Nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát khu bảo tồn rừng sến tam quỷ tỉnh thanh hóa - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN VĂN THÀNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
LƯỠNG CƯ, BÒ SÁT KHU BẢO TỒN RỪNG SẾN
TAM QUY TỈNH THANH HOÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH


Luận văn được thực hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy tỉnh
Thanh Hóa với sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Kim Tiến - Trường Đại học Hồng
Đức, TS Hoàng Ngọc Thảo - Khoa Sinh học, Trường Đại học Vinh.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với TS. Nguyễn Kim Tiến và TS.
Hoàng Ngọc Thảo đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi một cách tận tình trong quá trình
thực hiện luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Động vật, các thầy cô
giáo trong khoa Sinh học - Trường Đại học Vinh, Ban quản lý khu bảo tồn thiên
nhiên rừng Sến Tam Quy tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành tốt luận
văn này.
Xin cảm ơn chú: Nguyễn Văn Chương, Trịnh xuân Đắc, Ngô Văn Thức, Lê
Văn Loan nguyên là các cán bộ kiểm lâm đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình
thực hiện luận văn.
Và cũng xin chân thành cảm ơn Trung tâm Thực hành - Thí nghiệm, Trường
Đại học Vinh, gia đình, bạn bè và các anh chị trong lớp đã giúp đỡ, tạo điều kiện để
tôi có thể học tập và nghiên cứu tốt.
Nghệ An, tháng 10 năm 2014
Tác giả Nguyễn Văn Thành ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CR: Cực kỳ nguy cấp (theo sách Đỏ Việt Nam 2007)
ĐDSH: Đa dạng sinh học
ĐT: Điều tra
EN: Đang nguy cấp (theo Danh lục Đỏ của IUCN 2014)

1.1. Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát 3
1.1.1. Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở khu vực Bắc Trung Bộ 3
1.1.2. Tình hình nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở Thanh Hóa 7
1.2. Tổng quan khu vực khu vực nghiên cứu 7
1.2.1. Điều kiện tự nhiên của Trung tâm BTTN rừng Sến Tam Quy,
huyện Hà Trung, Thanh Hoá 10
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 18
2.1. Đối tượng 18
2.2. Thời gian 18
2.3. Địa điểm nghiên cứu 18
2.4. Tư liệu nghiên cứu 18
2.5. Dụng cụ nghiên cứu 19
2.6. Phương pháp nghiên cứu 19
2.6.1. Phương pháp điều tra thu mẫu ngoài thực địa 19
2.6.2. Phương pháp định loại. 21
2.6.3. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. 21
2.6.4. Định tên khoa học các loài. 25
2.6.5. Phương pháp phỏng vấn và thu thập thông tin 26
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 27
3.1. Thành phần loài LCBS ở KBTTN rừng Sến Tam Quy tỉnh Thanh Hóa. 27

v
3.2. Tính đa dạng và phong phú. 31
3.2.1. Cấu trúc thành phần loài 31
3.2.2. Đặc điểm phân bố của LCBS ở KBTTN rừng Sến Tam Quy 33
3.2.3. Tình trạng các loài LCBS ở khu bảo tồn 36
3.3. Đặc điểm hình thái phân loại lưỡng cư, bò sát ở KBTTN rừng Sến Tam
Quy tỉnh Thanh Hóa. 38
3.4. Hiện trạng các loài lưỡng cư, bò sát ở KBTTN rừng Sến Tam Quy tỉnh


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển và thịnh vượng
của mỗi quốc gia. Việt Nam được công nhận là một trong những quốc gia có tính
ĐDSH cao của thế giới, được Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận là
1 trong 200 vùng sinh thái tiêu biểu toàn cầu. Hệ động vật Việt Nam không những
giàu về thành phần mà còn mang nhiều nét đặc trưng của vùng Đông Nam Á. Riêng
lưỡng cư và bò sát ở nước ta hiện nay hiện biết 545 loài, trong đó có 176 loài LC và
369 loài BS (theo Nguyen Van Sang et al 2009) [62] và nhiều loài trong số đó
được liệt kê vào các loài bị đe dọa. Những nghiên cứu trong thời gian gần đây đã bổ
sung nhiều loài mới cho khu hệ LCBS Việt Nam, điều này chứng tỏ tiềm năng
ĐDSH của nước ta.
Ở Thanh Hóa, các nghiên cứu, điều tra cơ bản về tài nguyên động vật nói
chung và LCBS nói riêng đã được thực hiện nhiều tại các KBTTN và VQG như
Bến En [38], Pù Hu [50; 51], Xuân Liên [16], nhằm góp phần bảo tồn đa dạng
sinh học. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa được đầu tư, nhiều khu bảo tồn chưa đầy
đủ và toàn diện. Khu bảo tồn rừng Sến Tam Quy mới chỉ có một số nghiên cứu luận
chứng kinh tế kỹ thuật ban đầu trước khi thành lập. Lần đầu tiên chỉ có nghiên cứu
bước đầu về thành phần loài LCBS của Nguyễn Kim Tiến và cộng sự (2009) [47].

góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho các biện pháp khôi phục, bảo vệ và phát
triển bền vững những loài động vật này.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung tư liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái
các loài LCBS ở KBTTN rừng Sến Tam Quy phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát
1.1.1. Lược sử nghiên cứu lưỡng cư, bò sát ở khu vực Bắc Trung Bộ
Ngay từ xa xưa, con người đã biết khai thác tài nguyên động, thực vật để phục
vụ cho đời sống của mình, trong đó có LCBS. Từ thế kỷ XIV, trong 490 bài thuốc
chữa bệnh của danh y Tuệ Tĩnh có 16 bài thuốc sử dụng LCBS. Việc nghiên cứu
lưỡng cư - bò sát ở nước ta đã được tiến hành từ cuối thế kỷ 19 bởi các nhà khoa
học phương Tây thực hiện như: LCBS ở Nam bộ của A. Morice (1875), G. Tirant
(1885) và ở Bắc bộ của J. Anderson (1878) [Theo Phạm Văn Hòa, 2005, trang 4],
[11]. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, việc nghiên cứu tiếp trục được thực hiện bởi các
nhà khoa học trong và ngoài nước.
Trước giai đoạn 1954
Ở giai đoạn này, tổng kết đầy đủ nhất về LCBS ở Việt Nam là công trình của
R. Bourret (1924-1944) đã ghi nhận được 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và
phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa và 171 loài và phân loài LC, trong đó có các
loài ở Việt Nam [Theo Hoàng Thị Nghiệp, (2012), trang 4], [19].
Giai đoạn từ 1954-1975
Giai đoạn này bắt đầu có nhiều nhà khoa học Việt Nam tiến hành nghiên cứu
điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật: Điều tra tài nguyên LCBS miền Bắc Việt Nam
của Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1956 - 1976) [21; 56]. Địa điểm
điều tra gồm: Đoàn của Đào Văn Tiến ở Vĩnh Linh (1959), ở Thái Nguyên (1962),

tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là ở các vườn quốc gia và các khu bảo tồn trong khu
vực Bắc Trung Bộ. Những năm gần đây, số loài LC, BS được phát hiện ngày càng
nhiều. Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã thống kê Việt Nam có 340
loài LC, BS [36].
Năm 1997, Hoàng Xuân Quang, Nguyễn Văn Sáng, Lê Nguyên Ngật đã
nghiên cứu về khu hệ lưỡng cư, bò sát ở Tây nam Nghệ An [35].
Năm 2000, Hoàng Xuân Quang, Mai Văn Quế đã nghiên cứu khu hệ lưỡng cư
bò sát khu vực Trúc A (Hương Khê - Hà Tĩnh) công bố 53 loài thuộc 40 giống, 18
họ, trong đó có 18 loài lưỡng cư và 35 loài bò sát. Mức độ đa dạng về số loài lưỡng
cư, bò sát ở Chúc A không thua kém gì các khu vực khác [28].

5
Năm 2000, Nguyễn Văn Sáng, Hoàng Xuân Quang đã nghiên cứu khu hệ
lưỡng cư, bò sát ở VQG Bến En đã thống kê được 54 loài bò sát thuộc 15 họ, 2 bộ
và 31 loài lưỡng cư thuộc 6 họ [38].
Năm 2004, Lê Vũ Khôi, Võ Văn Phú, Lê Trọng Sơn, Ngô Đắc Chứng: Nghiên
cứu ĐDSH động vật VQG Bạch Mã đã thống kê được 19 loài lưỡng cư thuộc 7
giống, 5 họ và 30 loài bò sát thuộc 22 giống, 8 họ và 2 bộ [13].
Năm 2011, Theo Zieler T, Truong Q. N, [64]: Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng
Trường, Nikolai Orlov nghiên cứu thành phần loài lưỡng cư, bò sát khu vực huyện
Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị đã ghi nhận được 41 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, trong đó
có một loài mới cho khoa học là loài Nhái cây trường sơn Philautus truongsonesis
Orlov and Ho, 2005 và 51 loài bò sát thuộc 8 họ 2 bộ.
Năm 2007, Hoàng Xuân Quang, Hoàng Ngọc Thảo, Hồ Anh Tuấn, Cao Tiến
Trung, Nguyễn Văn Quế đã công bố kết quả điều tra thành phần loài lưỡng cư, bò
sát VQG Bạch Mã. Kết quả điều tra nghiên cứu từ năm 1996-2006, đã xác định
thành phần loài lưỡng cư, bò sát VQG Bạch Mã có 93 loài thuộc 19 họ của 3 bộ,
trong đó lưỡng cư có 37 loài thuộc 5 họ của bộ không đuôi - Anura, bò sát có 56
loài thuộc 14 họ của 2 bộ. Kết quả này đã bổ sung thêm cho VQG Bạch Mã 3 họ
(họ thằn lằn rắn Anguidae, họ rùa đầu to Platysternidae, họ rùa núi Testudinidae),

điểm hình thái nhông cát; Năm 2000, Nguyễn văn Sáng, Nguyễn Quảng Trường,
Nguyễn Trường Sơn nghiên cứu khu hệ ếch nhái, bò sát vùng núi Yên Tử; Năm
2002, Hoàng Xuân Quang và cộng sự mô tả các đặc điểm sinh học của thành phần
loài LCBS khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An; Năm 2009, Ngô Đắc
Chứng, Nguyễn Văn Lanh nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản của rắn lục
xanh (Trimeresurus stejnegeri); Năm 2007, Nguyễn Văn Sáng đã mô tả khái quát
một số đặc điểm sinh học của Phân bộ rắn ở Việt Nam; Năm 2008, Lê Nguyên
Ngật, Nguyễn Văn Sáng, Trần Thanh Tùng nghiên cứu về đặc điểm hình thái và
sinh thái của Thằn lằn cá sấu; Năm 2009, Hoàng Xuân Quang và cộng sự nghiên
cứu đặc điểm sinh học và sinh thái của thằn lằn bóng đốm (Eutropis macularia) ở
VQG Bạch Mã. Năm 2002, Nguyễn Thị Minh, Phạm Văn Lực nghiên cứu về giun
tròn ký sinh ở Giống Rắn ráo (Ptyas) và Rắn cạp nia bắc (Bungarus multicinctus) ở
vùng Đồng bằng sông Hồng.

7
Bên cạnh những nghiên cứu trong điều kiện tự nhiên, còn có các nghiên cứu
về sinh học và sinh thái học trong điều kiện nuôi: Trần Kiên và Lê Nguyên Ngật
(1984, 1989, 1991, 1992,) đã nghiên cứu về đặc điểm sinh học Rắn hổ mang (N.
atraja); Năm 1993, Đinh Thị Phương Anh nghiên cứu về đặc điểm sinh học Rắn ráo
(P. koros); Năm 1997, Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến đã đưa ra đặc điểm và thời
gian phát triển phôi và biến thái của Ếch đồng (H. rugulosus); Năm 1998, Trần
Kiên, Nguyễn Kim Tiến đã nghiên cứu đặc điểm và ý nghĩa sinh học tiếng kêu của
Ếch đồng trong điều kiện nuôi; Năm 1999, Trần Kiên, Nguyễn Kim Tiến nghiên
cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học Ếch đồng (H. rugulosa). Trong những
năm 2001, 2002, 2006, 2007 Trần Kiên và Ngô Thái nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái học Thạch sùng; Năm 1998, Trần Kiên, Viêng Xay nghiên cứu đặc điểm
sinh học và sinh thái học Tắc kè trong điều kiện nuôi.Năm 1998, Nguyễn Văn Quý
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học Ba ba trong điều kiện nuôi. Năm 2009,
Ông Vĩnh An, Đặng Huy Huỳnh, Trần Kiên, Hoàng Xuân Quang nghiên cứu về
mối quan hệ giữa nhiệt độ, độ ẩm với thời điểm và tần số giao phối của Rắn ráo trâu

ghi nhận 121 loài (gồm 49 loài LC và 72 loài BS) [47].
Năm 2009, Lê Nguyên Ngật, Phạm Văn Anh đã bổ sung và ghi nhận KBTTN
Xuân Liên có 91 loài LCBS, trong đó: 53 loài bò sát và 38 loài lưỡng cư [16].
Năm 2014, Nguyễn Kim Tiến và cộng sự nghiên cứu ở KBTTN Pù Hu đã xác
định có 82 loài, trong đó có 35 loài lưỡng cư thuộc 8 họ, 2 bộ và 47 loài bò sát
thuộc 15 họ, 2 bộ. Lần đầu tiên ghi nhận cho Thanh Hóa bộ lưỡng cư không chân
(Gymnophiona) [50; 52].
Ngoài nghiên cứu điều tra cơ bản, còn có một số nghiên cứu về đặc điểm sinh
học của ếch nhái: Năm 2004, Nguyễn Văn Thuận nghiên cứu đặc điểm và thời gian
biến thái của Ếch cây mép trắng (Polypedates leucommyxtax) [50]; Năm 2008,
Nguyễn Thị Lý nghiên cứu thành phần thức ăn của Limnonectec limnocharis ở xã
Quảng Thành, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa [50].
Các nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học trong điều kiện nuôi cũng được
thực hiện: Năm 2007, Hà Thị Hương nghiên cứu về đặc điểm sinh học của ếch đồng
nhập khẩu từ Thái Lan [50]; Năm 2007, Nguyễn Thị Thúy Hằng, Năm 2009, Nguyễn
Kim Tiến nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học ếch nam mỹ (R. catesbeiana)
góp phần làm cơ sở khoa học cho các biện pháp kỹ thuật nuôi ếch ở Thanh Hóa [48].

9
Riêng ở KBTTN rừng Sến Tam Quy, năm 2012 tác giả Nguyễn Kim Tiến đã
công bố những dẫn liệu ban đầu về thành phần loài LCBS ở đây, tuy nhiên đây chỉ
là những kết quả nghiên cứu ban đầu, chưa đánh giá được tiềm năng và tính đa dạng
LCBS của KBT [51].
1.2. Tổng quan khu vực khu vực nghiên cứu
Ở Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng, công tác nghiên cứu điều tra
cơ bản tài nguyên thiên nhiên mới chỉ được thực sự chú trọng từ sau năm 1975 và
đến nay đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ. Nhưng công tác nghiên cứu điều
tra cơ bản chưa đều khắp, nhiều nơi chưa được chú trọng và đầu tư nghiên cứu.
Theo Báo cáo của Trung tâm thực nghiệm và nghiên cứu Lâm Nghiệp thì Khu
BTTN Rừng sến Tam Quy được phê chuẩn theo Công văn số 1455/BNN-KH ngày

cũng như nhân dân các vùng phụ cận gắn bó với rừng sến. Rừng Sến không chỉ
cung cấp gỗ củi, thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu … mà còn giữ cho bầu không
khí trong lành, giữ nguồn nước cho sinh hoạt và tưới tiêu các cánh đồng phụ cận để
mùa màng bội thu. Rừng Sến góp phần tạo ra cảnh quan quê hương Sơn Lâm, Điền
Thuỷ, có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái.
Nhưng hiện nay việc đánh giá về giá trị đa dạng sinh học của Trung tâm
BTTN rừng Sến Tam Quy thì vẫn còn hạn chế, nên việc tìm ra giải pháp bảo tồn và
phát triển rừng Sến Tam Quy đang được tập trung nghiên cứu.

10
1.2.1. Điều kiện tự nhiên của Trung tâm BTTN rừng Sến Tam Quy, huyện Hà
Trung, Thanh Hoá
1.2.1.1. Vị trí địa lý
Rừng Sến Tam Quy thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá có vị trí địa lý từ
20
0
00

00

- 20
0
01

00

vĩ độ Bắc,105
0
47’30


Trung tâm BTTN rừng Sến Tam Quy nằm trong khu vực núi đất rộng lớn và
các vùng núi dốc bị chia cắt mạnh bởi các khe suối và thung lũng.
Về mặt địa chất thì trung tâm BTTN rừng Sến Tam Quy chủ yếu là vùng núi
đất với thành phần đá mẹ phức tạp đó chính là đá phấn sa (Alơrolit) có thành phần
hoá học chính là Silic, limon, thạch anh. Ngoài ra một số khoáng vật khác như
mica, jenpat … Nhưng khối lượng không đáng kể vì vậy đây là loại đá nghèo.
1.2.1.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
Theo số liệu thu thập được của trạm khí tượng thuỷ văn Hà Trung - Thanh
Hoá, rừng Sến Tam Quy nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 26.8
0
C thấp nhất trong năm là 6
0
C ở tháng
1, cao nhất trong năm là 41
0
C ở tháng 8.
Lượng mưa: trung bình năm là 1600mm, lượng mưa bình quân tháng là
138.098 mm, lượng mưa bình quân tháng cao nhất là 305.3 mm, lượng mưa bình
quân tháng thấp nhất là 20.7 mm. Lượng mưa bốc hơi trung bình là 72 mm, tháng

12
cao nhất là 107 mm, tháng thấp nhất là 42 mm. Nhìn chung lượng nước bốc hơi
thấp hơn lượng mưa nên mùa khô ít khô hạn.
Độ ẩm không khí: bình quân tháng là 85.05 %, độ ẩm bình quân tháng cao
nhất là 90%, tháng thấp nhất là 79%.
Sương mù: thường xuất hiện vào các tháng 1,2,3,10,11,12. Trong các tháng
11, 12 và tháng 1 năm sau thỉnh thoảng xuất hiện sương muối, gây thiệt hại cho
trồng trọt và chăn nuôi.
Gió: gồm có 2 luồng gió chính:

C)
Số giờ
nắng
(giờ)
Nhiệt độ
TB cao
nhất
(
0
C)
Nhiệt độ
TB thấp
nhất
(
0
C)
1
21.3
86
19.3
52
20.4
17.7
2
20.7
90
19.4
98
21.2
16.8

82
32.1
128
33
30.5
8
271
87
31.6
191
33.5
31
9
305.3
86
29.9
154
31.5
27.7
10
209
84
27.7
160
28
26.3
11
105.1
82
24.9

phần oxit sắt và oxít nhôm tương đương nhau. Đặc điểm phụ của mẫu chất phong
hoá tại chỗ từ đá phấn sa là: còn giữ nguyên được tương đối rõ đối tượng đá mẹ ban
đầu. Do sự chi phối của địa hình đến mẫu chất phong hoá feralit tại chỗ đã phân hoá
thành hai kiểu: mẫu chất tàn tích và mẫu chất sườn tích phân bố ở sườn.
Bản chất của mẫu chất phong hoá tại chỗ, tàn tích có một quá trình tích luỹ sắt
nhôm khá mạnh, cho nên xu thế chuyển hoá khoáng sét là điều tất yếu. Sự chuyển
hoá khoáng sét theo chiều hướng xấu, tạo cho đất mang nhiều đặc tính xấu. Sự
chuyển hoá đó là: Khoáng sét Monmorilonit sang Hiđromica cuối cùng là Kaolinit.
1.2.1.5. Đặc điểm về dân sinh kinh tế - xã hội
Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy là một phần diện tích trên địa bàn
3 xã: Hà Tân, Hà Lĩnh, Hà Đông. Trong khu bảo tồn không có dân cư sinh sống chỉ
có vùng đệm mới có dân cư. Vùng đệm bao quanh khu bảo tồn gồm một phần diện
tích của 4 xã: Hà Tân, Hà Lĩnh, Hà Đông và Hà Ninh.
- Dân tộc và tôn giáo:
Theo trung tâm nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Lâm nghiệp Thanh
Hoá, khu vực Hà Trung gồm dân tộc kinh chủ yếu (chiếm 99.96%) và một phần nhỏ
dân tộc Mường (chiếm 0,04%)
- Dân số và lao động:
Đây là khu vực đông dân cư, mật độ dân cư trên km
2
vào loại khá đến trung
bình. Do điều kiện đất canh tác nông nghiệp ít, lao động nông nghiệp dân cư thừa
do vậy gây ra một áp lực lớn lên KBT

15
Dân số và lao động của vùng đệm ở Trung tâm BTTN Rừng Sến Tam quy,
huyện Hà Trung được thể hiện qua biểu sau:
Bảng 1.2. Dân số khu vực vùng đệm Trung tâm rừng sến Tam Quy
Tên xã
Số hộ

756
3335
786
394
392
334
Hà Ninh
965
3842
1940
610
1330
602

1.2.1.6. Hoạt động sản xuất
- Trồng trọt:
Bốn xã vùng đệm khu bảo tồn là tiểu vùng đồi xen ruộng cho nên diện tích đất
canh tác ít, đồng thời năng suất trồng cũng thấp và không ổn định (trước năm 1996).
Kể từ năm 1996 trở lại đây, nhất là vào năm 1999 và năm 2000 do chủ động được
nước tưới, đầu tư vào giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, cho nên năng suất cây
trồng đã được nâng lên rõ rệt. Tổng sản lượng đã tăng rõ rệt. Bình quân lương thực
đầu người là 35.75kg/tháng. Số hộ đói nghèo đã giảm đáng kể, chỉ còn 9,6%. Số hộ
đạt mức trung bình và khá đạt 90,4%. Tuy chưa có hộ giàu nhưng cũng đã nói lên
sự vươn lên trong công cuộc xoá bỏ cái nghèo của người dân vùng đệm nơi đây.
- Hoạt động Lâm nghiệp ở các vùng đệm:
Ngoài diện tích Trung tâm quản lý vùng đệm còn 35,1 ha giao đất cho thôn
Thọ Lộc thuộc xã Hà Tân và 43,3 ha giao cho làng Tam Quy thuộc xã Hà Tân. Đây
là diện tích đã được lâm nghiệp và địa chính huyện giao khoán cho dân sử dụng.
Nhân dân nhận khoán được 4 - 5 năm. Đây là một điều khá thuận lợi vừa giải quyết
công ăn việc làm cho những người dân thất nghiệp trong vùng đồng thời giảm được

Trạm y tế: Tất cả các xã đều có một trạm y tế, riêng xã Hà Lĩnh có 2 trạm y tế,
nhân dân trong xã đều được khám chữa bệnh.

17
Trụ sở uỷ ban nhân dân đã được xây dựng và trang bị đầy đủ các trang thiết bị
Tập quán canh tác: Ở đây chủ yếu là quảng canh, ít được chăm sóc một cách
khoa học. Sản xuất hàng hoá chủ yếu là tự cung tự cấp là chính.
KBT rừng sến Tam Quy có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi cho sự phát
triển của thực vật và động vật. Nhưng với hiện trạng cơ sở hạ tầng, kinh tế và văn
hoá xã hội trong vùng đệm kể trên cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo tồn
đa dạng sinh học nói chung và rừng sến thuần còn sót lại ở đây. 18
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là thành phần các loài LCBS ở KBTTN rừng Sến Tam
Quy tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Thời gian
Tiến hành nghiên cứu thực địa từ tháng 10/2013 đến tháng 8/2014. Trong
khoảng thời gian đó chia làm 5 đợt khảo sát thực địa
Đợt 1: tháng 10/2013 (thời gian 7 ngày)
Đợt 2: tháng 3/2014 (thời gian 7 ngày)
Đợt 3: tháng 4/2014 (thời gian 10 ngày)
Đợt 4: tháng 5/2014 (thời gan 10 ngày)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status