nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch ngoài Trái Đất mang vào và
từ tầng trên của khí quyển; trong đó thì nguồn gốc từ bên trong lòng đất là
chủ yếu. Nước có nguồn gốc bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ
giữa của Trái Đất do quá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhiệt độ cao
tạo ra, sau đó theo các khe nứt của lớp vỏ ngoài nước thoát dần qua lớp vỏ
ngoài thì biến thành thể hơi, bốc hơi và cuối cùng ngưng tụ lại thành thể lỏng
và rơi xuống mặt đất. Trên mặt đất, nước chảy tràn từ nơi cao đến nơi thấp
và tràn ngập các vùng trũng tạo nên các đại dương mênh mông và các sông hồ
nguyên thủy.
Theo sự tính toán thì khối lượng nước ở trạng thái tự do phủ lên trên
Trái Đất khoảng 1,4 tỉ km
3
, nhưng so với trữ lượng nước ở lớp vỏ giữa của
Trái Đất (khoảng 200 tỉ km
3
) thì chẳng đáng kể vì nó chỉ chiếm không đến
1%. Tổng lượng nước tự nhiên trên thế giới theo ước tính có khác nhau theo
các tác giả và dao động từ 1.385.985.000 km
3
(Lvovits, Xokolov - 1974) đến
1.457.802.450 km
3
(F. Sargent - 1974) [19].
Bảng 2.1: Trữ lượng nước trên thế giới
Loại nước Trữ lượng (km
Năm 2013: Hợp tác vì nước.
Năm 2014: Nước và năng lượng.
2.3.1.2.Tình hình khan hiếm nước sạch trên thế giới
Nước do thiên nhiên ban tặng, là nguồn sống quan trọng mà quốc gia
nào cũng có, bao gồm nước ngọt và nước mặn. Nhưng đi liền với tình trạng
gia tăng dân số, phát triển nóng về kinh tế, xã hội là sự ô nhiễm môi trường,
biến đổi khí hậu khiến nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt ngày càng cạn
kiệt. Thiên nhiên đã trở nên khắc nghiệt, quật lại chính con người. Nước biển
dâng cao do băng tan là mối đe dọa với các quốc gia có biển. Những cơn “đại
hồng thủy”, “thủy triều đen”, “thủy triều đỏ” xuất hiện nhiều hơn với tác hại
nghiêm trọng hơn. Có khi trong cùng một thời điểm, ở vùng này, quốc gia này
bị khô hạn, thì ở vùng khác, quốc gia khác lại đang phải lo thoát lũ, chống lụt,
bão và lở đất.
Trước tình trạng khan hiếm nước, ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên
thế giới cũng đã xảy ra mâu thuẫn và xung đột vì tranh giành nguồn nước.
10
Chính phủ nhiều nước phải kêu gọi người dân tiết kiệm nước, sử dụng và khai
thác nước hợp lý. Công nghệ xử lý nước thải được quan tâm nhiều hơn.
Khan hiếm nước sạch nghiêm trọng nhất phải kể đến là Châu Phi. Tại
các diễn đàn ở Xtốc-khôm đều đã đưa ra những báo động về thảm cảnh khan
hiếm nước tại lục địa này. Nguồn nước ở đây vừa rất thiếu, lại rất thừa vì bị ô
nhiễm nặng do rác thải và sử dụng các chất hóa học thiếu kiểm soát.
Một nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Diễn đàn
Nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APWF) công bố mới đây cũng cho
thấy có trên 75% quốc gia trong khu vực đang trải qua mối đe dọa thiếu nước
nghiêm trọng, nhiều nước trong số đó phải đối mặt với cuộc khủng hoảng
nước sắp xảy ra. Tại khu vực sông Mekong, trước những thông tin con sông
này đang bị cắt vụn ra bởi đập Tiểu Loan (Trung Quốc) và chạy dài về hạ lưu
qua các nước Lào, Thái Lan, Campuchia với kế hoạch xây dựng lên tới 11
đã và đang góp phần làm cho nguồn nước ngày càng trở nên suy thoái và cạn
kiệt. Hiện hơn một nửa dân số thế giới dựa vào các nguồn nước chung giữa
các quốc gia để có nước dùng hàng ngày, hơn 90% dân số thế giới sinh sống
tại các quốc gia có sông hoặc hồ chứa nước chung với quốc gia khác. Tuy
nhiên, 60% lượng sông hồ này hiện chưa có bất kỳ khung quản lý chính thức
nào về hoạt động hợp tác sử dụng [19].
Theo Liên Hiệp Quốc, nước sạch là một trong ba nhu cầu thiết yếu nhất
của con người và trong 7 tỷ dân đang sinh sống trên thế giới, 1,1 tỷ người
đang sống không có nước sạch để dùng, 769 triệu người không được tiếp cận
với hệ thống nước sạch và 2,5 tỷ người đang bị ảnh hưởng từ môi trường sống
mất vệ sinh vì thiếu nước.
Cứ 9 công dân toàn cầu có một người đang sống thiếu tiếp cận với
nguồn nước sạch, dẫn đến 3,4 triệu người chết hàng năm do các bệnh dịch từ
việc thiếu nước và môi trường mất vệ sinh mà 99% trong số đó sinh sống ở
các nước đang phát triển [15].
Theo báo báo của Liên Hợp Quốc, đến năm 2030 nhu cầu về nước của
thế giới sẽ tăng thêm 40% và nhu cầu năng lượng sẽ tăng thêm 50% so với
hiện tại. Nguồn tài nguyên nước sẽ tiếp tục phải chịu sức ép của các yếu tố
như tăng dân số, ô nhiễm, nắng nóng và hạn hán do sự nóng lên toàn cầu.
Hiện nay, trên toàn thế giới, có khoảng 770 triệu người không tiếp cận được
với nước sạch; con số này sẽ tăng lên tại các khu vực như Bắc Mỹ, Trung
12
Đông và Tây Nam Á. Châu Á nói chung, trong đó có khu vực đồng bằng sông
Mekong, sẽ trở thành điểm nóng tranh chấp tài nguyên nước sạch, khi nguồn
nước đi qua biên giới nhiều nước [19].
2.3.2. Tài nguyên nước ở Việt Nam
Tài nguyên nước của Việt Nam nhìn chung khá phong phú. Lượng mưa
trung bình toàn lãnh thổ1960 mm/năm, gấp 2,6 lượng mưa trung bình của
vùng lục địa, cung cấp 640 tỷ m
2
, trong đó phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ là: 835.422
km
2
chiếm đến 72%. Có 13 sông chính và sông nhánh lớn có diện tích lưu
vực từ 10.000 km
2
trở lên; 166 con sông có diện tích lưu vực dưới 10.000 km
2
.
Tuy nhiên tài nguyên nước mặt biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động
giữa các năm và phân bố không đều trong năm) và còn phân bố không đều
13
giữa các hệ thống sông và các vùng (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường 2006)
[16].
2.3.2.1. Thực trạng tài nguyên nước ở Việt Nam
Ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong một năm
từ 12.800 m
3
/người vào năm 1990, giảm còn 10.900 m
3
/người vào năm 2000
và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m
3
/người vào khoảng năm 2020. Tuy
mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 lần so với Châu
Á (3970 m
3
/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m
biến, gây khó khăn cho việc quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi truờng ở các
khu công nghiệp.
Trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy, Hà Nội đóng góp 48,8% tổng các
nguồn thải. Tổng luợng thải từ các nguồn khác nhau của thành phố khoảng
14
670.000 m
3
, trong đó có tới hơn 620.000 m
3
(93% tổng lượng nước thải) chưa
được xử lý xả thẳng vào hệ thống thoát nước. Lượng nước thải còn lại chỉ
được xử lý sơ bộ hoặc trong các bể tự hoại, các bể lắng trong các tuyến thoát
nước chung. Nước thải có chất dịch đen gồm các chất thải rất nguy hiểm đối
với môi trường môi sinh như ligin, sunfua hữu cơ, axit béo, các hữu cơ mạch
vòng có chứa Clo.
Thành phố Hà Nội hiện nay mới chỉ có 4 trạm xử lý nước thải tập trung
(Kim Liên, Trúc Bạch, Bắc Thăng Long - Vân Trì và một trạm xử lý nhỏ
trong khu đô thị mới Mỹ Đình), với tổng công suất thiết kế 50.000 m
3
/ngày
đêm nhưng hầu hết các trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung này có tỷ lệ
xử lý còn rất thấp so với yêu cầu.
Ô nhiễm tại các làng nghề cũng nghiêm trọng như tại làng nghề Vân Hà
(làng Vân, Bắc Giang) và các làng nghề tại Yên Phong, Tiên Sơn (Bắc Ninh).
Chỉ tính riêng hơn 880 hộ gia đình nấu rượu tại Vân Hà (Bắc Giang) luôn
nuôi từ 15.000 ÷ 20.000 con lợn, mỗi ngày phát sinh khoảng 1.500 m
3
nước
thải, gần 100 m
tổng số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải y tế. Trong đó, một số lượng
lớn các chất độc hại trong nước thải y tế không thể xử lý được bằng phương
pháp xử lý nước thải thông thường [6].
Một kết quả khảo sát mới đây của Viện Nước, tưới tiêu và môi trường
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy với khoảng 70% dân số ở
khu vực nông thôns mỗi năm phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng
1.300 triệu mét khối nước thải sinh hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc
bảo vệ thực vật. Trong đó, khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh
hoạt và hầu hết lượng vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom xử lý
hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường [9].
Theo báo cáo của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường),
nguồn nước dưới đất của Việt Nam khá phong phú nhờ mưa nhiều. Hiện tổng
trữ lượng khai thác nước dưới đất trên toàn quốc đạt gần 20 triệu m
3
, tổng
cộng suất của hơn 300 nhà máy khai thác nguồn nước này vào khoảng 1,47
triệu m
3
/ngày. Nhưng trên thực tế các nhà máy chỉ khai thác được 60 - 70%
so với công suất thiết kế. Vấn đề đáng báo động là nguồn nước dưới đất của
Việt Nam đang đối mặt với dấu hiệu ô nhiễm coliform vượt quy chuẩn cho
phép từ hàng trăm đến hàng nghìn lần. Tình trạng ô nhiễm phốt phát (P - PO
4
)
cũng có xu hướng tăng theo thời gian.
Tại Hà Nội, số giếng khoan có hàm lượng P - PO
4
cao hơn mức cho
phép (0,4 mg/l) chiếm tới 71%. Còn tại khu vực Hà Giang - Tuyên Quang,
hàm lượng sắt ở một số nơi cao vượt mức cho phép trên 1 mg/l, có nơi trên 15
84 lần so với tiêu chuẩn cho phép [7].
2.3.2.2. Tình hình cung cấp nước và chất lượng nước sinh hoạt của người dân
ở Việt Nam
Theo điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2010 -
2011, ở khu vực nông thôn tỷ lệ người dân được sử dụng nước hợp vệ sinh
đạt tỷ lệ 75%, như vậy đồng nghĩa với việc 25% người dân nông thôn vẫn
đang phải hàng ngày sống chung với những nguồn nước không an toàn. Đây
là nguyên nhân chính gây ra nguy cơ mắc các bệnh đường ruột và bệnh ngoài
da, chưa kể đến các bệnh nan y có diễn biến phức tạp khác bắt nguồn từ chất
thải công nghiệp độc hại xả trực tiếp ra nguồn nước chung [11].
17
Ở Việt Nam có 708 đô thị bao gồm 5 thành phố trực thuộc Trung ương,
86 thành phố và thị xã thuộc tỉnh, 617 thị trấn với 21,59 triệu người (chiếm
26,3% dân số toàn quốc). Hiện có trên 240 nhà máy cấp nước đô thị với tổng
công suất thiết kế là 3,42 triệu m
3
/ngày. Trong đó 92 nhà máy sử dụng nguồn
nước mặt với tổng công suất khoảng 1,95 triệu m
3
/ngày, 148 nhà máy sử dụng
nguồn nước dưới đất với tổng công suất khoảng 1,47 triệu m
3
/ngày. Một số
địa phương khai thác 100% nước dưới đất để cung cấp cho sinh hoạt sản xuất
như Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Quảng Ngãi, Bình Định, Sóc
Trăng, Phú Yên, Bạch Liêu , các tỉnh thành Hải Phòng, Hà Nam, Nam Định,
Thái Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Kon Tum, Gia Lai khai thác 100% từ
nguồn nước mặt; nhiều địa phương sử dụng cả 2 nguồn nước mặt và nước
dưới đất. Tổng công suất hiện có của các nhà máy cấp nước đảm bảo cho mỗi