Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG ĐỨC NGỌC
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG
VÀ THỜI ĐIỂM THU HOẠCH GIỐNG SẮN MỚI
CÓ TRIỂN VỌNG TẠI HUYỆN SƠN DƢƠNG -
TỈNH TUYÊN QUANG
Ĩ NÔNG NGHIỆP Ĩ NÔNG NGHIỆP
: GS.TS. TRẦN NGỌC NGOẠN THÁI NGUYÊN - 2014 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2014
Tác giả Hoàng Đức Ngọc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN 27
3.1. Tỷ lệ mọc mầm và thời gian mọc mầm của các dòng, giống sắn 27
3.2. Động thái tăng trƣởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn tham
gia thí nghiệm 28
3.3. Động thái ra lá của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 29
3.4. Tuổi thọ lá của các dòng, giống sắn thí nghiệm 30
3.5. Một số đặc điểm nông học của các dòng, giống sắn thí nghiệm 31
3.5.1. Sự phân cành của các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 32
3.5.2. Chiều cao thân chính 33
3.5.3. Chiều cao cây cuối cùng 33
3.5.4. Tổng số lá trên cây 34
3.5.5. Đƣờng kính gốc 35
3.6. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống sắn
tham gia thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 36
3.6.1. Chiều dài củ 37
3.6.2. Đƣờng kính củ 38
3.6.3. Số củ trên gốc 38
3.6.4. Khối lƣợng trung bình củ trên gốc 39
3.6.5. Năng suất thân lá 40
3.3.6. Năng suất củ tƣơi 41
3.3.7. Năng suất sinh vật học 42
3.6.8. Chỉ số thu hoạch 44
3.7. Chất lƣợng của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dƣơng -
Tuyên Quang 45
3.7.1. Tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô của các dòng, giống sắn thí
nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
NSTB : Năng suất tinh bột
NSCK : Năng suất củ khô
NSTL : Năng suất thân lá
TLCK : Tỷ lệ chất khô
TLTB : Tỷ lệ tinh bột
NST : Nhiễm sắc thể
USD : Đô la Mỹ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Hàm lƣợng dinh dƣỡng trong củ sắn 5
Bảng 1.2: Giá trị dinh dƣỡng của sắn 6
Bảng 1.3: Hàm lƣợng HCN 9
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn của toàn thế giới từ
năm 1995 - 2011 10
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn ở Việt Nam từ năm
2000 đến 2011 11
Bảng 3.1: Tỷ lệ nảy mầm và thời gian từ trồng đến mọc của 5 dòng,
giống sắn thí nghiệm 27
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trƣởng chiều cao cây của các dòng, giống sắn tham
gia thí nghiệm 28
Bảng 3.3: Tốc độ ra lá của 5 dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm 29
Bảng 3.4: Tuổi thọ lá của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm 30
Bảng 3.5: Một số đặc điểm nông học của 5 dòng, giống sắn thí nghiệm 32
Bảng 3.6: Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của 5 dòng,
giống sắn thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 37
Bảng 3.7: So sánh các dòng, giống sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dƣơng
- Tuyên Quang 41
sắn tham gia thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 39
Hình 3.5: Biểu đồ năng suất thân lá của các dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 40
Hình 3.6: Biểu đồ năng suất củ tƣơi của các dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 42
Hình 3.7: Biểu đồ năng suất sinh vật học của các dòng, giống sắn
tham gia thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 44
Hình 3.8: Biểu đồ chỉ số thu hoạch của các dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 45
Hình 3.9: Biểu đồ tỷ lệ chất khô của các dòng, giống sắn thí nghiệm
tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 47
Hình 3.10: Biểu đồ năng suất củ khô của các dòng, giống sắn thí
nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 48
Hình 3.11: Biểu đồ tỷ lệ tinh bột của các dòng, giống sắn thí nghiệm tại
Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 50
Hình 3.12: Biểu đồ năng suất tinh bột của các dòng, giống sắn thí
nghiệm tại Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 51
Hình 3.13: Biểu đồ năng suất củ tƣơi của hai giống sắn thí nghiệm
HL2004 - 28 và KM414 55
Hình 3.14: Biểu đồ năng suất sinh học của hai giống sắn thí nghiệm
HL2004 - 28 và KM414 56
Hình 3.15: Biểu đồ tỷ lệ tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm HL2004
- 28 và KM414 57
Hình 3.16: Biểu đồ Năng suất tinh bột của hai giống sắn thí nghiệm
HL2004 - 28 và KM414 58
Hình 3.17: Biểu đồ tỷ lệ chất khô của hai giống sắn thí nghiệm tại Sơn
Dƣơng - Tuyên Quang 60
Hình 3.18: Biểu đồ năng suất chất khô của hai giống sắn thí nghiệm tại
Sơn Dƣơng - Tuyên Quang 61
hƣớng sử dụng đất nghèo dinh dƣỡng, đất khó khăn và phù hợp với các vùng
sinh thái là việc làm có hiệu quả, vì nó góp phần chuyển một phần diện tích
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
đất trồng sắn sang canh tác những cây trồng khác mà vẫn không làm giảm sản
lƣợng sắn.
Tuy nhiên, năng suất sắn tại nhiều địa phƣơng ở Việt Nam cũng nhƣ ở
huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang vẫn còn thấp. Vì vậy, muốn nâng cao
năng suất sắn cần phải chọn tạo đƣợc những giống sắn cho năng suất cao, phù
hợp với điều kiện sinh thái. Để phục vụ cho chiến lƣợc phát triển sắn bền vững
việc nghiên cứu về giống nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng của các dòng,
giống sắn là vấn đề rất cần thiết. Với những lý do trên chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn giống và thời điểm thu hoạch giống sắn
mới có triển vọng tại huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng, phát triển, năng suất và chất lƣợng
của các giống sắn tham gia nghiên cứu. Nhằm lựa chọn đƣợc dòng, giống sắn
mới có năng suất, chất lƣợng cao phù hợp với điều kiện sản xuất tại huyện
Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang.
- Xác định thời điểm thu hoạch thích hợp nhất đối với các giống sắn
tham gia nghiên cứu tại tỉnh Tuyên Quang.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các đặc điểm sinh trƣởng, phát triển của các dòng, giống
sắn tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng,
giống tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu chất lƣợng của của các dòng, giống sắn nghiên cứu.
Sắn là cây có hoa hạt kín, có 2 lá mầm và có số NST (2n = 36), thuộc
bộ ba mảnh cỏ (Euphorbiale ), họ thầu dầu (Euphotbiaceae), chi Manihot, có
tới hơn 300 chi và 8000 loài phân thành 17 nhóm. Nhiều tài liệu cho biết cây
sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh và đƣợc trồng cách
đây khoảng 5000 năm (Baker Peter, 2009)[15].
Trung tâm phát sinh cây sắn đƣợc giả thiết tại vùng đông bắc của nƣớc
Brasil thuộc lƣu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và
hoang dại.
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mêhicô, Trung Mỹ và
ven biển phía bắc của Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở
Venezuela niên đại 2.700 năm trƣớc công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở
vùng ven biển Peru khoảng 2.000 năm trƣớc công nguyên, những lò nƣớng
bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1200
năm trƣớc công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch đƣợc
phát hiện tại Mexico có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trƣớc công nguyên
(Duangpatra, D.1987)[16].
Về vấn đề trung tâm phát sinh cây sắn còn nhiều điều không chắc chắn.
Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây sắn có
nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brasil có hai trung
tâm, còn lại là ở Mehico và Bolivia (Aiyer, R.S. and P.6. Nair,1995) [11].
Cây sắn đƣợc ngƣời Bồ Đào Nha đƣa đến Congo của châu Phi vào thế
kỷ XVI. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này của Barre và Thevet viết năm 1558. Ở
châu Á, sắn đƣợc du nhập vào Ấn Độ khoảng thế kỷ XVII (Duangpatra, D.
(1987)[16] và Sri Lanka đầu thế kỷ XVIII (Bandara, W.M.S.M. and M.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Sikurajapathy ,1990)[14]. Sau đó, sắn đƣợc trồng ở Trung Quốc, Myanma và
các nƣớc châu Á khác ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỉ XIX.
quan trọng là Lizin và Tritophan có đủ để cung cấp cho nhu cầu của cả trẻ em
và ngƣời lớn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Trƣớc đây sắn đƣợc coi là một trong những cây lƣơng thực quan trọng. Tại
nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới đã coi sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn là
nguồn lƣơng thực chính, đặc biệt là các nƣớc Châu Phi. Sắn là cây trồng đứng vị
trí thứ tƣ trên thế giới về mặt cung cấp năng lƣợng cho con ngƣời.
Ngày nay, chế biến sắn đƣợc sản xuất theo công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, các sản phẩm từ sắn ngày càng đa dạng và phong phú đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của ngƣời dân.
Bảng 1.2: Giá trị dinh dƣỡng của sắn
Thành phần
Tỷ lệ
Tỷ lệ chất khô (%)
30- 40
Hàm lƣợng tinh bột (%)
27- 36
Đƣờng tổng số (% FW)
0,5- 2,5
Đạm tổng số (%FW)
0,5- 2,0
Chất xơ (%FW)
1,0
Chất béo (%FW)
0,5
Chất khoáng (%FW)
0,5- 1,5
7
C khoảng 50 mg/100g, năng lƣợng 607 KJ/100g, yếu tố hạn chế dinh dƣỡng
là Cyanogenes, tỷ lệ trích tinh bột 22-25%, kích thƣớc hạt bột 5- 50 micron,
amylose 15-29%, độ dính tối đa 700- 1100 BU, nhiệt độ hồ hóa 49-73
O
C
(Christopher Wheatley, Gregory J.Scott, Rupert Best and Siert Wiersema,
1995). Theo trích dẫn của (Hoàng Kim, Phạm Văn Biên, 1996), đã dẫn liệu
các số liệu phân tích của Việt Nam (Lê Thƣớc,1966; Đại học Nông Lâm,
1987; Nguyễn Đức Trân, 1963; Viện Chăn nuôi, 1983), Trung Quốc (Zheng
Bangguo et al, 1988), Philippines (Jose A. Eusebio 1978, Truong Van Den,
1989), Ấn Độ (Hirshi and Nair 1978) và CIAT (G.G. Gomez et al, 1985) đã
cho kết quả tƣơng tự.
Củ sắn giàu chất bột, năng lƣợng, khoáng, vitamin C, hạt bột sắn nhỏ
mịn, độ dính cao nhƣng nghèo chất béo và nhất là nghèo đạm, hàm lƣợng các
acid amin không cân đối, thừa arginin nhƣng thiếu các acid amin chứa lƣu
huỳnh. Tùy theo giống sắn, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau trồng và kỹ thuật
phân tích mà tổng số vật chất khô và hàm lƣợng đạm, béo, khoáng, xơ,
đƣờng, bột có sự thay đổi.
Sắn lát khô: thƣờng có hai loại: sắn lát khô có vỏ và sắn lát khô không
vỏ. Sắn lát khô có vỏ bao gồm: vỏ thịt, thịt sắn, lõi sắn và có thể là một phần
vỏ gỗ. Sắn lát khô không vỏ chỉ bao gồm thịt sắn và lõi sắn. Số liệu phân chất
về sắn lát khô không vỏ của Việt Nam bình quân: đạt vật chất khô 90,01%,
đạm thô 2,48%, béo thô 1,40%, xơ thô 3,72%, khoáng tổng số 2,04%, dẫn
xuất không đạm 78,59%, Ca 0,15%, P 0,25%. Sắn lát khô có vỏ vật chất khô
90,57%, đạm thô 4,56%, béo thô 1,43%, xơ thô 3,52%, khoáng tổng số
2,22%, dẫn xuất không đạm 78,66%, Ca 0,27%, P 0,50%
Bột sắn nghiền và tinh bột sắn: Bột sắn nghiền thủ công có vật chất
khô khoảng 87,56%, đạm thô 3,52%, béo thô 1,03%, xơ thô 1,37%, khoáng
tổng số 1,38%, dẫn xuất không đạm 83,89%, Ca 0,11%, P 0,11% (Hoàng Kim
bởi Peckolt và đƣợc gọi là manihotoxin. Sau đó, Dunstan và Henry đã phân ly
đựơc chất này có tính độc tƣơng tự nhƣ chất say của một số loại họ Đậu
(Nguyễn Thế Hùng, 2001)[2]. Chất độc này vị đắng có mặt trên hầu hết các
bộ phận của cây và tất cả các giống. Dƣới tác dụng của dịch vị có chứa acid
clohydric hoặc men tiêu hóa, chất này bị phân hủy và giải phóng ra acid
cyanhydric (Cyanogenes) là chất độc với ngƣời:
C
6
H
17
O
6
N + H
2
O ===> C
6
H
12
O
6
+ (CH
3
)
3
+ HCN
Linamarin Glucoze Axeton acid cyahydric
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
14
3
12
13
Cây sắn non: 3-6 tháng tuổi, hàm lƣợng HCN có ít ở củ nhƣng có
nhiều ở lá. Ở các cây sắn 11-18 tháng tuổi hàm lƣợng HCN tăng lên ở củ và
hơi giảm xuống ở lá. Sự phân bố chất độc trong củ sắn không đều: Cuống củ
chứa nhiều chất độc hơn giữa củ. Lớp vỏ thịt có nhiều HCN hơn cả (80-500
mg/1.000 g vỏ tƣơi), kế đến là lõi sắn, phần thịt sắn có chứa chất độc HCN ít
hơn. Hàm lƣợng cyanogenes trong cuống lá non cao hơn phiến lá, còn ở lá già
thì ngƣợc lại Đất rừng mới khám phá hoặc trồng sắn gần các cây có khả
năng gây tích tụ glucozit cyanhydric (nhƣ cây xoan) thƣờng làm tăng hàm
lƣợng HCN). Bón nhiều phân đạm làm tăng HCN. Bón kali và phân chuồng
sẽ làm giảm HCN.
1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Trên thế giới Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây quan trọng đƣợc
xếp đứng thứ năm sau cây ngô, lúa gạo, lúa mì và khoai tây. Năm 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
Faostat đã thống kê diện tích sắn trên toàn thế giới đạt 19,06 triệu ha, năng
suất bình quân 12,64 tấn/ha, sản lƣợng 240,98 triệu tấn. Diện tích, năng suất
và sản lƣợng sắn thế giới có chiều hƣớng tăng trong giai đoạn 1995 - 2009
đƣợc thể hiện ở bảng 1.1 nhƣ sau:
Bảng 1.4: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn của toàn thế giới
từ năm 1995 - 2011
Năm
Diện tích
19,06
12,64
240,98
2010
18,45
12,43
239,54
2011
19,64
12,83
252,20
(Nguồn: FAOSTAT 2013)
Sản lƣợng sắn của toàn thế giới trong năm 2011 là khoảng 252,20 triệu
tấn, tăng 44,87 triệu tấn so với năm 2005 và 90,04 triệu tấn so với năm 2000.
Từ năm 1995 đến năm 2011 diện tích sắn đã tăng 3,19 triệu ha, năng suất tăng
2,98 tấn/ha. Qua bảng 1.1 ta thấy rằng cây sắn hiện nay đang phát triển cả về
diện tích, năng suất và sản lƣợng.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
Ở Việt Nam sắn là một trong bốn cây trồng có vai trò quan trọng trong
chiến lƣợc an toàn lƣơng thực quốc gia sau lúa và ngô. Diện tích, năng suất,
sản lƣợng sắn đƣợc thể hiện ở bảng 1.5.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lƣợng sắn ở Việt Nam
từ năm 2000 đến 2011
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
17,18
8.522
2011
560,1
17,63
9.875
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)
Qua số liệu ở bảng 1.5 cho thấy tình hình sản xuất sắn qua các năm so
với năm 2000 tăng cả về diện tích, năng suất và sản lƣợng. Năm 2000 có diện
tích trồng sắn từ 237,6 nghìn ha, năm 2011 là 560,1 nghìn ha, tăng so với năm
2000 là 322,5 nghìn ha đánh dấu sự gia tăng năng suất từ 8,35 tấn/ha trong
năm 2000 lên 17,63 tấn/ha vào năm 2011.
Tại Việt Nam cây sắn đƣợc coi là cây trồng chính cung cấp nguồn
nhiên liệu cho sản suất năng lƣợng sinh học. Bộ Công thƣơng đã hoàn thiện
việc quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cho năng lƣợng sinh học.
Khi chƣơng trình năng lƣợng sinh học của Nhà nƣớc vận hành, các nhà
máy sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ một khối lƣợng sắn rất lớn. Dự kiến năm
2012, sản xuất ethanol sẽ tiêu thụ 16% sản lƣợng sắn, năm 2015 chiếm 35%,
năm 2020.
Theo bảng số liệu (bảng 1.5) ta thấy ngoài giống sắn KM94 đã đƣợc nông
dân chấp nhận thì còn rất nhiều các giống khác có tiềm năng cho năng suất củ
tƣơi và năng suất tinh bột cao, việc tiến hành lựa chọn các giống mới có tiềm
năng cho năng suất cao phù hợp với từng vùng sinh thái là rất cần thiết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Đã từ lâu cây sắn đã trở thành cây có củ đứng hàng đầu về diện tích và
sản lƣợng so với các cây có củ ở nƣớc ta và hiện nay sắn ngoài sử dụng làm
lƣơng thực ra thì sắn cũng đã trở thành cây công nghiệp hành hóa xuất khẩu
tích trồng sắn trong cả nƣớc, vừa gây xói mòn đất vừa ảnh hƣởng bất lợi đến
giá cả thị trƣởng. Hơn nữa, với số lƣợng nhà máy và cơ sở chế biến sắn ở nƣớc
ta cũng tác động không nhỏ đến môi trƣờng ở nhiều vùng nông thôn, nhất là
các tỉnh có diện tích trồng sắn lớn nhƣ Tây Ninh, Bình Phƣớc… Mặt khác, dù
nhu cầu tiêu thụ trên thế giới khá lớn nhƣng đầu ra cho mặt hàng sắn của Việt
Nam thực sự chƣa ổn định, lại tập trung quá nhiều vào thị trƣờng Trung Quốc.
Thị trƣờng này chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu sắ của Việt Nam. Nếu
thị trƣờng này giảm nhu cầu thì giá sắn có thể sẽ giảm mạnh và có nguy cơ xảy
ra tình trạng ế đọng sắn với khối lƣợng lớn nhƣ cuối năm trƣớc.
Từ thực trạng trên để cây sắn có thể phát triển một cách ổn định, bền
vững thì cần một số giải pháp nhƣ sau:
1. Cần phát triển thêm những nhà máy chế biến tinh bột ở các tỉnh
trong cả nƣớc để thu mua sắn của bà con nông dân mỗi khi đến vụ thu
hoạch,nhƣng phải có hợp đồng rõ ràng giữa nhà máy và ngƣời dân, chứ không
phải thu mua bừa bãi, chèn ép giá, mua với giá cả ổn định.
2. Cần nghiên cứu chọn tạo ra nhiều giống sắn mới có năng suất cao,
chất lƣợng tốt, để khuyến cáo cho bà con trồng, tăng sản lƣợng bằng cách
tăng năng suất, không nên tăng diện tích và kỹ thuật canh tác sắn bền vững để
đạt năng suất lợi nhuận cao và duy trì độ phì nhiêu của đất.
3. Cần khuyến cáo ngƣời nông dân không mở rộng diện tích trồng sắn,
không phá rừng làm nƣơng rẫy, nếu tiếp tục phá rừng để trồng sắn thì sẽ để
lại hậu quả nghiêm trọng với đất, gây mất cân bằng sinh thái, làm ô nhiêm
môi trƣờng sống và có thể xảy ra thiên tai, sẽ để lại hậu quả rất nặng nề. Nếu
diện tích vẫn tăng thì sẽ dẫn đến hiện tƣợng cung vƣợt quá cầu, nhƣ vậy giá
sắn sẽ thấp, ngƣời nông dân trồng sắn sẽ không có lãi. Vì vậy, nên bố trí các
cây trồng khác phù hợp với điều kiện địa phƣơng và thế mạnh của từng vùng
sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Trên thế giới, việc nghiên cứu giống sắn đƣợc thực hiện chủ yếu ở
Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới CIAT tại Colombia, Viện quốc tế
Nông nghiệp nhiệt đới IITA tại Nigeria, cùng với các trƣờng, Viện nghiên
cứu quốc gia ở những nƣớc trồng và tiêu thụ nhiều sắn, CIAT, IITA đã có
những chƣơng trình nghiên cứu rộng lớn đồng thời kết hợp chặt chẽ các
chƣơng trình sắn của mỗi quốc gia để tiến hành thu thập, nhập nội, chọn tạo
và cải tiến giống sắn. Mục tiêu của chiến lƣợc cải tiến giống sắn đƣợc thay
đổi tùy theo sự cần thiết và khả năng của từng chƣơng trình quốc gia đối với
công tác tập huấn, phân phối nguồn vật liệu giống ban đầu đã đƣợc điều tiết
bởi các chuyên gia chọn tạo giống sắn của CIAT.
CIAT hiện có những nghiên cứu rất sâu về di truyền số lƣợng, ứng dụng
công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống và bảo tồn nguồn gen sắn, xây
dựng bản đồ gen, ứng dụng di truyền phân tử và công nghệ chuyển gen để tạo
giống sắn ngắn ngày, chất lƣợng cao, giàu protein, carotene và vitamin, đồng
thời chọn ra những giống sắn kháng bệnh virus, bệnh héo vi khuẩn
(Xanthomonas manihotis), bệnh đốm nâu lá (Cercospora spp.), bệnh thán thƣ
(Coletotrichum spp.), nhện (Tetranychus sp.), bọ phấn, rệp, sâu đục thân.
Tại Châu Mỹ Latinh, chƣơng trình chọn tạo giống sắn của CIAT đã phối
hợp với CLAYUCA và những chƣơng trình sắn quốc gia của các nƣớc Braxin,
Colombia, Mehico… giới thiệu cho sản xuất ở các nƣớc này những giống sắn
tốt nhƣ SM 133-4, CM 3435-3, SG 337-2, CG 489-31, Mcol 72, AM 273-23,
MBRA 383… Do vậy đã góp phần đƣa năng suất và sản lƣợng sắn trong vùng
tăng lên một cách đáng kể (Aiyer, R.S. and P.6. Nair, 1995) [11].
Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo sắn đƣợc tổ
chức tại Thái Lan tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chƣơng
trình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất
củ tƣơi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng yêu cầu chế biến công nghiệp. Mục