Trang phục truyền thống của người Bố Y
Dân tộc Bố Y ở Việt Nam là một trong những dân tộc có số dân ít nhất trong
nhóm Tày Thái. Bố Y chia làm hai nhóm có tên gọi chung: nhóm ở Quảng Bạ (Hà
Giang) có tên gọi là Bố Y, nhóm cư trú ở Lào Cai mang tên là Tu Di.
Trang phục nam: Nam giới thường mặc áo cổ viền, loại áo cánh ngắn, tứ thân;
quần lá tọa màu chàm bằng vải tự dệt.
Trang phục phụ nữ dân tộc Bố Y trong khoảng một thế kỷ gần đây có nhiều biến
đổi về kiểu dáng, chất liệu, cách mặc… Bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố Y ở
Tam Đường, Phong Thổ, Lai Châu gồm: khăn đội đầu, áo trong, áo ngoài, váy to,
váy nhỏ, tạp dề.
Khăn đội đầu (ba can) bằng vải nhuộm chàm, là loại khăn dài 300cm, chiều rộng
35cm. Hai đầu khăn được khâu vắt mép bằng chỉ màu ghi, cạnh mép khăn dùng
chỉ màu khâu thưa để đường chỉ nổi rõ có tính chất trang trí cho khăn. Khi dùng,
gập đôi khăn theo chiều dọc rồi quấn xung quanh đầu, đuôi khăn ngoài cũng có
thể giắt hoặc buông.
Áo trong (pủ đy) là loại áo kiểu tứ thân mở ngực, có một chiếc cúc đồng cài giáp
cổ. Hai vạt áo trước có hai túi nhỏ cân xứng nhau để đựng tiền và đồ. Cổ áo liền
với nẹp ngực được đáp bằng vải chàm xanh, cổ tay áo đáp khoanh vải màu xanh
rộng 10 cm, hai đầu khoanh vải xanh viền một đường vải trắng 1 cm. Áo trong
(pủ đý) được coi là loại áo lâu đời nhất trong bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố
Y. Hiện nay áo “pủ đý” không sử dụng mà cất kỹ trong hòm, khi chủ nhân quá cố
mặc sang thế giới bên kia.
Áo ngoài (pủ pấp) bằng vải thô nhuộm chàm dài 60 cm, rộng 55 cm (tùy người
cụ thể có kích thước khác nhau). Áo may kiểu tứ thân không có cúc cài, chỉ có
một đôi dây vải, một chiếc đính phía dưới vạt áo trái, một chiếc đính nơi xẻ tà
nách bên phải, khi mặc áo chúng được buộc lại với nhau.
Cổ áo (vừa pủ) liền với nẹp ngực, được khâu táp hai miếng vải màu xanh nhạt,
nẹp áo trước ngực bằng vải đỏ. Trên nẹp vải đỏ thêu hoa văn, đồng bào gọi là con
rồng (lùng). Nẹp áo trước ngực bằng vải xanh lơ trên thêu hoa văn hình răng cưa
(vùa lùng). Tay áo liền với thân, ống tay rộng, có nẹp vải trắng bên trong, bên
niềm tự hào dân tộc, là đặc trưng văn hóa của mỗi tộc người cần được bảo tồn và
gìn giữ phát huy theo tinh thần Nghị quyết V khóa VIII của Trung ương Đảng
trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trang phục truyền thống của người phụ nữ Lự
Dân tộc Lự ở Việt Nam có 4.964 người, cư trú chủ yếu ở 2 huyện Phong Thổ và
Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Người Lự có truyền thống trồng bông, nuôi tằm kéo sợi dệt
vải phục vụ nhu cầu may mặc của cộng đồng. Trang phục của phụ nữ Lự gồm có:
khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng.
Khăn đội đầu bằng vải bông nhuộm chàm đen dài khoảng 410 cm, rộng 30 cm,
hai đầu khăn có tua dài khoảng 20cm.Trên nền đen của hai đầu khăn dệt xen kẽ
18 đường chỉ trắng to nhỏ khác nhau và hai đường chỉ vàng chạy ngang tô điểm
cho khăn. Khi sử dụng, khăn được gấp bốn theo chiều dọc và được quấn quanh
đầu nhiều vòng búi nghiêng về phía bên trái đầu.
Áo may bằng vải chàm đen, áo tứ thân, ghép liên kết với nhau từ 6 miếng vải cắt
theo hình rẻ quạt, tạo cho áo có vạt xòe rộng so với eo. Hoa văn dệt kết hợp với
hoa văn ghép vải. Cổ áo liền với nẹp ngực gồm 5 miếng vải khâu cầu kỳ các màu
nhau tạo thành. Miếng vải ở giữa được đáp những quả hình trám màu xanh đỏ nối
tiếp nhau. Tay áo dài, được may thon dần về phía cổ tay viền một vòng vải hoa
nhỏ, sát nách có thêu hoa văn chạy vòng quanh ống tay. Trên thân áo bên trái
thêu một đường chỉ nhỏ hình gióng trúc chạy từ cổ thẳng xuống vạt áo bằng chỉ
các màu.
Vòng quanh eo áo từ phía trước ra phía sau là hoa văn ghép vải, đồng bào gọi đó
là "con suối uốn lượn". Dưới hoa văn ghép vải là những hình tam giác thêu bằng
chỉ các màu. Hai bên vạt áo được đính hai dây vải hoa, dải dây bên sườn phải có
năm tua bằng sợi len các màu có xâu những hạt cườm. Khi mặc, người ta vắt
chéo thân bên trái sang phía sườn phải và buộc hai dây vải với nhau, dây được
buông thõng tới gần đầu gối, khi bước đi hai dải dây nhún nhảy đung đưa tạo sự
uyển chuyển mềm mại của người phụ nữ.
Hàng ngày phụ nữ Lự thường mặc từ hai đến ba chiếc váy cùng một lúc. Chúng