VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HIỀN
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở XÃ NINH LAI,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số : 60 31 03 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI, 2017
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HIỀN
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở XÃ NINH LAI,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số : 60 31 03 10
Giáo sư
H
Hà Nội
KHXH
Khoa học Xã hội
NXB
Nhà xuất bản
PGS
Phó Giáo sư
Ths
Thạc sĩ
TS
Tiến sĩ
VHDT
Văn hóa dân tộc
Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, từ lâu hôn nhân đã trở thành một nét
đẹp văn hóa, những nghi lễ trong hôn nhân cũng rất được coi trọng, bởi nó chứa đựng
các giá trị văn hóa cội nguồn của tộc người Sán Dìu. Với người Sán Dìu, hôn nhân
không chỉ gắn liền với đời sống tâm linh mà còn đánh dấu một sự kiện quan trọng trong
bước đường đời của mỗi dân tộc. Từ trước đến nay có rất nhiều học giả quan tâm nghiên
cứu về hôn nhân của người Sán Dìu, song do người Sán Dìu sống ở từng vùng miền khác
nhau trong cả nước nên văn hóa, nghi lễ trong hôn nhân cũng có những nét khác nhau.
1
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ đã tác
động đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của các tộc người trong đó có hôn
nhân của người Sán Dìu, họ phải tự mình thay đổi để bắt kịp với xu hướng của thời
đại mới. Nhưng sự biến đổi không đồng nghĩa với việc đánh mất hay bị lãng quên đi
những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Do đó, nghiên cứu về hôn nhân
để có giải pháp bảo tồn, gìn giữ những tập quán mang giá trị nhân văn cao đẹp góp
phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là việc hết sức cần thiết
trong bối cảnh hiện nay.
Là người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Tuyên Quang, hiện đang công
tác tại Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc, nghiên cứu, tìm hiểu
phong tục tập quán của người Sán Dìu, song những hiểu biết về văn hóa truyền thống
của người Sán Dìu vẫn còn hạn chế, đặc biệt mình là cán bộ làm công tác bảo tồn và
phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của 22 dân tộc sinh sống trên
địa bàn tỉnh Tuyên Quang nên tôi quyết định chọn đề tài luận văn: “Hôn nhân của
người Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang” để làm đề tài
tốt nghiệp thạc sĩ, với mong muốn nghiên cứu và tìm hiểu về hôn nhân của tộc người
Sán Dìu, giúp tôi bổ sung thêm kiến thức về phong tục, tập quán, nghi thức, nghi lễ
cưới xin của dân tộc Sán Dìu một cách có hệ thống. Đồng thời, qua đó có những đề
có chủng tộc Sơn Man1, được các nhà khoa học lý giải rằng: “Man tức là Dao, và như
vậy Sơn Man tức là Sơn Dao hay cũng chính là Sán Dìu2".
Cuốn sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) được Viện
Dân tộc học xuất bản năm 1979 đã trình bày cơ bản một cách khái quát về bức tranh
tộc người Sán Dìu ở Việt Nam như: Lịch sử tộc người, văn hóa mưu sinh, văn hóa vật
chất qua nhà ở, trang phục, ẩm thực và văn hóa tinh thần: Cưới xin, ma chay...
Năm 2003, tác giả Ngô Văn Trụ và Nguyễn Xuân Cần đã (Chủ biên) cho xuất
bản cuốn sách Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang. Cuốn sách này bước đầu đã mô tả một
bức tranh toàn cảnh về người Sán Dìu ở Bắc Giang: Từ nguồn gốc, tên gọi, địa bàn cư
trú đến các hoạt động kinh tế truyền thống, ẩm thực, trang phục truyền thống, các
phong tục nghi lễ liên quan đến chu kỳ đời người.
Tác giả Diệp Trung Bình với Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người của người
Sán Dìu ở Việt Nam (2005) đã mô tả một cách toàn diện các nghi lễ trong chu kỳ đời
người người Sán Dìu nói chung từ khi sinh ra đến khi mất đi. Đồng thời tác giả cũng
đã có những ý kiến đánh giá về giá trị văn hóa và những biến đổi về văn hóa của tộc
người Sán Dìu được thể hiện qua nghi lễ vòng đời người.
Trên tạp chí Dân tộc và Thời đại, số 89, năm 2006, hai tác giả Đàm Thị Uyên
và Nguyễn Thị Hải đã có bài viết Tín ngưỡng trong cư trú của người Sán Dìu ở Thái
1
2
Lê Quý Đôn (1977), Kiến văn Tiểu lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.335.
Ma Khánh Bằng (1983), Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.9.
3
Nguyên. Bài báo đề cập đến các vấn đề tổ chức xã hội và những quan niệm ý thức và
niềm tin, các nghi lễ thực hành tín ngưỡng của người Sán Dìu trong tập quán cư trú
gắn với môi trường, cảnh quan cư trú của họ.
4
phẩm truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, cách chế biến các món ăn, đồ
uống, đồ hút truyền thống, sự tiếp thu các món ăn, đồ uống, đồ hút của các dân tộc
khác, các yếu tố xã hội trong ăn uống, những biến đổi trong tập quán ăn uống của
người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Cùng một vấn đề trên, tác giả Nguyễn
Thị Quế Loan còn có bài viết Biến đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu
tỉnh Thái Nguyên trên Tạp chí Dân tộc học, số 2, trang 13, năm 2008. Lê Minh Chính
cũng có công trình nghiên cứu về người Sán Dìu huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
dưới góc độ y học: Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai
tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp. Trên cơ
sơ đó, các bài viết của Nguyễn Thị Quế Loan và Lê Minh Chính đã cung cấp cho
người đọc những sắc thái văn hóa của tộc người.
2.2.2. Các nghiên cứu về gia đình và hôn nhân của người Sán Dìu ở Tuyên Quang
Năm 2007, Sở Văn hóa - Thông tin Tuyên Quang đã xuất bản cuốn sách Bước
đầu tìm hiểu dân ca dân tộc Tày, Sán Dìu và Cao Lan. Trong cuốn sách này đã đề cập
tới những làn điệu hát Soọng cô của tộc người Sán Dìu trong đời sống sinh hoạt, lao
động sản xuất và những lời hát đối đáp trong lễ cưới để từ đó đưa ra những khuyến
nghị về việc bảo tồn, phát huy các làn điệu dân ca của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cuốn sách này cũng là một nguồn tư liệu quan trọng để tác giả tham khảo, hoàn thiện
bản luận văn này.
Năm 2016, tác giả Hoàng Phương Mai cũng đã dày công nghiên cứu một khía
cạnh gia đình của người Sán Dìu ở vùng chân núi Tam Đảo, trong luận án tiến sĩ nhân
học Gia đình của người Sán Dìu vùng chân núi Tam Đảo; các bài viết đăng trên tạp
chí Dân tộc học: Các chức năng cơ bản của gia đình người Sán Dìu ở huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang (2012), Tạp chí Dân tộc học, Số 5&6; Truyền thống và
những biến đổi trong nghi lễ cưới xin của người Sán Dìu ở tỉnh Tuyên Quang (2013),
Tạp chí Văn hóa học, số 2; Phân loại cấu trúc, quy mô của gia đình người Sán Dìu
(Nghiên cứu tại xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, 2015), Tạp chí
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là hôn nhân của người Sán Dìu ở xã
Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trong đó, các đối tượng cụ thể được
quan tâm hơn là những người trong độ tuổi hôn nhân, những người cao tuổi hiểu biết
rõ về các phong tục, tập quán, nghi lễ trong hôn nhân và các nhà tuyên truyền, thực
hiện và hoạch định chính sách.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu chính của luận văn là tập trung nghiên cứu các vấn đề về
đặc điểm, nghi thức, phong tục, tập quán kiêng kị, nghi lễ truyền thống và hiện nay,
xu hướng biến đổi liên quan đến hôn nhân của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện
Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
6
Về phạm vi thời gian, nghiên cứu tập trung miêu tả hôn nhân của người Sán
Dìu trước, trong và sau thời kỳ đổi mới (1986).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài căn cứ vào những quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng của
Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc. Bên cạnh đó để
phân tích và lí giải rõ hơn về hôn nhân của người Sán Dìu, đề tài hướng tới sử dụng 2
lý thuyết cơ bản là lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa, lý thuyết chức năng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu sau:
- Để thực hiện luận văn này, tác giả đã thực hiện 05 cuộc điền dã, tham dự 03
đám cưới tại xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang vào cuối năm 2016
và đầu năm 2017. Tại địa bàn nghiên cứu, tác giả đã cùng ăn, cùng ở và tham dự một số
lễ dạm ngõ, ăn hỏi đến kết thúc một đám cưới của người Sán Dìu. Trong thời gian đó, tác
thông qua các nguyên tắc, đặc điểm, các nghi lễ biến đổi trong hôn nhân của người
Sán Dìu ở xã Ninh Lai được luận văn đặc biệt chú trọng và tập trung phân tích. Đồng
thời, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đạt được luận văn khẳng định những giá trị
tốt đẹp, những mặt hạn chế, lạc hậu trong hôn nhân của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai,
huyện Sơn Dương hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ nghiên cứu về nghi thức hôn nhân của người Sán Dìu ở
xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Luận văn sẽ góp phần bổ sung
nhiều tư liệu mới và chỉ ra những yếu tố nội sinh cũng như quá trình giao thoa, tiếp
biến văn hóa trong lĩnh vực hôn nhân của người Sán Dìu.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn cung cấp là cơ sở khoa học quan trọng giúp
chính quyền địa phương trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của tộc người
Sán Dìu trong bối cảnh CHH - HĐH và xây dựng đời sống nông thôn mới hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, luận văn
được cơ cấu gồm 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu.
Chương 2 - Hôn nhân của người Sán Dìu (trước thời kỳ đổi mới 1986).
Chương 3 - Hôn nhân của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai từ đổi mới đến nay Quá trình biến đổi, nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra.
8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1. 1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Hôn nhân: Khi nghiên cứu về hôn nhân, Emily A.schultz và Robobert
H.Lavenda (2001) cho rằng: “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà mô hình mẫu của
nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông và một người đàn bà, là một sự kiện làm
biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc
liền với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và môi trường tự nhiên trong đời sống của từng tộc
10
người và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộc người có
những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc văn hóa của tộc người còn thể hiện bản lĩnh của tộc
người, yếu tố đặc trưng của tộc người. Trong quá trình phát triển, không ít hiện tượng
văn hóa lúc đầu chỉ vay mượn, nhưng dần dần qua thời gian được “dân tộc hoá” “địa
phương hóa”, được sử dụng và tái tạo theo cách riêng của tộc người để ít nhiều mang
bản sắc văn hóa của tộc người đó.
1.1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Giao lưu, tiếp biến văn hóa là khái niệm
được trường phái nhân học Anglo Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX, nhằm chỉ sự tiếp
xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác, hệ quả của sự tiếp xúc này là sự thay
đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa ở cả hai nền văn hóa đó. Theo đó, giao lưu
tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, chịu ảnh hưởng của nền văn
hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy. Vì thế, sự giao
lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi đặc
tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục. Các thành tố của
nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình…
Qua quá trình tiếp xúc và giao lưu giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn thường sẽ bị
xã hội mạnh hơn tác động làm thay đổi [28, tr. 107-108].
Tiếp biến văn hóa còn được hiểu là quá trình biến đổi văn hóa diễn ra do sự
tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa riêng rẽ mà kết quả làm cho chúng ngày cành trở
nên giống nhau hơn. Quá trình này luôn có liên quan tới sự tương tác phức tạp với
quá trình biến đổi xã hội [69, tr.12].
Như vậy, lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa cho thấy biến đổi là quá trình tất
yếu của mọi sự vật và hiện tượng, trong đó bao gồm cả văn hóa tộc người. Ngày nay,
dưới sự tác động của quá trình phát triển hiện đại hóa, toàn cầu hóa và xu hướng hội
nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi của các tộc người, các nền văn hóa
Sơn Dương là một huyện miền núi nằm ở phía Nam của tỉnh Tuyên Quang, có vị
trí địa lý từ 21030' đến 21050' vĩ bắc, từ 105015' đến 105035' kinh đông, từ thành phố
Tuyên Quang đi dọc theo quốc lộ 37 khoảng 30km sẽ đến huyện Sơn Dương. Trước năm
1976 Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang, sau năm 1976, Hà Giang và Tuyên Quang
sáp nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Đến năm 1991, tỉnh Hà Tuyên lại tách ra thành 2 tỉnh:
Tuyên Quang và Hà Giang, lúc này Sơn Dương trở thành huyện của tỉnh Tuyên Quang.
Phía bắc giáp huyện Yên Sơn; phía nam và phía tây nam giáp các huyện Đoan Hùng,
Phù Ninh (Phú Thọ), Lập Thạch, Sông Lô (Vĩnh Phúc); phía đông giáp với 2 huyện Đại
Từ và Định Hóa (Thái Nguyên). Huyện lỵ là thị trấn Sơn Dương cách trung tâm thành
phố Tuyên Quang 30km. Tổng diện tích tự nhiên của huyện Sơn Dương là 78.863 ha,
trong đó đất nông nghiệp 19.577 ha chiếm 24,80%, đất lâm nghiệp 39.681ha 50,27%,
còn lại là các loại đất khác 19.605 ha chiếm 24,93% [18, tr.1418].
12
Dân số toàn huyện Sơn Dương là 43.588 hộ, 171.694 nhân khẩu (theo tổng điều
tra dân số và nhà ở năm 2009), người Sán Dìu là 12.367 chiếm 7,2% dân số toàn huyện
(có những xã người Sán Dìu chiếm 60- 80% dân số như xã Ninh Lai, Thiện Kế, ...). Tính
đến năm 2010, huyện Sơn Dương có 01 thị trấn và 32 xã, là nơi sinh sống của các dân
tộc: Kinh, Tày, Sán Dìu, Sán Chay, Nùng, Dao, Hoa, Mông, Mường...
Địa hình huyện Sơn Dương khá phức tạp. Rừng núi chiếm ¾ diện tích toàn
huyện và chi phối điều kiện tự nhiên bởi bốn dãy núi lớn: Hai dãy núi Hồng và Tam
Đảo (phía đông bắc) theo hướng bắc - nam tạo thành ranh giới giữa Sơn Dương và
Thái Nguyên. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,80C, lượng mưa trung bình hàng
năm là 1.627mm.
Sự đa dạng về địa hình đã đem lại cho Sơn Dương sự phong phú về về các loại
động, thực vật. Trước đây trên địa bàn có nhiều loại gỗ quý như đinh, lim, sến, táu;
các loại cây có giá trị như ba kích, thiện niên kiện, sa nhân, trầm hương...; các loại
muông thú quý như hươu, tắc kè, gấu, lợn rừng...; khoáng sản như thiếc, chì, đồng,
những tên gọi khác nhau như: Trại Đất (người Trại ở nhà đất), Trại Ruộng (người
Trại làm ruộng), Trại Cộc, Mán Quần Cộc (người Mán mặc quần cộc), Mán Váy Xẻ
(người phụ nữ Mán mặc váy xẻ), Slán Dảo, Sán Nhiêu... Tháng 3 năm 1960, Tổng
cục Thống kê Việt Nam ghi nhận tên gọi chính thức của dân tộc trong các văn bản
của Nhà nước là Sán Dìu. Căn cứ vào ngôn ngữ và một số phong tục tập quán, người
Sán Dìu được xếp vào hệ ngôn ngữ Hán - Tạng [68, tr.18].
Đầu thế kỷ XX, nhà nghiên cứu người Pháp là Bonifacy cho rằng: Người Sán
Dìu, dưới sự đàn áp của triều đại Mãn Thanh, đã từ tỉnh Quảng Đông di cư vào Việt
Nam theo đường biển và dừng chân tại Hải Dương, sau đó họ tiếp tục chuyển cư đến một
số tỉnh thuộc miền núi phía bắc như Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang [4, tr.19].
Người Sán Dìu ở Tuyên Quang, khi nói về nguồn gốc của dân tộc mình, đồng
bào cho rằng: “Người Sán Dìu vốn là một bộ tộc cư trú bên Quảng Đông (Trung
Quốc) nhưng do bên đó xảy ra các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc sinh ra cảnh loạn
lạc, nên phải di cư sang Việt Nam từ thế kỷ trước. Trước khi đến Tuyên Quang,
người Sán Dìu đã định cư ở Móng Cái, Bắc Giang, Thái Nguyên và đến Tuyên Quang
được 5, 6 đời” 3. Như vậy, có thể người Sán Dìu đã định cư ở Tuyên Quang khoảng
200 - 300 năm, đồng bào cư trú tập trung ở các xã Ninh Lai, Thiện Kế, Sơn Nam của
huyện Sơn Dương. Nhưng từ khi di cư sang Việt Nam, sinh sống trên lãnh thổ Việt
Nam qua nhiều thế hệ, người dân Sán Dìu đã ý thức được mình là một trong các dân
tộc thiểu số của Việt Nam. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, tộc người Sán Dìu đã
cùng với các dân tộc anh em khác tạo dựng nhiều truyền thống tốt đẹp nhưng vẫn bảo
lưu được những nét đặc sắc của văn hóa tộc người mình ở Tuyên Quang nói riêng và
cả nước nói chung.
3
Ban Dân tộc Tuyên Quang. Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang. Tuyên Quang, năm 1972.
14
bảo cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp bền vững. Ngoài trồng trọt, đồng bào còn biết
khai thác các nguồn lợi từ thiên nhiên: Trên rừng, dưới sông, suối, trong lòng đất, đó
cũng là những nguồn thu nhập quan trọng. Không chỉ giỏi về chăn nuôi, trồng trọt,
15
người Sán Dìu ở Ninh Lai còn làm nhiều nghề thủ công như khai thác, chế biến nông
lâm sản và dược liệu…
Địa hình đa dạng đã đem đến cho xã Ninh Lai sự phong phú về động, thực vật.
Về động vật có một số muông thú quý như: Hươu, nai, lợn rừng, tắc kè... Về thực vật
có các loại gỗ quý như: Lim, sến, táu... cùng các cây dược liệu qúy như: Ba kích,
thiên niên kiện, trầm hương, sa nhân... và một số cây nguyên liệu như: Nứa, giang,
sặt... Thổ nhưỡng ở Ninh Lai khá màu mỡ. Diện tích đất dùng cho canh tác trồng lúa
nước có 321,6 ha, chiếm 13% diện tích đất tự nhiên, có hệ thống kênh mương tưới
tiêu chủ động từ nguồn dự trữ nước của hồ Hoàng Tân. Ngoài diện tích đất trồng lúa
nước, còn có đất đồi rừng, soi bãi thích hợp sử dụng thích hợp cho việc phát triển cây
lương thực như ngô, khoai, sắn, lạc, đậu đỗ tương và các loại cây công nghiệp, cây
lâm nghiệp và các loại cây ăn quả khác.Các điều kiện tự nhiên của xã đã tạo tiền đề
thuận lợi để cho xã Ninh Lai xây dựng cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện.
1.2.3.3. Đời sống xã hội
Hiện nay, tỉnh Tuyên Quang có 22 dân tộc anh em cùng cư trú, trong đó, tại xã
Ninh Lai có 03 dân tộc (Sán Dìu, Kinh, Dao) cùng sinh sống quần tụ chan hoà trong
khối đoàn kết gắn bó keo sơn. Tại xã Ninh Lai qua việc tìm hiểu gia phả và theo
người gia kể lại, Sán Dìu là tộc người cư trú lâu đời nhất ở đây, sống tập trung thành
từng làng, quanh làng trồng tre, chuối, cau và các cây ăn quả khác. Tổ chức làng bản,
dòng họ và gia đình là ba hình thức cơ bản để cố kết cộng đồng. Mỗi hình thức tổ
chức đều có những tập tục riêng để liên kết các thành viên với nhau, đó là cơ sở để
duy trì đặc trưng văn hóa dân tộc Sán Dìu.
Đơn vị cư trú của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai tương đương với một làng của
người Kinh gọi là bản. Bản người Sán Dìu ở xã Ninh Lai thường được phân bố ở
đất của người Sán Dìu. Đình làng được xây dựng lên để phục vụ đời sống tín ngưỡng
của đồng bào, nhưng ngày nay người dân thường tổ chức các buổi sinh hoạt cộng
đồng, sinh hoạt văn hóa tại các nhà văn hóa của thôn, xã.
Về ăn uống, người Sán Dìu thường ăn ba bữa một ngày, lương thực chính của
người Sán Dìu là gạo, gồm có gạo nếp và gạo tẻ, ngoài ra còn có ngô, khoai, sắn.
Thực phẩm dùng trong các bữa ăn gồm các loại rau tự trồng hay do khai thác từ
nguồn lợi tự nhiên. Các món ăn được chế biến đơn giản như: Xào, nấu canh, luộc,
nướng, vùi, hấp, bung, hầm... Đồng bào thường có tập quán dự trữ và để dành thực
phẩm và có nhiều cách bảo quản thực phẩm để dùng trong cả tháng hoặc cả năm như
làm thính, sấy khô, ướp muối. Đồ uống, đồng bào thường uống nước trà, lá vối, các
loại rễ cây rừng phơi khô…
Về trang phục, y phục của người Sán Dìu trước đây được may từ vải sợi bông
hoặc tơ tằm do đồng bào tự dệt. Đồng bào thường nhuộm vải màu chàm để may quần
áo và hầu như không có hoa văn trang trí.
4
Ma Văn Bằng - Người Sán Dìu ở Việt Nam - Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983.
17
- Văn hóa tinh thần:
Người Sán Dìu ở xã Ninh Lai thường hướng tới thế giới tâm linh, họ coi vạn
vật đều có linh hồn. Vì thế, người Sán Dìu ở đây ngoài thờ cúng tiên, ông bà còn thờ
cả các vị thánh, vị thần, Thành Hoàng làng. Điều đó dễ nhận thấy ở ngôi đình làng là
thường có cây đa, có lẽ cũng là phần nào đó giống với khung cảnh của đình làng
người Việt. Các đặc trưng văn hóa của tộc người được thể hiện rõ qua các nghi lễ sinh
đẻ, phong tục cưới hỏi, tang ma và các phong tục tập quán khác của người Sán Dìu.
Từ cuộc sống lao động vất vả, vẻ đẹp đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân đã
hình thành, phát triển phong phú thể hiện qua các làn điệu hát Soọng cô và thực hiện
một mảng hay một lĩnh vực riêng biệt. Hôn nhân và các nghi lễ trong hôn nhân của
người Sán Dìu cũng đã được một số nhà nghiên cứu đền cập đến nhưng nhìn chung tư
liệu về vấn đề này không nhiều.
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số khái niệm cơ
bản như: Hôn nhân, nghi lễ, văn hóa tộc người, truyền thống, biến đổi..., một số lý
thuyết nghiên cứu được sử dụng trong luận văn như: Lý thuyết chức năng, lý thuyết
giao lưu tiếp biến văn hóa để phân tích và đánh giá các nội dung của luận văn.
Địa bàn nghiên cứu chính của đề tài luận văn là xã Ninh Lai, với tỷ lệ chiếm
75% dân số của toàn xã, cùng với điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu, đất đai, nơi cư
trú và lịch sử tụ cư của người Sán Dìu đã tạo nên một nền văn hóa đa dạng, phong
phú, mang sắc thái đặc trưng riêng của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, cộng đồng cư
dân xã Ninh Lai đã luôn luôn đoàn kết bên nhau, chống lại sự khắc nghiệt của thiên
nhiên, một lòng kiên cường đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất
nước, chăm lo xây dựng cuộc sống. Do vậy, dù mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và
bản sắc văn hóa riêng, nhưng các tộc người ở Ninh Lai đã hình thành cộng đồng đoàn
kết cùng nhau xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.
19
CHƯƠNG 2
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở XÃ NINH LAI TRƯỚC ĐỔI MỚI (1986)
2.1. Quan niệm về hôn nhân
Trong quan niệm của người Sán Dìu, hôn nhân còn có vai trò thực hiện chức
năng để duy trì và phát triển giống nòi, thể hiện tình cảm đôi lứa mà còn phản ánh
những giá trị đạo đức tộc người, đồng thời là quyền và nghĩa vụ của từng cá nhân đối
với gia đình cũng như dòng tộc. Do vậy, hôn nhân không chỉ là chuyện cá nhân hay
riêng lẻ trong từng gia đình mà còn là chuyện vui của dòng họ và rộng hơn là cả cộng
đồng. Người Sán Dìu luôn quan niệm rằng: Con người ta sống ở đời có ba việc lớn và
Với những câu hát ví von đầy hình ảnh, chân tình, mộc mạc, mượn cảnh để
diễn ý, các cô gái, chàng trai Sán Dìu đã nói lên tâm tư, tình cảm quyến luyến của
mình. Khi chính thức yêu nhau, chàng trai thường tặng cho người mình yêu khăn tay,
bộ dây xà tích để làm kỷ niệm mối tình của họ. Chàng trai và cô gái hẹn sẽ đến thăm
làng của nhau và hát đối đáp ban đêm vào một ngày gần nhất. Khi chàng trai và cô
gái thật sự ưng nhau, họ về thưa với bố mẹ để xin ý kiến và tiến hành các thủ tục kết
hôn. Có thể nói, người Sán Dìu là một trong những cộng đồng tộc người thiểu số ở
nước ta có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú và nó được thể hiện rất rõ qua
các câu ca, điệu hát trong các buổi lễ hội, trong hôn nhân.
2.2.2. Quyền quyết định hôn nhân
Trong văn hóa của tộc người Sán Dìu, các bậc làm cha, làm mẹ khá tôn trọng việc
lựa chọn người bạn đời của con cái mình, bởi họ cũng có suy nghĩ rằng: Trai gái người
Sán Dìu chúng tôi yêu nhau, lấy nhau thường rất hạnh phúc vì trải qua quá trình tìm hiểu,
bố mẹ cũng thường tôn trọng sự lựa chọn của con cái. Tuy nhiên, trước thời kì đổi mới
đất nước, cũng có một số trường hợp quyền quyết định hôn nhân của đôi vợ chồng trẻ
lại do cha mẹ quyết định. Chỉ khi nào được sự đồng ý của cha mẹ và họ hàng hai bên
thì họ mới có thể tiến tới các thủ tục theo quy định để trở thành vợ chồng. Nếu như
không được sự đồng ý của cha mẹ, sự chấp thuận của họ hàng hai bên thì đôi trai gái
đó có yêu nhau đến mấy cũng không được kết hôn. Đó là một số trường hợp ở các gia
đình quyền quý xưa mới thường hay gả ép để môn đăng hộ đối [PVS bà Trần Thị Hụt,
sinh năm 1945, thôn Ninh Phú, xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang].
Vào các ngày lễ hội, hội hè, đình đám, trong các phiên chợ hay trong những
dịp lao động tập thể cũng như trong đám cưới, đám hỏi của người thân, bạn bè, họ
hàng, họ có hẹn hò, gặp gỡ, trao đổi tình cảm. Nhưng đôi trẻ có được cùng nhau kết
tóc xe duyên, nên vợ nên chồng, thành đôi thành lứa hay không chủ yếu lại phụ thuộc
ý muốn và quyền quyết định của bố mẹ. Trước đây, giống như nhiều dân tộc khác
người Sán Dìu cũng phổ biến tình trạng "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy", hôn nhân
của con cái vẫn do bố mẹ sắp đặt, quyết định thông qua sự giúp đỡ của các "mòi
công" (ông mối) và "mòi chía" (bà mối) với tư cách là "người thông ngôn", đóng vai
trò trung gian là cầu nối giữa hai bên gia đình nhà trai và nhà gái, "khi sống phải tết,