Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, năng suất, chất lượng một số dòng, giống sắn có triển vọng tại huyện Sơn Dương, Tuyên Quang - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI QUỐC TRUNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, NĂNG SUẤT, CHẤT
LƢỢNG MỘT SỐ DÕNG, GIỐNG SẮN CÓ TRIỂN VỌNG TẠI
HUYỆN SƠN DƢƠNG, TUYÊN QUANG

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 60 62 01 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn

Thái Nguyên, năm 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN


thầy giáo, cô giáo trong Khoa Sau Đại học; Khoa Nông Học, Trường Đại học
Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; người dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo GS.TS. Trần Ngọc Ngoạn
đã luôn quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và công tâm trong suốt quá
trình tôi tiến hành nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn.
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy giáo, cô giáo, bạn bè,
đồng nghiệp, gia đình sự biết ơn sâu sắc và xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Học viên Bùi Quốc Trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Ý nghĩa của đề tài 3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Nguồn gốc, giá trị dinh dưỡng của cây sắn 4

3.4.5. Tổng số lá trên cây 37
3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất 38
3.5.1. Chiều dài củ 39
3.5.2. Đường kính củ 39
3.5.3. Số củ trên gốc 40
3.5.4. Khối lượng trung bình củ trên gốc 40
3.6. Năng suất và chất lượng của các dòng, giống sắn 41
3.6.1. Năng suất thân lá 41
3.6.2. Năng suất củ tươi của các dòng, giống sắn 43
3.6.3. Năng suất sinh vật học (NSSVH) của các dòng, giống sắn 45
3.6.4. Tỷ lệ chất khô (TLCK) và năng suất củ khô (NSCK) của các dòng,
giống sắn 48
3.6.5. Tỷ lệ tinh bột (TLTB) và năng suất tinh bột (NSTB) của các dòng,
giống sắn 51
3.7. Hoạch toán hiệu quả kinh tế của các dòng, giống sắn 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CIAT : Trung tâm quốc tế nông nghiệp nhiệt đới
FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực thế giới
IITA : Viện quốc tế nông nghiệp nhiệt đới

so với giống đối chứng KM94 41
Bảng 3.9: Năng suất củ tươi của 12 dòng, giống sắn tham gia thí
nghiệm so với giống đối chứng KM 94 43
Bảng 3.10: Năng suất sinh vật học của 12 dòng, giống sắn tham gia thí
nghiệm so với giống đối chứng KM 94 46
Bảng 3.11: Tỷ lệ chất khô và năng suất củ khô của 12 dòng, giống sắn
tham gia thí nghiệm so với giống đối chứng KM 94 48
Bảng 3.12: Tỷ lệ tinh bột và năng suất tinh bột của 12 dòng, giống sắn
tham gia thí nghiệm so với giống đối chứng KM 94 51
Bảng 3.13: Kết quả hoạch toán kinh tế của 12 dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm 54 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Hình 3.1: Biểu đồ năng suất thân lá của 12 dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm 42
Hình 3.2: Biểu đồ năng suất củ tươi của 12 dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm 45
Hình 3.3: Biểu đồ năng suất sinh vật học của 12 dòng, giống sắn tham
gia thí nghiệm 47
Hình 3.4: Biểu đồ tỉ lệ chất khô của 12 dòng, giống sắn tham gia thí
nghiệm 49
Hình 3.5: Biểu đồ năng suất củ khô 12 các dòng, giống sắn tham gia
thí nghiệm 50
Hình 3.6: Biểu đồ tỷ lệ tinh bột của 12 dòng, giống sắn tham gia thí
nghiệm 52

các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính
cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol). Chương trình sản xuất
ethanol của chính phủ Braxin đã tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao
động.
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng sau lúa và ngô. Năm 2010
diện tích sắn toàn quốc là 496,10 nghìn ha, năng suất bình quân 17,18 tấn/ha,
sản lượng là 8,522 nghìn tấn. Cả nước hiện có hơn 60 nhà máy chế biến tinh
bột sắn, trong đó có 41 nhà máy đã đi vào hoạt động với tổng công suất 2,2 -
3,8 triệu tấn sắn củ tươi/năm. Tổng sản lượng tinh bột sắn của Việt Nam hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
đạt 600 - 800 nghìn tấn, trong đó có khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30%
tiêu thụ trong nước [4].
Cây sắn ở Việt Nam ngày càng có nhu cầu cao trong công nghiệp chế
biến tinh bột, thức ăn gia súc, thực phẩm, dược liệu và trở thành cây hàng hóa
xuất khẩu của nhiều tỉnh, công nghiệp chế biến ngày càng đa dạng hóa sản
phẩm, đáp ứng nhu cầu của người dân ngày càng tốt hơn.
Tuy nhiên, năng suất sắn tại nhiều địa phương ở Việt Nam cũng như ở
tỉnh Tuyên Quang vẫn còn thấp. Vì vậy, muốn nâng cao năng suất sắn cần
phải chọn tạo được những giống sắn cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện
sinh thái. Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững đáp ứng nguồn
nguyên liệu hiện nay thì giống tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt và thích
ứng rộng đóng vai trò rất quan trọng; việc nghiên cứu về giống nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng của các dòng, giống sắn là vấn đề rất cần thiết. Xuất
phát từ thực tế đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh
trưởng, năng suất và chất lượng của các dòng, giống sắn có triển vọng tại
huyện Sơn Dương- tỉnh Tuyên Quang”.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm lựa chọn được các dòng, giống sắn mới cho năng suất cao, phẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Nguồn gốc, giá trị dinh dƣỡng của cây sắn
1.1.1. Nguồn gốc
Cây sắn có tên khoa học là Manihot esculenta Crantz có hoa hạt kín, có
2 lá mầm và thuộc họ thầu dầu có tới hơn 300 chi và 8.000 loài phân thành 17
nhóm, có bộ nhiễm sắc thể 2n = 36 [13]. Nhiều tài liệu cho biết cây sắn có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của Châu Mỹ La Tinh (Crantz, 1976) và được
trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT,1993).
Trung tâm phát sinh của cây sắn được giả thuyết tại Đông Bắc Brazil
thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại
(De Candoll, 1986; Roger, 1965).
Trung tâm phân hóa phụ của cây sắn có thể tại Mêhicô, Trung Mỹ và
ven biển các nước Nam Mỹ. Bằng chứng là những di tích khảo cổ ở
Vênêzuela niên đại 2.700 năm trước công nguyên, những lò nướng bánh sắn
trong phức hệ Malabo ở phía bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước
công nguyên, những hạt tinh bột sắn ở trong phần hóa thạch được phát hiện
tại Mêhicô có tuổi khoảng 900 năm đến 200 năm trước công nguyên (Roger,
1963, 1965) [13].
Các công trình nghiên cứu gần đây của nhiều tác giả kết luận rằng: Cây
sắn có nguồn gốc phức tạp và có bốn trung tâm phát sinh đó là: Brazil có hai
trung tâm, còn lại là ở Mêhicô và Bolivia.
Cây sắn được người Bồ Đào Nha đưa đến Congo của châu Phi vào thế
kỷ 16. Tài liệu nói tới sắn ở vùng này là của Barre và Thevet viết năm

được nhu cầu trong khẩu phần ăn của vật nuôi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Bảng 1.1: Thành phần dinh dưỡng trong một số loại cây trồng dùng làm
thức ăn cho gia súc
Tên thức ăn
Chất
Khô
(gr)
Protein
thô
(gr)
Xơ thô
(%)
Canxi
(%)
Photpho
(%)
Năng lƣợng
trao đổi
(Kcal/đvtă)
Cỏ Pangola
253
17,9
85,9
0,9
0,5
547
Cây ngô non

100,0
0,5
0,4
968
Lá sắn
257
65,9
38,2
3,0
0,9
726
Bột lá sắn
897
57,0
139,8
11,0
6,3
2349
Bã sắn ướt
204
5,0
17,1
0,4
0,3
468
(Nguồn: Giáo trình chăn nuôi - NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2000)
1.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ sắn trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới trong giai đoạn 2006 - 2010 cụ thể
là: Năm 2010 diện tích sắn trên toàn thế giới đạt 18,41 triệu ha, năng suất

2010
18,41
12,40
228,55
(Nguồn: FAOSTAT 2011 [14])
Cho đến nay cây sắn được trồng tại 105 quốc gia, trong đó có 64,8% diện tích
sắn được trồng ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21,2% và Châu Mỹ là 14%.
Năm 2010 tổng diện tích sắn trồng ở Châu Mỹ là 2.678 nghìn ha, năng
suất củ tươi bình quân 12,39 tấn/ha, sản lượng 33,20 triệu tấn. Năng suất
trung bình ở Châu Mỹ cao hơn năng suất trung bình ở Châu Phi là 2,22
tấn/ha. Brazil là nước có diện tích trồng sắn lớn nhất thế giới với 1.773,300
nghìn ha, Thái Lan là nước có diện tích lớn thứ 2 thế giới với 1.168,450 nghìn
ha, thấp hơn so với Brazil là 604,85 nghìn ha. Tồn tại chính trong sản xuất và
tiêu thụ sắn ở Châu Mỹ là trình độ kỹ thuật thâm canh chưa cao, công nghệ
chế biến tinh bột sắn không phát triển bằng Châu Á, sắn chủ yếu sử dụng tươi
và làm thức ăn gia súc.
Châu Á cùng với Châu Phi và Châu Mỹ là ba vùng sắn quan trọng của
thế giới. Diện tích sắn Châu Á hiện có 3.891 nghìn ha, sản lượng 77,47 triệu
tấn đứng thứ hai sau Châu Phi, năng suất sắn ở Châu Á hiện đạt bình quân
19,21 tấn/ha, cao hơn Châu Phi 9,04 tấn/ha [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Ngoài ra với mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt
khoảng 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Khối
lượng sản phẩm sắn toàn cầu sử dụng làm lương thực thực phẩm dự báo nhu
cầu là 176,3 triệu tấn và thức ăn gia súc 53,4 triệu tấn. Tốc độ tăng hàng năm
của nhu cầu sử dụng sản phẩm sắn làm lương thực, thực phẩm và thức ăn gia
súc đạt tương ứng là 1,98% và 0,95%. Châu Phi vẫn là khu vực dẫn đầu sản
lượng sắn toàn cầu với dự báo sản lượng năm 2020 sẽ đạt 168,6 triệu tấn.

2000
237,6
8,35
1.986
2005
425,5
15,78
6.716
2006
475,2
16,38
7.783
2007
495,5
16,53
8.193
2008
555,7
16,91
9.396
2009
508,8
16,82
8.557
2010
496,1
17,18
8.522
(Nguồn: FAOSTAT 2011[14])
Qua số liệu ở bảng 1.3 cho thấy tình hình sản xuất sắn qua các năm so

Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu lớn thứ hai về các sản phẩm sắn
sau Thái Lan với 2,00 - 4,00 triệu tấn sắn lát khô tương ứng khoảng 0,4 - 0,8
tấn tinh bột sắn xuất khẩu. Đại lục Trung Quốc vẫn là nhà nhập khẩu sắn lớn
nhất của Việt Nam và chiếm 90% thu nhập xuất khẩu của ngành công nghiệp.
Hàn Quốc và Đài Loan là hai nước đứng thứ hai và thứ ba trong tốp các nhà
nhập khẩu lớn nhất. Nhu cầu đã tăng vọt, chủ yếu do nhu cầu từ Trung Quốc,
trong đó sử dụng để sản xuất ethanol. Tổng xuất khẩu trong năm 2009 khoảng
4.000.000 tấn sắn lát khô và hơn 350.000 tấn tinh bột sắn và bột mì. Giá xuất
khẩu sắn lát khô giảm xuống mức thấp 135$/tấn vào đầu năm 2008, nhưng kể
từ đó đã tăng lên từ 180$ và 195$/tấn trong cuối tháng 12 năm 2009 [3].
1.2.3. Tình hình một số vùng trồng sắn chính ở nước ta
Năm 2010 diện tích trồng sắn nhiều nhất tập trung ở 7 tỉnh: Gia Lai (52,9
nghìn ha), Tây Ninh (40,1 nghìn ha), Kon Tum (37,7 nghìn ha), Đắk Lắc
(25,3 nghìn ha), Bình Thuận (25,7 nghìn ha), Bình Phước (20,4 nghìn ha),
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Đắc Nông và Đồng Nai (14,8 nghìn ha). Về sản lượng sắn, dẫn đầu cả nước là
Tây Ninh (14.150,7 nghìn tấn), tiếp theo là Gia Lai (827,5 nghìn tấn), Kon
Tum (563 nghìn tấn), Bình Phước (462 nghìn tấn), Đồng Nai (357,4 nghìn
tấn) [3]. Cụ thể tập trung ở 4 vùng trồng sắn chính sau:
- Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: Có diện tích sắn lớn
nhất cả nước, trong những năm qua nhờ có các chính sách mở cửa cho phép
các tổ chức liên doanh đầu tư xây dựng mới nhiều nhà máy chế biến tinh bột
sắn và quy hoạch vùng sản xuất sắn nguyên liệu nên diện tích sắn tăng mạnh
trong những năm gần đây. Năm 2010, diện tích sắn toàn vùng đạt 155 nghìn
ha (chiếm 31,25% tổng diện tích sắn toàn quốc), năng suất 168,2 tạ/ha, sản
lượng 2,6 triệu tấn củ tươi (chiếm 30,6% tổng sản lượng sắn toàn quốc) [3].
Diện tích tập trung tại một số tỉnh như: Thanh Hóa (vùng sắn huyện Như
Xuân, Bá Phước, Quang Hóa, Lang Chánh và huyện Thường Xuân), Nghệ An

Cửu, Xuân Lộc, Đông Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng và Bình Long),
Bà Rịa - Vũng Tàu (vùng sắn huyện Xuyên Mộc), Bình Thuận (vùng sắn
huyện Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam, Tánh Linh, Hàm Tân và
Đức Linh), Ninh Thuận (vùng sắn ở huyện Bắc Ái).
- Vùng Trung du miền núi phía Bắc: có lịch sử phát triển cây sắn từ lâu
đời, đây là vùng có đầy đủ lợi thế về phát triển sắn, đã có thời điểm diện tích
gieo trồng toàn vùng chiếm tới gần 50% diện tích sản lượng cả nước, tuy
nhiên vùng Trung du miền núi phía Bắc phát triển chậm hơn so với vùng
Đông Nam Bộ là do năng lực chế biến phát triển chậm, đồng thời sản xuất sắn
gặp nhiều điều kiện hạn chế do điều kiện khí hậu, đất dốc, giao thông khó
khăn. Năm 2010, diện tích toàn vùng đạt 104,6 nghìn ha (chiếm 21% tổng
diện tích sắn toàn quốc), năng suất đạt trên 120,5 tạ/ha, sản lượng 1,26 triệu
tấn củ tươi (chiếm 14,8% tổng sản lượng sắn toàn quốc) [3]. Sắn được trồng
trên các chân đất đồi có độ dốc trên 10
0
là chủ yếu và trồng theo vùng nguyên
liệu, diện tích trồng tập trung chủ yếu tại các tỉnh Yên Bái (vùng sắn Văn
Yên, Yên Bình), Phú Thọ (vùng sắn Phù Ninh, Thanh Ba, Thanh Sơn, Yên
Lập), Hòa Bình (vùng sắn Lạc Sơn, Kim Bôi, Đà Bắc, Tân Lạc).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
1.3. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống sắn trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Tình hình nghiên cứu sắn trên thế giới
Trước đây, sắn được coi là một cây màu lương thực vì vậy thường được
phát triển trên diện rộng. Sắn là cây trồng của người nghèo và được sản xuất
bởi người nông dân nghèo nên có thời gian sắn bị lãng quên ở cộng đồng các
nước phát triển.
Đến năm 1970, với sự thành lập chương trình nghiên cứu sắn của CIAT
ở tại các nước Colombia và IITA (International institute for Tropical

Ở Châu Phi, CIAT phối hợp cùng IITA và các nước Nigieria, Tanzania,
Mozabique, Angola, Uganda cùng nhiều tổ chức quốc tế như: FAO, IFAO,
DDPSC, OSU, Bill Gates Foundation để nghiên cứu nhằm phát triển các
giống sắn mới ngắn ngày, chất lượng cao (giàu Carotene, Vitamin, Protein)
thích hợp ăn tươi và khả năng kháng bệnh virut (một loại bệnh hại nghiêm
trọng đối với cây sắn ở châu Phi) [4].
Ở Châu Á, các nhà chọn tạo giống sắn tham dự hội thảo được tổ chức tại
Thái Lan vào tháng 11/1987 đã nhất trí xác định mục tiêu của các chương
trình cải tiến giống sắn quốc gia là chọn tạo ra những giống sắn có năng suất
củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao nhằm đáp ứng nhu cầu chế biến công nghiệp.
Mục tiêu cải tiến giống sắn của những quốc gia (Ấn Độ, Inđônêxia, Srilanca)
có nhu cầu cao về sử dụng sắn làm lương thực là chọn tạo những giống sắn
ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, hàm lượng axit Cyanhydric
(HCN) trong củ thấp, thích hợp tiêu thụ tươi, dạng cây đẹp, có khả năng
chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận và sâu bệnh.
Tại Hội thảo sắn Quốc tế lần thứ tám tổ chức tại thủ đô Viên Chăn - Lào
ngày 20-24 tháng 10 năm 2008, các nhà khoa học đã xác định tương lai mới
cho sắn ở Châu Á là làm thực phẩm, thức ăn gia súc và nhiên liệu sinh học có
lợi cho người nghèo, mục tiêu là chọn tạo được những giống mới đáp ứng
được yêu cầu sử dụng củ và lá sắn làm thức ăn gia súc, phát triển mới trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
chế biến sắn, đặc biệt là làm nhiên liệu sinh học, tinh bột, tinh bột biến tinh,
màng phủ sinh học, công nghệ thực phẩm [16].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu sắn ở Việt Nam
Chọn giống sắn tốt, năng suất cao phù hợp với đất đai và yêu cầu của sản
xuất lớn là việc làm cần thiết để phát huy những ưu điểm của giống. Nhưng
trong điều kiện sản xuất trên diện rộng nếu không có một kế hoạch chọn lọc
bồi dưỡng giống sắn thường xuyên thì sau một vài năm giống sắn tốt cũng dễ

và khoảng 7.000 hạt lai từ nguồn lai tạo trong nước. Hàng chục dòng triển
vọng tiếp tục được chọn ra từ nguồn vật liệu này như: KM98-1, KM98-5,
KM95-3, KM98-7, KM140… Trong số các dòng này, có những dòng rất có
triển vọng vừa thích hợp chế biến, vừa có thể sử dụng ăn tươi.
Trong giai đoạn 1991 - 2005, chương trình sắn Việt Nam đã hợp tác chặt
chẽ với CIAT, VEDAN và mạng lưới Nghiên cứu sắn Châu Á để đẩy mạnh
hoạt động nghiên cứu và phát triển sắn với mục tiêu là chọn tạo ra những
giống sắn có năng suất củ tươi và tỷ lệ tinh bột cao, phục vụ cho chế biến
công nghiệp, đồng thời cũng tuyển chọn được những giống sắn ngắn ngày, đa
dạng, thích hợp cho cả chế biến công nghiệp cũng như nhu cầu về lương thực
ở vùng sâu, vùng xa. Do đó đã tạo được bước đột phá quan trọng trong nghề
trồng sắn của Việt Nam [10].
Hiện nay mục tiêu của chương trình cải thiện di truyền sắn tại Việt Nam là:
- Tăng tiềm năng năng suất, hàm lượng chất khô và hàm lượng tinh bột.
- Rút ngắn thời gian thu hoạch.
- Xác định các giống có năng suất cao phù hợp với từng khu vực và vùng
sinh thái khác nhau nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các hệ thống canh tác
nông hộ nhỏ.
- Lựa chọn giống sắn tốt nhất cho sản xuất ethanol sinh học [11].
Mà mục tiêu cụ thể của chương trình nhân giống sắn là: để chọn và phát
hành giống mới có năng suất cao từ 35-40 tấn/ha, hàm lượng tinh bột từ 27-
30%, thời gian sinh trưởng và phát triển từ 8-10 tháng, cây mọc thẳng đứng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
đốt ngắn, ít phân nhánh, tán nhỏ gọn, kích thước gốc, củ thống nhất và phù
hợp cho chế biến công nghiệp [17].
Thực hiện mục tiêu trên hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về
chọn tạo giống đạt kết quả tốt, nhờ đó mà nhiều giống sắn mới được đưa vào
sản xuất như KM60, KM94, KM95, KM95-3, SM937-26, KM98-1, KM98-5,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status