Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống ngô lai có triển vọng tại huyện mèo vạc, tỉnh hà giang - Pdf 14

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CIMMYT : Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế
CT : Công thức
CSDTL : Chỉ số diện tích lá
LAI : Chỉ số diện tích lá
NL : Nhắc lại
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
FAO : Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
IFPRI : Viện Nghiên cứu Chính sách lương thực thế giới
QCVN 01-56-2011 : Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá
trị canh tác và sử dụng của giống ngô
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây ngô cùng với lúa mỳ và lúa nước là ba cây ngũ cốc quan trọng
trong nền kinh tế thế giới. Với vai trò làm lương thực cho người (17% tổng
sản lượng), thức ăn chăn nuôi (66%), nguyên liệu công nghiệp (5%) và xuất
khẩu (trên 10%), ngô đã trở thành cây trồng đảm bảo an ninh lương thực, góp
phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng từ trồng trọt sang chăn nuôi,
cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và sản phẩm hàng hoá cho xuất khẩu ở
nhiều nước trên phạm vi thế giới (Ngô Hữu Tình, 2003)[17].
Trong những năm gần đây, ngô còn là cây thực phẩm có giá trị kinh tế
cao. Người ta đã sử dụng bắp ngô non (ngô bao tử) làm rau ăn cao cấp. Nghề
trồng ngô rau đóng hộp xuất khẩu phát triển mạnh đem lại hiệu quả kinh tế
cao. Ở nhiều nước ngô còn là hàng hoá xuất khẩu, trên thế giới hàng năm
lượng ngô xuất khẩu khoảng 70 triệu tấn. Đó là nguồn thu ngoại tệ lớn ở các

được sử dụng làm lương thực và trong chăn nuôi. Tuy nhiên sản xuất ngô tại
các vùng này gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác.
Sản xuất ngô chủ yếu trên đất đồi dốc, đất nghèo dinh dưỡng không chủ động
nước tưới, chủ yếu nhờ nước trời, đồng thời người dân chưa có điều kiện đầu
tư cao về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt công tác bảo quản,
chế biến ngô chưa được chú trọng. Vì vậy muốn nâng cao năng suất và sản
lượng ngô, ngoài việc không ngừng mở rộng diện tích ngô lai một cách hợp lý
và tăng cường đầu tư thâm canh theo quy trình kỹ thuật, thì việc lựa chọn để
tìm ra các giống ngô lai có năng suất cao, có khả năng chống chịu tốt, phù
2
hợp với điều kiện sinh thái của vùng là một việc làm cần thiết. Xuất phát từ
những lý do trên, chúng tôi tiến hành lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống ngô lai có triển
vọng tại huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà giang”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Xác định được giống có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích
nghi với điều kiện sinh thái tại các huyện vùng cao Mèo Vạc - tỉnh Hà giang.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai
trong điều kiện vụ Xuân hè năm 2012 và năm 2013 tại huyện Mèo Vạc, tỉnh
Hà Giang.
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý của các giống ngô
thí nghiệm.
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của các
giống ngô lai thí nghiệm.
- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống
ngô lai thí nghiệm
- So sánh và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các giống. Chọn
được giống ngô có triển vọng để khảo nghiệm sản xuất.

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô thế giới
một số năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tấn/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2004 147,42 4,94 728,25
2005 147,76 4,84 715,16
2006 146,73 4,76 698,43
2007 157,87 4,97 784,61
2008 161,02 5,13
826,03
2009 158,80 5,16
819,41
2010 161,80 5,22
844,60
2011 171,78 5,15
884,67
2012 176,99 4,94
874,33
(Nguồn: FAOSTAT, 2013)[26]
Số liệu bảng 1.1. cho thấy, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không
ngừng cả về diện tích và năng suất. Năm 2004 cả thế giới trồng được 147,42
triệu ha, năm 2010 là 161,8 triệu ha và năm 2012 đạt 176,99 triệu ha. Năng
suất ngô tăng liên tục từ năm 2004 (4,94 tấn/ha) đến 2010 (5,22 tấn/ha), tuy
nhiên năng suất ngô năm 2012 bị giảm nhẹ so với năm 2010, đạt 4,94 tấn/ha

(triệu tấn)
Năm 2020
(triệu tấn)
%
thay đổi
Thế giới 586 852 45
Các nước đang phát triển 295 508 72
Đông Á 136 252 85
Nam Á 14 19 36
Cận Sahara – Châu Phi 29 52 79
Mỹ Latinh 75 118 57
Tây và Bắc Phi 18 28 56
Nguồn: IRRI (2003)[28]
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Cây ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm (Ngô Hữu
Tình, 1977)[12]. Tuy nhiên những nghiên cứu về cây ngô ở Việt Nam bắt đầu
muộn hơn so với các nước trong khu vực, năm 1973 mới có những định
hướng phát triển ngô ở Việt Nam.
Bảng 1.4: Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2004 – 2012
Năm
Diện tích
(1000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(1000 tấn)
2004 991,1 34,6 3.430,9
2005 1052,6 36,0 3.787,1
6
2006 1033,1 37,0 3.819,4

[23].
Để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi, cây ngô được xác
định là một trong những cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Bảng 1.5: Tình hình sản xuất ngô ở Hà giang 2001 – 2010
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2001 43,2 18,3
790,56
2002 43,8 19,5
854,10
2003 45,1 19,5
879,45
2004 43,7 20,5
895,85
2005 44,0 21,0
924,00
2006 43,2 20,9
902,88
2007 43,8 22,8
998,64
2008 46,1 24,3
1.120,23
2009 46,7 26,2
1.223,54
2010 49,8 27,4

đây. Tuy nhiên năng suất ngô của tỉnh Hà giang vẫn thấp hơn nhiều so với
năng suất ngô của cả nước, năng suất ngô hiện tại của tỉnh chỉ bằng 68%
năng suất ngô của cả nước.
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô các huyện trong tỉnh
từ năm 2010 - 2012
TT Các huyện
Diện tích
(1.000 ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2010 2011 2012 201
0
201
1
201
2
2010 2011 2012
1 TP. Hà Giang 245.5 245,8 258,9 34,5 31,1 32,9 847 765,2 852,0
2
H. Bắc Quang
2.544,1 2.626,
6
2.755,2 31,8 35,9 35,3 8.079,1 9.448,8 9.730,6
3
H. Quang Bình
2.041,
3
2.073,2 2.276,5 29,4 31,0 31,2 6.004,0 6.429,4 7.110,9

7 H. Xín Mầm 4.449,8 5.102,4 5.843,4 27,1 29,9 28,2 12042,2 15241,7 16458,6
8
H. Quản Bạ
5.877,0 6.062,
0
6.127,
0
28,7 34,7 35,1 16873,
4
21057,1 21489,2
9
H. Yên Minh
7.107,
7
7.246,8 7.581,5 28,6 30,8 33,6 20319,
9
22330,5 25445,0
10
H. Đồng Văn
6.400,
0
6.672,
0
7.047,
3
28,7 32,1 33,3 18368,
0
21411,
2
23488,3

các năm năm 2007 đạt 21,4 tạ/ha, đến năm 2012 năng suất tăng lên 30,7 tạ/ha.
Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây ở tỉnh Hà Giang nói chung,
huyện Mèo Vạc nói riêng cây ngô đã được Đảng bộ và chính quyền huyện
đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển. Đạt được những thành tựu như vậy đó
chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngô như:
Sử dụng một số tập đoàn các giống mới, áp dụng kỹ thuật canh tác tốt. Tuy
nhiên sản xuất ngô ở huyện Mèo Vạc cần được quan tâm và đầu tư phát triển
nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng diện tích gieo trồng ngô xuống ruộng 1
vụ, gieo trồng ngô trên đất đồi, đất bãi ở vụ hè thu. Sử dụng giống mới, thâm
canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của huyện từ
sự phát triển đó đã phần nào đảm bảo được cuộc sống cho đồng bào vùng sâu,
đảm bảo được an ninh lương thực cho toàn huyện.
Trong những năm gần đây huyện Mèo Vạc đã chú trọng chuyển đổi cơ
cấu giống, áp dụng các biện pháp luân canh, sử dụng các giống ngô lai năng
suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12, LVN99… ngoài ra còn một số giống
ngô nhập nội như: Bioseed 9698, DK 999, NK 4300, NK 66, DK 9955 các
giống này đã được áp dụng và đưa vào sản xuất trên địa bàn toàn huyện.
1.3. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới và Việt Nam
11
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ngô trên thế giới
Ngô lai có vai trò đặc biệt trong nền nông nghiệp của nước Mỹ. Các nhà
di truyền, cải lương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và
lai tạo giống. Vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô chọn lọc cải lương.
Theo E.Rinke (1979) việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930,
giống lai ba và lai kép được sử dụng cho đến năm 1957, sau đó giống lai đơn
cải tiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 – 85% tổng số giống
lai (Trần Hồng Uy, 1997)[22]. Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế
giới và 100% diện tích được trồng bằng ngô lai, trong đó hơn 90% là giống lai
đơn. Năm 1997 – 1999, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 8,3 tấn/ha trên
diện tích là 29,1 triệu ha (CIMMYT, 1999/2000)[25], là một trong số những

mạnh mẽ ở Mỹ và các nước có kỹ thuật trồng ngô tiên tiến trên thế giới.
Năm 1966, Trung tâm cải tiến ngô và lúa mỳ Quốc tế (CIMMYT) được
thành lập tại Mêxicô. Nhiệm vụ của Trung tâm là nghiên cứu và đào tạo về
ngô, lúa mỳ tại các nước đang phát triển. Trung tâm đã đưa ra giải pháp là tạo
giống ngô thụ phấn tự do (OPV), làm bước chuyển tiếp ngô địa phương và
ngô lai. Hơn 30 năm hoạt động Trung tâm đã góp phần đáng kể vào việc xây
dựng, phát triển và cải tiến hàng loạt vốn gen, quần thể và giống ngô trên 80
quốc gia trên thế giới. Dòng thuần là nguyên liệu được sử dụng trong chọn tạo
giống ngô lai cũng được chú trọng, theo điều tra của Bauman năm 1981, ở
Mỹ các nhà tạo giống đã sử dụng 15% quần thể có nguồn di truyền rộng, 16%
từ quần thể có nền di truyền hẹp, 14% từ quần thể của các dòng ưu tú, 39% từ
tổ hợp lai của các dòng ưu tú và 17% từ quần thể hồi giao để tạo dòng
(Bauman,1981)[24].
Ngô lai đang tiến triển tốt đẹp ở các nước Châu Á. Có thể nói Trung
Quốc là một cường quốc ngô lai của Châu Á, với diện tích 25 triệu ha, năng
suất 4,9 tấn/ha, sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn, đứng thứ hai trên
13
thế giới sau Mỹ. Năng suất ngô bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1,5
tấn/ha những năm 50 đến 4,9 tấn/ha năm 1999 (CIMMYT, 1999/2000)[25].
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt Nam
Việt Nam tiếp cận với ngô lai khá sớm, ngay từ những năm 60 chúng ta
đã có những nghiên cứu về chọn tạo và sử dụng ngô lai vào sản xuất, nhưng
do vật liêu khởi đầu của chúng ta còn nghèo nàn và không phù hợp, vì vậy
ngô lai đã không phát huy được vai trò của nó. Phải đến những năm đầu của
thập kỷ 90 công tác chọn tạo giống ngô lai được các nhà khoa học coi là
nhiệm vụ chiến lược chủ yếu, góp phần đưa nghề trồng ngô nước ta đứng
vào hàng ngũ những nước tiên tiến ở Châu Á. Trong những năm 1992-1994,
Viện nghiên cứu ngô đã lai tạo ra các giống ngô lai không quy ước là: LS-5,
LS-6, LS-7, LS-8. Bộ giống ngô lai này gồm những giống chín sớm, chín
trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3-7 tấn/ha và đã được mở rộng trên

sản xuất trong nước Trần Hồng Uy, 1997) [22].
Bên cạnh việc tạo ra các giống ngô lai có năng suất chất lượng cao thì
công tác lai tạo các giống ngô thích hợp với nhiều vùng sinh thái khác nhau
với nhiều đặc tính nông học quý được các nhà nghiên cứu rất quan tâm. Trong
giai đoạn 1995 - 2002 nhóm nghiên cứu ngô thuộc Trung tâm khảo nghiệm
giống cây trồng Trung ương đã lai tạo giống ngô lai đơn T9 và giống ngô lai
ba T7 triển vọng cho sản xuất tại các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, trong
đó giống T9 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là
giống khu vực hoá tại Miền Trung tháng 9 - 2002. Năm 2000, Viện nghiên
cứu ngô tiếp tục đưa ra thử nghiệm giống ngô lai HQ2000 có chất lượng cao,
hàm lượng Protein cao hơn hẳn ngô thông thường, đặc biệt là hai loại axit
15
amin thường thiếu ở ngô là Lyzin và Triptophan, nhờ vậy mà nâng cao được
giá trị dinh dưỡng của ngô. Năm 2005, nghiên cứu tạo giống ngô lai cho vùng
sinh thái đồng bằng sông Cửu Long, bước đầu tạo ra 9 tổ hợp lai có triển vọng
trong sản xuất (Lưu Văn Quỳnh và cs, 2005) [13].
Thông qua dự án "Phát triển giống ngô chịu hạn nhằm cải thiện thu nhập
cho Nông dân vùng Đông Nam Châu Á” (AMNET), chúng ta đã thu thập được
một số nguồn nguyên liệu mới từ CIMMYT và các nước trong khu vực, bước
đầu tạo ra một số tổ hợp lai có triển vọng. Nhờ nguồn nguyên liệu tạo dòng khá
phong phú và được thử nghiệm trong điều kiện sinh thái và mùa vụ nên các
giống ngô lai mới tạo ra đã tỏ ra có nhiều ưu thế hơn như: chịu hạn, chống đổ, ít
nhiễm sâu bệnh, chất lượng và màu dạng hạt tốt hơn. Điển hình là các giống dài
ngày, tỷ lệ 2 bắp/cây cao như: LVN98, LVN145 có màu dạng hạt đẹp, thời gian
sinh trưởng ngắn; một số giống ngô chịu hạn tốt, thích nghi với nhiều vùng sinh
thái khác nhau như:VN8960, LCH9, LVN61, LVN14.
Nhờ nỗ lực không ngừng trong việc nghiên cứu và ứng dụng ngô lai trong
sản xuất, đến năm 2007 giống ngô lai chọn tạo của Việt Nam chiếm 32,5% diện
tích, giống nước ngoài chiếm 52,3%. Số giống ngô có mặt trong sản xuất là 114
giống, trong đó 10 giống được ưa chuộng nhất là LVN10, CP888, B9698,

* Thuyết tính trội
- Hiệu ứng trội: Bruce (1910), Collins (1921) cho rằng các gen trội nói
chung tốt hơn các gen lặn.
- Hiệu ứng liên kết: Jones (1917) cho rằng một tính trạng nào đó chịu
sự kiểm soát của 2 hoặc nhiều gen trội khác nhau liên kết với nhau tạo nên
hiệu ứng liên kết.
17
- Hiệu ứng cộng: Keeble và Pellew (1910) cho rằng hai alen trội không
cùng vị trí ở trong bộ nhiễm sắc thể có tác động hỗ trợ lẫn nhau cho sự phát
triển của một tính trạng nào đó tốt hơn khi chỉ có một gen trội.
1.4.4. Các loại giống ngô
Theo phương pháp tạo giống, giống ngô được chia làm 2 nhóm chính.
Nhóm ngô thụ phấn tự do và nhóm ngô lai.
1.4.4.1. Giống ngô thụ phấn tự do (Maize open pollinated variety - OPV)
Là danh từ chung để chỉ loại giống mà trong quá trình sản xuất hạt
giống không có sự can thiệp của con người trong quá trình thụ phấn. Giống
thụ phấn tự do gồm:
- Giống địa phương (local variety)
- Giống thụ phấn tự do cải tiến (improved variety)
- Giống tổng hợp (Synthetic variety)
- Giống hỗn hợp (compsite variety)
1.4.4.2. Giống ngô lai (Hybrid maize)
Ngô lai là kết quả của ứng dụng ưu thế lai trong tạo giống ngô. Giống
ngô lai được chia làm hai nhóm: Giống ngô không quy ước (Nonconventional
hybrid) và giống lai quy ước (Conventional hybrid)
1.5. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học ở cây ngô
Các đặc điểm nông sinh học của cây ngô do bản chất di truyền của
giống quyết định. Qua một số thí nghiệm trên cây ngô, Roahenco (1968) thấy
rằng: thời gian sinh trưởng tương quan với chiều cao cây, chiều cao đóng bắp
và độ dài từ mọc đến ra hoa. Các tính trạng này biến động tuỳ thuộc vào điều

đặc điểm của giống còn phụ thuộc vào điều kiện môi trường vì vậy trước khi
đưa giống ra sản xuất cần nghiên cứu để đánh giá khả năng thích ứng của
19
chúng với từng điều kiện cụ thể.
- Hà Giang là một tỉnh miền núi đặc biệt khó khăn. Ngô là cây lương
thực thứ 2 sau cây lúa, nhiều vùng dân tộc ít người ngô được sử dụng làm
lương thực chính. Trong những năm gần đây sản xuất ngô ở Hà Giang cũng
có bước nhảy vọt cả về năng suất và sản lượng, tuy nhiên năng suất ngô của
tỉnh chỉ bằng 68% năng suất ngô của cả nước.
- Để nâng cao năng suất và sản lượng ngô của Hà giang cần có giải
pháp tổng thể, trong đó việc mở rộng diện tích trồng ngô lai đóng vai trò có
tính chất quyết định.
20
Chương 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm 07 giống ngô lai do Viện nghiên cứu ngô chọn
tạo và 01 giống đối chứng là giống ngô NK4300 (giống đang được sử dụng
trên diện tích lớn tại địa phương).
Giống NK4300 (đối chứng) do Công ty Sygenta Việt Nam nhập từ Thái
Lan. NK4300 có thời gian sinh trưởng 90-110 ngày, chiều cao cây từ 185-210
cm, chiều cao đóng bắp 80-100 cm, cứng cây, chiều dài bắp 14,5-16,5 cm, có
14-16 hàng hạt, tỷ lệ hạt/bắp 76-80%, khối lượng 1000 hạt 280-300 gr, kín
đầu bắp, dạng hạt bán răng ngựa, khả năng chịu hạn và chống đổ khá, năng
suất trung bình 50-60 tạ/ha.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được thực hiện tại xã Pả Vi huyện Mèo vạc tỉnh Hà giang.
- Mô hình trình diễn giống ưu tú được thực hiện tại Xã Pả Vi, huyện
Mèo Vạc, tỉnh Hà giang.

2
O (rạch rãnh sâu 3 - 5 cm
theo hàng ngô cách gốc 5 -7 cm rồi bón và lấp kín phân kết hợp với vun nhẹ) .
+ Lần 2 khi ngô được 7 - 9 lá: 1/2 N + 1/2 K
2
O (rạch rãnh sâu 3-5 cm
theo hàng ngô cách gốc 10 - 12 cm rồi bón và lấp kín phân kết hợp với
vun cao).
* Chăm sóc
- Diệt sâu xám từ lúc cây còn nhỏ.
- Khi cây mọc được 3 - 4 lá tiến hành dặm, tỉa cây kết hợp với làm cỏ,
vun gốc cho ngô, đồng thời bón thúc lần 1.
- Khi cây 8 - 9 lá: Bón thúc lần 2 kết hợp làm cỏ vun cao thành luống.
- Phòng trừ sâu bệnh khi sâu bệnh xuất hiện trên đồng ruộng.
* Thu hoạch: Thu hoạch khi ngô chín sinh lý (khi chân hạt có vết đen
hoặc 75% số cây có lá bi bị khô). Tuy nhiên nếu thời tiết cho phép thì có thể
thu hoạch muộn hơn.
2.4. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của các giống ngô lai
thí nghiệm.
- Xây dựng mô hình trình diễn giống ngô lai ưu tú để đưa vào sản xuất.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status