TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
SÌ THỊ DIỆP
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƢỜI DAO ĐỎ Ở
XÃ PHÙ LƢU - HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Văn hóa
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Quá trình làm khóa luận em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ThS.
Nguyễn Thị Bích đã tận tình hƣớng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử đã tạo
điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hàm
Yên, UBND xã Phù Lƣu, cá nhân, gia đình tại xã Phù Lƣu đã cung cấp nguồn
tài liệu trong quá trình em đi thực tế tại địa phƣơng.
Do điều kiện thời gian có hạn, trong khóa luận có thể còn nhiều điều
thiếu sót chƣa đƣợc hoàn chỉnh. Vì vậy em rất mong nhận đƣợc nhiều ý kiến
góp ý của các thầy, các cô cũng nhƣ các bạn, để sau này có điều kiện tiếp tục
nghiên cứu một cách toàn diện và tốt hơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XÃ PHÙ LƢU – HUYỆN HÀM YÊN –
TỈNH TUYÊN QUANG ................................................................................ 5
1.1.1. Vị trí địa lý - điều kiện tự nhiên ....................................................... 5
1.1.2. Khí hậu ............................................................................................. 8
1.1.3. Tình hình dân cƣ............................................................................... 8
1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội ................................................................. 9
1.2. NGƢỜI DAO ĐỎ XÃ PHÙ LƢU - HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH
TUYÊN QUANG ........................................................................................ 10
1.2.1. Tên gọi, lịch sử cƣ trú .................................................................... 10
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội ............................................................... 12
1.2.3. Đời sống văn hóa ............................................................................ 15
Chƣơng 2
TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI DAO ĐỎ Ở XÃ PHÙ
LƢU - HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG ................................ 19
2.1. QUAN NIỆMVÀ QUÁ TRÌNH TẠO RA TRANG PHỤC TRUYỀN
THỐNG ....................................................................................................... 19
2.1.1. Quan niệm về trang phục truyền thống .......................................... 19
2.1.2. Quá trình tạo ra trang phục............................................................. 21
2.2.TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI DAO ĐỎ XÃ PHÙ
LƢU ............................................................................................................. 26
2.2.1. Các thành tố của trang phục truyền thống...................................... 26
2.2.2. Trang phục trong sinh hoạt và lao động thƣờng ngày ................... 31
2.2.3. Trang phục trong ngày lễ hội và cƣới xin ...................................... 32
2.3. Đồ trang sức .......................................................................................... 33
2.4. MỘT SỐ GIÁ TRỊCỦA TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNGNGƢỜI
DAO ĐỎ Ở XÃ PHÙ LƢU ......................................................................... 34
2.4.1. Giá trị sử dụng ................................................................................ 34
2.4.2. Giá trị thẩm mỹ .............................................................................. 35
sắc. Nếu không có sự nhận thức đúng đắn về việc bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa các dân tộc, trong đó có trang phục truyền thống, mỗi dân tộc sẽ tự
đánh mất sự tồn tại của chính mình.
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện
nay. Văn hóa đƣợc xem nhƣ nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Đảng ta đã khẳng định:
Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và mở rộng giao lƣu quốc tế, phải đặc biệt
quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy
văn hóa đạo đức, tập quán tốt đẹp và tự hào dân tộc. Muốn đƣợc nhƣ vậy việc
nghiên cứu, tìm hiểu để thấy đƣợc giá trị văn hóa đích thực của một tộc
ngƣời, tìm kiếm những giải pháp bảo tồn, phát huy… là nhu cầu bức thiết
hiện nay.
1
Văn hóa vật thể là một trong những yếu tố quan trọng của bản sắc dân
tộc cần đƣợc lƣu giữ cấp thiết. Trong tiến trình phát triển của xã hội. Đặc biệt
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc vấn đề này càng đƣợc
quan tâm hơn bao giờ hết. Là con em của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang,
là một mảnh đất tập trung nhiều thành phần dân tộc, nhiều bản sắc văn hóa
đặc sắc trong những giá trị văn hóa đó là trang phục (y phục, trang sức). Cho
nên tôi muốn đi sâu vào việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề trang phục của dân
tộc Dao Đỏ, đó là một trong những dân tộc còn bảo lƣu và gìn giữ nhiều bản
sắc văn hóa độc đáo.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cùng với các dân tộc khác, dân tộc Dao đã đƣợc giới nghiên cứu dân
tộc học và văn hóa trƣớc đây cũng nhƣ hiện nay chú ý tới. Nhiều công trình
nghiên cứu đã đƣợc in thành sách. Về trang phục của nhóm Dao Đỏ, đã có
một số công trình nghiên cứu đƣợc nhắc đến, song chỉ là một mục nhỏ hay là
những bài báo nhỏ giới thiệu qua một số nét về trang phục của nhóm Dao. Do
Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận là đi thực tế ở vùng đồng bào
ngƣời Dao Đỏ sinh sống để thu thập nguồn tài liệu nghiên cứu về trang phục
ngƣời Dao Đỏ ở xã Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Nghiên cứu những giá trị văn hóa của trang phục trong đời sống văn
hóa tâm linh, văn hóa xã hội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là trang phục truyền thống của ngƣời Dao Đỏ
trong xu thế biến đổi hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là xã Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu dân tộc Dao Đỏ, tôi đã tiến hành công việc khảo sát tại
xã Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nơi có đồng bào dân tộc Dao
Đỏ sinh sống.
3
Với hình thức khảo sát, nghiên cứu, thu thập, ghi chép, phỏng vấn,
tham khảo tài liệu là những phƣơng pháp chủ yếu trong nghiên cứu khóa luận
này.
6. Đóng góp của khóa luận
Đề tài đã có những đóng góp nguồn tƣ liệu về trang phục của ngƣời
Dao cụ thể là nhóm Dao Đỏ góp phần vào công tác nghiên cứu, đồng thời
đem lại nguồn tƣ liệu đối với những ngƣời làm công tác nghiên sau này.
Hy vọng kết quả bƣớc đầu của việc nghiên cứu trang phục cổ truyền
dân tộc Dao Đỏ tại xã Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang không
những góp phần vào việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn
góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc.
7. Bố cục của khóa luận
Chiều dài bình quân của xã là 15km; chiều rộng bình quân là 7km.
Tổng diện tích tự nhiên là 8.863,81 ha.
Trong đó:
+ Đất nông nghiệp có 8.200,58 ha
+Đất sản xuất nông nghiệp có 2.152,87 ha
5
+Đất trồng lúa 340,4 ha
+Đất trồng cây hàng năm 539,03 ha
+Đất nuôi trồng thủy sản 25,78 ha
+Đất phi nông nghiệp 223,56 ha
+ Đất chƣa sử dụng 439,67 ha.
Địa hình: Phù Lƣu là một xã có địa hình khá đa dạng, bao quanh là đồi
núi cao, xen kẽ là những cánh đồng thấp. So với mặt nƣớc biển, độ cao trung
bình là 450 - 500m. Có hƣớng dốc từ Bắc xuống Nam và từ Đông Bắc sang
Tây Nam. Nhìn chung thì địa hình của xã khá khó khăn trong việc xây dựng
cơ sở hạ tầng, phát triển khu dân cƣ. Do nằm sâu trong nội địa đƣợc che chắn
bởi nhiều dãy núi cao, trên địa bàn xã Phù Lƣu thƣờng hay có gió lốc và gió
xoáy thất thƣờng không theo chu kỳ, mùa lạnh nhiệt độ xuống thấp thời tiết
trở nên khô hanh, đầu mùa hè hay có mƣa đá, mùa mƣa thƣờng có các cơn lũ
ống, lũ quét đột ngột ảnh hƣởng lớn đến đời sống sinh hoạt và sản xuất nông lâm nghiêp của ngƣời dân.
Với địa hình đa dạng đã đem lại cho xã Phù Lƣu sự phong phú về hệ
động, thực vật. Trƣớc đây, trên địa bàn có nhiều loại muông thú quý nhƣ
Hƣơu, Lợn Rừng, Tắc Kè; các loại gỗ quý nhƣ Lát, Đinh, Nghiến, Trò, Dổi,
Pơ Mu,… cùng những loại cây dƣợc liệu quý nhƣ: ba kích, thiên niên kiện, sa
nhân và một số cây nguyên liệu nhƣ nứa, giang, tre gầy, mây,…
Đây là vùng đất có thổ nhƣỡng khá màu mỡ. Tuy diện tích đất dùng
cho canh tác trồng lúa nƣớc chiếm diện tích không lớn so với tổng diện tích tự
nhiên song có hệ thống kênh mƣơng tƣới tiêu chủ động từ nguồn nƣớc dự trữ
mƣơng đã đáp ứng kha tốt nhu cầu tƣới tiêu cho bà con các thôn trong công
tác sản xuất nông nghiệp.
7
1.1.2. Khí hậu
Phù Lƣu nằm trong vụng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa
rõ rệt là mùa mƣa và mùa khô. Mùa hè nóng ẩm mƣa nhiều từ tháng 4 đến
tháng 9; mùa đông lạnh, khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ trung bình các tháng về mùa
đông là 160C, nhiệt độ trung bình các tháng mùa hè là 280C. Độ ẩm trong năm
dao động trong khoảng 85 - 87%. Lƣợng mƣa trung bình năm là 1.500 - 1800
mm. Ngoài ra xã còn chịu ảnh hƣởng của một số kiểu thời tiết cực đoan khác
nhƣ mƣa đá, gió lốc, sƣơng mù, sƣơng muối. Nhìn chung, xã Phù Lƣu nằm
trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có lƣợng mƣa trung bình khá lớn, có
nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng.
Đây là những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, đặc biệt là phát
triển nông - lâm nghiệp.
1.1.3. Tình hình dân cư
Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số dân trên địa bàn xã là 2054 hộ, với
8749 ngƣời. Có 6 dân tộc anh em cùng chung sống là Tày, Kinh, Dao, Nùng,
Cao Lan và Hoa.
CÁC THÀNH PHẦN DÂN TỘC TRONG XÃ PHÙ LƢU THEO
NĂM THỐNG KÊ 2012
STT
DÂN TỘC
Nùng
60
0,69%
5
Cao Lan
12
0,14%
6
Hoa
349
3,99%
8
1.1.4. Điều kiện kinh tế - xã hội
Phù Lƣu là xã nằm cách trung tâm huyện lị khoảng 15km, là một xã
thuộc miền núi của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang với 2054 hộ, với 8749
nhân khẩu, gồm 6 dân tộc anh em cùng chung sống gồm: Tày, Kinh, Dao,
Cao Lan, Hoa, Nùng. Là một xã có kha nhiều thế mạnh về vị trí địa lý, khí
những hiện tƣợng nhƣ khiếu nại đông ngƣời, không có trƣờng hợp khai sinh
sau đẻ quá hạn. Xã thực hiện chế độ một cửa rất tốt.
Về giáo dục, các em học sinh đều nâng cao tinh thần hiếu học, học sinh
đỗ đạt vào các trƣờng Đại học, Cao đẳng khá cao.
Trật tự an ninh của xã luôn đƣợc đảm bảo tốt, toàn xã không có hiện
tƣợng nghiện ma túy và những tệ nạn xã hội khác.
Vì vậy, xã Phù Lƣu là một trong những xã đã phát huy đƣợc truyền
thống lao động, cần cù, sáng tạo bằng việc các dân tộc trong xã đã tự sản xuất
ra các vật dụng, đồ dùng riêng phục vụ cho đời sống và sản xuất hằng ngày.
Với đôi bàn tay khéo léo, các thiếu nữ đã dệt nên những hoa văn tinh xảo trên
những tấm chăn, chiếc gối, quần áo,… các chàng trai đã biết tạo ra cây nỏ,
súng kíp, cày, bừa,… Từ cuộc sống lao động sản xuất, những nét đẹp về đời
sống văn hóa tinh thần của nhân dân các dân tộc đã hình thành, phát triển thể
hiện qua những làn điệu dân ca, hát Cọi, hát Then đƣợc lan truyền qua nhiều
thế hệ.
1.2. NGƢỜI DAO ĐỎ XÃ PHÙ LƢU - HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH
TUYÊN QUANG
1.2.1. Tên gọi, lịch sử cư trú
Đồng Bào dân tộc Dao ở Việt Nam hiện nay có hơn 500.000 ngƣời,
nhân khẩu đứng hàng thứ 9 so với những dân tộc trong nƣớc. Họ sống xen kẽ
với các dân tộc ngƣời Tày, H’Mông, Kinh, Nùng,… dọc theo 3 miền của đất
nƣớc. Ngƣời Dao sinh sống trên cả ba vùng địa hình là núi cao, vùng giữa và
vùng thấp trong đó tập trung ở vùng giữa. Ngoài với các tên là Dao thì còn có
rất nhiều tên gọi nhƣ Mán, Trại, Dạo, Xá, Động,… Tên Mán đƣợc bắt nguồn
10
từ chữ Man. Xƣa kia, các tộc ngƣời tụ ngoài địa bàn cƣ trú của ngƣời Hán từ
lƣu vực sông Trƣờng Giang trở xuống phƣơng Nam đều bị phong kiến Hán
gọi là Man. Đó là những tộc danh không đúng với tên gọi của ngƣời Dao và ít
11
Dao Đỏ và Dao Tiền từ Quảng Đông và Quảng Tây đến vào khoảng
cuối thế kỷ XVIII, hiện nay sinh sống ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Hà Giang.
Do nhiều nguyên nhân biến cố lịch sử đã làm cho ngƣời Dao Trung
Quốc phân tán thành nhiều nhóm nhỏ và rời khỏi cái nôi của mình là đất Châu
Dƣơng và Châu Kinh tản mạn di cƣ đi các nơi để sinh sống, trong đó có một
số nhóm đã vào Việt Nam. Trên đƣờng di cƣ vào họ đã tiếp thu thêm những
yếu tố văn hóa của các dân tộc khác, đồng thời các yếu tố văn hóa mới cũng
đƣợc nảy sinh và hình thành những tính cách riêng, những tên gọi khác nhau
[8, tr.11-14].
Ở Hàm Yên tập trung các ngành Dao sau: Dao Đỏ, Dao Quần Trắng.
Cùng một dân tộc nhƣng mỗi ngành cƣ trú một vùng nhất định, có vài ngành
cùng cƣ trú xen kẽ với nhau: Dao Đỏ, dao Quần Trắng và xen kẽ với nhiều
dân tộc khác trong vùng. Họ sống xen kẽ theo xóm, theo hộ gia đình và tập
trung nhất là ở các xã vùng cao trong huyện nhƣ Phù Lƣu, Yên Lâm, Thành
Long, Yên Phú, Tân Thành, Yên Thuận,…
Xã Phù Lƣu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang là nơi có đông đảo
ngƣời Dao Đỏ sinh sống vì điều kiện địa lý, khí hậu có nhiều yếu tố phù hợp
với điều kiến sống của họ, cho nên ngƣời Dao Đỏ hình thành những bản làng
cƣ trú. Sự giàu có của tự nhiên và tài nguyên rừng là một trong những nguồn
sống quan trọng giúp cho đồng bào Dao ở đây tồn tại và phát triển cho đến
ngày nay.
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Trồng trọt: Ngƣời Dao Đỏ trƣớc kia sống chủ yếu bằng nghề nƣơng rẫy
và nông nghiệp ruộng nƣớc. Nhƣng do một số điều kiện khí hậu, vị trí địa lý
khá thuận lợi, đồng bào ngƣời Dao đã tìm hiểu và thử trồng nhiều loại cây ăn
quả nhằm cải tạo lại đất và từ đó họ phát hiện ra trồng cam, quýt là những cây
những dân tộc khác, đó là đi chợ không chỉ đơn giản là nơi diễn ra việc mua
bán và trao đổi hàng hóa mà còn là nơi để gặp gỡ, giao lƣu văn hóa truyền
13
thống, đồng thời cũng là dịp cho những đôi trai gái hò hẹn nhau. Vì vậy, có
thể nói, chợ phiên cùng cao chứa cả hai yếu tố đó là kinh tế và văn hóa.
Về ăn uống: Hàng ngày đồng bào uống nƣớc chè, nƣớc vối, nƣớc lá
nhân trần, nƣớc các cây thuốc và nƣớc đun sôi để nguội. Nguồn nƣớc ở vùng
cao, vùng sâu là nƣớc lần từ khe suối, vùng thấp thì sử dụng nƣớc
giếng.Trong bữa ăn gia đình hoặc tiếp khách hay trong những dịp lễ cúng
đồng bào thƣờng uống rƣợu. Rƣợu từ thóc, gạo, ngô, khoai, sắn, bột cây
đao,… Men rƣợu đƣợc chế từ các thứ bột gạo, lá, quả và rễ cây rừng. Đàn ông
hay hút thuốc lá và thuốc lào, không hút thuốc phiện, còn đàn bà thì ăn trầu.
Phương tiện vận chuyển: chủ yếu là những chiếc gùi, túi đan bằng sợi
gai đen ở đằng sau lƣng rất đƣợc họ ƣa dùng, ngoài ra còn có Ngựa đƣợc
đồng bào ngƣời Dao Đỏ nuôi sử dụng làm phƣơng tiện vận chuyển.
Làng bản: Làng bản của ngƣời Dao Đỏ ở xã Phù Lƣu ít tập trung
thƣờng thì là 5 đến 7 nhà quần tự với nhau, ít khi có khoảng 20 nóc nhà nối
liền nhau. Tuy nhiên, việc làng bản ít tập trung nhƣng không bởi vậy mà đánh
mất đi tính cố kết cộng đồng của đồng bào ngƣơi Dao. Từ xa xƣa, do điều
kiện sống khắc nghiệt và bị thực dân phong kiến áp bức bóc lột, nên ngƣơi
Dao Đỏ đã biết dựa vào nhau, đòn kết, tƣơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát
triển. Nhà chủ yếu là nhà đất, nhà sàn. Nguyên vật liệu chủ yếu từ các cây
rừng nhƣ tre, gỗ, nứa,…
Về quần áo, trang sức, trang phục: Những bộ trang phục của đồng bào
ngƣời Dao Đỏ rất phong phú. Chất liệu của những bộ trang phục ấy là từ sợi,
vải bông tự dệt, màu nền chủ yếu là màu chàm. Về kiểu dáng có sự khác nhau
giữa các nhóm. Với đôi bàn tay khéo léo của những ngƣời phụ nữ đã tạo nên
cho dân tộc mình những bộ trang phục hết sức hấp dẫn, nó mang một nét
mới sinh, thƣờng gọi theo thứ tự sinh trƣớc sinh sau để phân biệt với ngƣời
lớn, chƣa chú ý đến tên đệm. Lần sau để không trùng với tên ông bà, bố mẹ,
15
họ hàng, đồng bào đặt tên chính thức cho con khi đứa trẻ đucợ 10 - 12 tuổi[2,
tr.200-203].
Hôn nhân,cưới xin: Từ xa xƣa, hôn nhân của ngƣơi Dao Đỏ chủ yếu là
tảo hôn và mua bán, tuổi kết hôn thƣờng là 18. Khi gả bán, rƣợu thịt, bạc
trắng là những vật “thách cƣới” để định giá ngƣời con gái. Họ quan niệm
rằng, số lƣợng thịt, rƣợu, bạc trắng càng lớn thì ngƣời con gái đó càng có giá
trị.
Sự thành hôn của đôi trai gái thƣờng do bố mẹ sắp đặt dựa trên cơ sở số
mệnh hợp nhau của đôi trai gái, mệnh của cô dâu hợp với mệnh của những
ngƣời trong gia đình nhà trai.
Còn tàn dƣ của chế độ hôn nhân mẫu quyền, đó là chế độ ở rể bắt buộc.
Trong đó, có ở rể có thời hạn và vĩnh viễn.
+Ở rể có thòi hạn khoảng từ 2 - 7 năm.
+Ở rể vĩnh viễn, ngƣời con trai thƣờng không phải nộp sính lễ nhƣng
đổi họ mình thành họ vợ. Hai hình thức ở rể đều mang tính chất hôn nhân
mua bán: thay vì đồ sính lễ thì họ phải bán sức lao động của mình.
Chế độ hôn nhân của ngƣời Dao là chế độ hôn nhân một vợ một chồng.
Quan hệ hôn nhân đƣợc quy định chặt chẽ, ngƣời cùng tông tộc sau 5 đời mới
lấy đƣợc nhau. Ngƣời Dao không có hình thức hôn nhân cƣớp đoạt, ít khi kết
hôn với ngƣời khác nhóm và với ngƣời dân tộc khác [2, tr.192-193].
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những ngƣời trong gia đình.
Nghi lễ chọn đất rất quan trọng. Vào buổi tối, ngƣời ta cho đào một hố to
bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tƣợng trƣng cho ngƣời, trâu, bò, tiền bạc,
thóc lúa, tài sản sau đó úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm hôm đó là điềm tốt
truyền phong phú với đủ các thể loại: thơ, ca, múa, nhạc,… Kho tàng truyện
thơ cổ đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích nhƣ: truyện “Quả bầu”, “Bàn Hồ”, “Sự tích
mặt trời mặt trăng,… kể về nguồn gốc của loài ngƣời, nguồn gốc trời, đất, đề
cao sáng tạo của con ngƣời. Ngoài ra còn có những câu thơ, câu ca dao, tục
ngữ phong phú cả về số lƣợng lẫn nội dung phản ánh kinh nghiệm sản xuất,
17
mùa màng, thời tiết phong tục tập quán, tình yêu quê hƣơng đất nƣớc và sự
nảy nở tình yêu của những đôi nam nữ.
Đặc biệt, phổ biến trong sinh hoạt của đồng bào Dao Đỏ là hát páo
dung (hay áp dung). Trong những dịp lễ hội, đám cƣới, phiên chợ đó là những
dịp nam nữ thanh niên thông qua lời ca tiếng hát đƣợc tìm hiểu lẫn nhau.
Bên cạnh đó, múa là một trong những nghệ thuật đặc sắc của đồng bào
Dao Đỏ xã Phù Lƣu, có rất nhiều điệu múa đƣợc sử dụng trong những nghi lễ
nhƣ: Lễ cấp sắc, cầu mùa màng tƣơi tốt, múa vui ngày tết,…
Đồng bào Dao Đỏ ở xã Phù Lƣu sống thật thà, chất phác và rất mến
khách. Họ sống hòa đồng, giữ lời hứa và ghét sự dối trá. Khi đến bản làng của
đồng bào Dao Đỏ đƣợc mọi ngƣời đón tiếp nhiệt tình, cởi mở và dễ gần.
Tiểu kết chương 1
Dân tộc Dao nói chung và ngành Dao Dỏ nói riêng đều có nền văn hóa
phong phú đƣợc hình thành trong quá trình lịch sử. Trải qua biết bao nhiêu
biến cố lịch sử và ngày nay nền văn hóa ấy đƣợc phát huy mạnh mẽ, đƣợc thể
hiện ngay trong những hoạt động sinh hoạt kinh tế, trong sản xuất vật chất và
phƣơng tiện để sinh tồn, từ sản xuất lúa, gạo, nguyên liệu để tạo ra trang
phục,… đến việc tổ chức sinh hoạt đời sống gia đình, hoạt động xã hội, sinh
hoạt tinh thần, tất cả đều nhằm duy trì và phát triển cuộc sống của ngƣời Dao
Đỏ ở xã Phù Lƣu và dân tộc Dao ở Tuyên Quang nói chung.
Với cảnh quan thiên nhiên miền rừng núi tƣơi đẹp, với khí hậu trong
lành tại mảnh đất huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang cộng với truyền thống
Họ gộp trang phục và trang sức làm một nên mới nói câu tục ngữ: “Diệt
puôn miền, chũa puôn choong”(3).
Trang phục chẳng những đem đến cái đẹp mà còn góp phần tăng phẩm
giá cho con ngƣời. Bởi vậy, trang phục là trung tâm của sự chú mục, là đề tài
(3)
“ Diệt puôn miền, chũa puôn choong” nghĩa là một phần ngƣời, chín phần trang điểm (Dao Đỏ).
19
thu hút dƣ luận xã hội. Con ngƣời trong quá trình tạo dựng trang phục đã dồn
sức giải quyết cùng lúc mấy vấn đề quan thiết:
+Định hình loại quần áo sinh hoạt nhật dụng.
+Hoàn tất kiểu quần áo cƣới xin, lễ tiết.
+Đáp ứng nhu cầu trang phục tín ngƣỡng.
Ngƣời ta không dừng lại ở đó mà còn tự đặt ra cho mình nhiều câu hỏi:
Cây cối, động vật đều có vỏ bọc bên ngoài của nó. Nếu chỉ cần phủ kín hình
hài của cơ thể thì một mảnh vải che thân là đủ. Giản dị đến độ ai cũng có thể
làm đƣợc. Tuy nhiên, con ngƣời ý thức ngay đƣợc số phận mong manh của
mình bởi không mang một bản sắc nào.
Y phục là từ Hán Việt có ý nghĩa là quần áo hay đồ để mặc vào ngƣời.
Ngoài ra còn có nhiều từ Hán Việt khác ta thƣờng quen gọi nhƣ y (áo mặc để
che thân); y khâm (vạt áo trƣớc); y phƣờng (áo và quần),… Trong dân tộc
học, y phục thuộc lĩnh vực văn hóa vật chất (theo cách phân loại truyền thống:
vật chất, tinh thần).
Y phục dù nằm ở loại hình phân loại nào thì nó vẫn có một hiện tƣợng
văn hóa, trƣớc hết là thể hiện tính vật chất của nó. Y phục đƣợc chế tạo từ vải
sợi bông hay tơ tằm hoặc các nguồn nguyên liệu khác. Vì vậy mà trong dân