MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội,
việc bảo lưu và phát triển nền văn hóa các dân tộc thiểu số cũng được Đảng và
Nhà nước ta đặc biệt chú trọng chăm lo. Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa truyền
thống các tộc người thiểu số là việc làm cần thiết và phù hợp với quan điểm chỉ
đạo của Đảng và Nhà nước. Tại Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương lần thứ
9 (khóa IX) của Đảng đã nhận định: "phải nghiên cứu để bảo tồn và phát huy
những di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ít người". Tiếp đó,
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về
“Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững đất nước” tiếp tục khẳng định phải "Xây dựng nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng
các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa
học". Hiện nay, Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống với 54 đặc trưng
văn hóa khác nhau. Các đặc trưng văn hóa đó đã bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau cùng
phát triển, góp phần tạo nên vườn hoa văn hóa rực rỡ sắc màu của dân tộc Việt
Nam, tuy thống nhất nhưng không làm mất đi các đặc trưng văn hóa vốn có của
mỗi dân tộc.
Theo Tổng điều tra dân số năm 2009, dân tộc Thái có dân số đông thứ 3
tại Việt Nam (sau người Kinh và người Tày). Người Thái cư trú chủ yếu tại các
tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, phía Tây Thanh Hóa và
Nghệ An. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế và quá trình di cư tự
do, hiện nay người Thái đã có mặt tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Sơn
La - với 12 dân tộc cùng sinh sống trong đó cộng đồng người Thái chiếm tỉ lệ
đông đảo nhất (chiếm khoảng 54% dân số toàn tỉnh). Vì vậy, nền văn hóa của
dân tộc Thái mang tính chất đặc trưng, chủ đạo, đại diện cho nền văn hóa của
Tây Bắc nói chung và văn hóa Sơn La nói riêng trong cộng đồng các dân tộc nơi
đây.
Thành phố Sơn La đang trên đà phát triển với tỉ lệ người Thái chiếm đa
số. Hiện nay cùng với quá trình hội nhập, giao lưu và đô thị hóa, nhiều yếu tố
việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
4. Đinh Văn Thiên, Hoàng Thế Long, Nguyễn Trung Minh, “Tây Bắc
Vùng đất – Con người”, NXB QĐND Hà Nội (2010). Cuốn sách cung cấp
những thông tin tổng quát về một địa danh lịch sử gắn liền với những chiến dịch
nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – một địa bàn có nhiều
dân tộc anh em cùng chung sống.
5. Ngô Đức Thịnh, “Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam”. Ở
cuốn sách này đã đi sâu tìm hiểu diện mạo và những nét tiêu biểu của trang phục
từng vùng và của từng nhóm dân tộc qua các thời kỳ.
6. Cuốn “Nghệ thuật trang phục Thái” của tác giả Lê Ngọc Thắng nhằm
giới thiệu nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Thái ở nước ta. Cuốn sách này đi
sâu tìm hiểu trang phục Thái qua các công đoạn từ việc sản xuất ra các nguyên
liệu đến việc cho ra một trang phục như thế nào. Qua các trang phục đó thể hiện
tính thẩm mỹ, nếp sống của dân tộc; chức năng giới tính; chức năng xã hội của
trang phục…
7. TS. Nguyễn Thị Thanh Nga, “Nghề dệt của người Thái ở Tây Bắc
trong cuộc sống hiện đại”, NXB Khoa học Xã hội (2003). Công trình nghiên
cứu thực trạng về nghề dệt của hai nhóm Thái ở Mai Châu (Hoà Bình) và Yên
Châu (Sơn La) và những biến đổi trong q uá trình sản xuất, chế tác tác phẩm,
chế tác nguyên liệu của nghề dệt nhằm thích ứng với cơ chế thị trường và phát
triển du lịch, đồng thời góp phần tìm hiểu văn hoá Thái truyền thống và những
biến đổi của nói trong hiện tại cùng sự đóng góp của văn hoá Thái vào di sản
văn hoá Việt Nam.
8. Hoàng Nam - Lê Ngọc Thắng, “Nhà sàn Thái”, NXB Văn hoá (1984).
Cuốn sách đã cho chúng ta cái nhìn tổng quan về ngôi nhà sàn cổ của người
Thái ở Việt Nam từ quy trình dựng nhà, cấu trúc nhà sàn cổ truyền đến các nếp
sinh hoạt diễn ra dưới mái nhà sàn, những điều cần kiêng kị.
2
Văn hoá dân gian hoặc các nguồn trên internet cũng đăng tải những bài viết về
nét văn hoá và phong tục tập quán của dân tộc Thái vùng Tây Bắc nói riêng và
người Thái Việt Nam nói chung.
14. Trong phạm vi Trường Đại học Tây Bắc cũng có một số công trình
nghiên cứu về văn hóa, phong tục tập quán dân tộc Thái là khoá luận tốt nghiệp
của sinh viên, luận văn Thạc sĩ của cán bộ giảng viên như: “Giá trị văn hoá
chiếc khăn Piêu của dân tộc Thái đen ở tỉnh Sơn La”, khoá luận tốt nghiệp của
tác giả Nguyễn Thị Hà (2011); “Bước đầu tìm hiểu nghề dệt thổ cẩm truyền
thống của đồng bào Thái đen ở Sơn La” khoá luận tốt nghiệp của tác giả
Nguyễn Thị Hạnh (2011); Luận văn Thạc sĩ “Bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa của dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La hiện nay”, tác giả Lò Minh Thảo
(2013); đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường “Bước đầu khảo sát giới thiệu
trang phục các dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La”, tác giả Bùi Thanh Hoa – Lường
Hoài Thanh (2013); Nguyễn Thị Đức Hạnh với đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
3
ngành văn hóa “Nhà ở của người Thái Trắng tái định cư ở bản Quỳnh Tiến,
phường Chiềng An, thành phố Sơn La” lại tập trung vào nghiên cứu về nhà cửa
cũng như không gian sống của người Thái Trắng di dân từ Huyện Quỳnh Nhai
ra phường Chiềng An thành phố Sơn La.
Nhìn chung, các sách chuyên khảo, các đề tài NCKH, các khóa luận đều
là những tài liệu quý cho nhóm thực hiện đề tài. Ngoài sự kế thừa của những
nghiên cứu trước các tác giả còn xuống khảo sát, phỏng vấn trực tiếp người dân
tại địa bàn nghiên cứu. Thông qua đó nhóm tác giả đánh giá thực trạng và đưa ra
một số giải pháp nhằm phát huy những nét văn hóa tốt đẹp của người Thái thành
phố Sơn La trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nét văn hoá truyền thống
4
phục vụ cho việc giảng dạy cơ sở văn hóa cho học sinh, sinh viên trong Nhà
trường.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, đề tài được chia thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thực trạng một số nét văn hoá truyền thống của cộng đồng
người Thái trên địa bàn thành phố Sơn La giai đoạn hiện nay
Chương 3: Nguyên nhân biến đổi và đề xuất giải pháp nhằm phát huy một
số giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Thái thành phố Sơn La
5
Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
1.1. Phương pháp luận
1.1.1 Cơ sở lý thuyết của đề tài
Nhóm đề tài sử dụng lý thuyết về biến đổi văn hóa để thực hiện nghiên
cứu đề tài này.
Xuất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cứu, Đề tài này là một nghiên
cứu liên ngành Văn hóa học, xã hội học và dân tộc học. Vì vậy, phương pháp
tiếp cận liên ngành sẽ được áp dụng trong nghiên cứu này.
Tiếp cận theo các lý thuyết biến đổi và tiếp biến văn hóa
Có nhiều quan điểm và lý thuyết khác nhau về sự biến đổi văn hóa nói
riêng và biến đổi xã hội nói chung như: quan điểm biến đổi xã hội của
K.Marx, các lý thuyết về sự khuyếch tán, tiếp biến, tiến hóa chậm, đợt sóng
thứ ba,... nhưng tựu chung lại, các quan điểm và lý thuyết này cho rằng sự
biến đổi văn hoá xuất phát từ 3 nguyên nhân cơ bản sau:
“culture” vào trong khoa học là S. Pufendorf (1632 – 1694) – nhà nghiên cứu
pháp luật người Đức. Ông đã sử dụng thuật ngữ này để chỉ toàn bộ những gì do
con người tạo ra, các sản phẩm nhân tạo này khác với các sản vật thiên nhiên tựa
như con người được giáo dục khác với con người không được giáo dục. Sang
thế kỉ XIX, đặc biệt là thế kỉ XX, khái niệm văn hoá được sử dụng ngày càng
nhiều không chỉ trong khoa học mà cả trong cuộc sống hằng ngày của nhiều
quốc gia, dân tộc.
Có thể nhận thấy, văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều
cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của
con người. Cho tới nay, người ta đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hoá.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hoá thường được hiểu là văn học, nghệ
thuật như thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Chính vì vậy, các “trung tâm
văn hoá” có ở khắp mọi nơi. Hoặc theo một cách hiểu thông thường khác: văn
hoá là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử, đức tin, tri
thức được tiếp nhận… Vì thế, chúng ta thường nhận xét một người nào đó là văn
hoá cao, văn hoá thấp, có văn hoá hoặc vô văn hoá.
Dưới góc độ khoa học, hầu như mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi trường phái
và thậm chí là mỗi nhà khoa học đều có định nghĩa riêng của mình về văn hoá.
Trong cuốn Xã hội học văn hoá, tác giả Mai Văn Hai – Mai Kiệm, Viện Khoa
học xã hội Việt Nam, Viện xã hội học, nhà xuất bản khoa học xã hội, 2010 đã
tổng hợp nghiên cứu và phân loại các khái niệm văn hoá thành 6 nhóm cơ bản
với một số đại diện tiêu biểu như:
Nhóm định nghĩa mô tả: Đại diện cho nhóm này là nhà nhân loại học
người Anh Edward Burnett Tylor (1832 – 1917) đã đưa ra khái niệm: “văn hoá
(hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học) là một tổng thể phức
hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ
khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành
viên của xã hội”.
nhau và tác động đến lốii ứng xử của nhau”.
Tuy nhiên cũng theo tác giả, mặc dù có nhiều các định nghĩa và phân loại
khác nhau song bởi mỗi định nghĩa đều phát hiện hay nhằm nắm bắt được một
phương diện quan trọng nào đó nên không có một định nghĩa nào được gọi là
một định nghĩa nhất quán và cạn kiệt về văn hoá. Không phải ngẫu nhiên có nhà
nghiên cứu đã nói rằng văn hoá là những cái người ta tìm thấy trên thực địa, chứ
không phải trên các định nghĩa. Người ta chỉ có thể xây dựng một định nghĩa về
văn hoá trong một bối cảnh nhất định – với tư cách là một khái niệm làm việc –
nhằm giúp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó được chuẩn xác mà thôi.
Bên cạnh đó, tại Hội nghị quốc tế do Tổ chức giáo dục, khoa học và văn
hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) chủ trì từ ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng
8 năm 1982 tại Mê-hi-cô, trong bản tuyên bố về những chính sách văn hoá, định
nghĩa văn hoá được thông qua: “Văn hoá là tổng thể những nét riêng biệt tinh
thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của
một nhóm người trong xã hội”. Theo định nghĩa của UNESCO, văn hoá bao
gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền lợi cơ bản của con
người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá
đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá đã làm cho
chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán
và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ tự biết mình là một phương án chưa
hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết
mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những
công trình vượt trội bản thân”. Như vậy, theo quan niệm của UNESCO, văn hoá
không phải là một lĩnh vực riêng biệt. Văn hoá là tổng thể nói chung những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hoá là chìa khoá của sự
phát triển.
Tại Việt Nam, định nghĩa văn hoá cũng rất đa dạng.
Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt
Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn
hoá - Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hoá là những giá trị vật chất, tinh
nước ta quan tâm, đưa vào Nghị quyết và triển khai vào cuộc sống. Để có được
chính sách văn hóa toàn diện như hiện nay, đầu tiên phải kể đến bản “Đề cương
văn hoá Việt Nam” (1943) – đây được xem là văn bản pháp lí đầu tiên của Đảng
ta nêu lên đường lối xây dựng và phát triển nền văn hoá dân tộc. Trong "Đề
cương văn hoá Việt Nam", Đảng Cộng sản Đông Dương đã khẳng định: “Mặt
trận văn hoá là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hoá)”. Cùng với
các mặt trận đấu tranh kinh tế và chính trị, Đảng xác định văn hoá cũng là một
mặt trận đấu tranh độc lập đồng thời có mối liên hệ mật thiết với hai mặt trận
trên trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ. Thậm chí mặt
trận văn hoá còn cần được coi trọng hơn nữa vì “có lãnh đạo được phong trào
văn hoá, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có
hiệu quả” và “phải hoàn thành được cách mạng văn hoá mới hoàn thành được
cuộc cải tạo xã hội”… Mục tiêu trước mắt mà "Đề cương văn hoá Việt Nam" đề
ra là xây dựng nền văn hoá mới dân tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài
là xây dựng “văn hoá xã hội chủ nghĩa”. Muốn xây dựng nền văn hoá dân tộc,
khoa học, đại chúng ta phải nắm vững ba nguyên tắc: dân tộc hoá, khoa học hoá
và đại chúng hoá. Đường lối ấy được bổ sung, phát triển qua các kì đại hội, hội
nghị Trung ương từ khoá I đến khoá VIII. Nhưng có thể nói đến Hội nghị Trung
ương 5 (khoá VIII) mới là sự đánh dấu bước phát triển toàn diện đường lối xây
9
dựng và phát triển toàn diện nền văn hoá Việt Nam trong giai đoạn cách mạng
mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng (khoá
VIII) “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc” đã khẳng định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước
ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức
độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp
bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước. Trong quá trình đó đã hình thành và vun
đắp nên những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa của động đồng các dân
tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, đức
tính cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất... Chính vì vậy, chúng ta xây dựng
10
nền văn hóa tiên tiến nhưng trong đó phải lồng ghép, bao hàm được các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Chúng ta có 54 dân tộc cùng chung
sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng.
Cùng với các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, các giá trị và sắc thái đó bổ sung
cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân
tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các
dân tộc anh em. Chúng ta phải xây dựng "nền văn hóa thống nhất mà đa dạng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam", "coi trọng và bảo tồn, phát huy những
giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị văn hóa mới về văn
hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc thiểu số". Nền văn hóa tiên tiến đó vừa
phải mang nét chung thống nhất của các tộc người trên lãnh thổ, vừa phải đảm
bảo gìn giữ và phát huy được các sắc thái văn hóa riêng, độc đáo của từng tộc
người.
Bên cạnh đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng xác định rõ nhiệm vụ
"xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo,
trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng", "xây dựng, phát triển văn hóa
là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên
trì, thận trọng".
Có thể thấy, Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII là sự phát triển toàn diện
và sáng tạo đường lối xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Nghị quyết
đã xác định rõ ràng, cụ thể chủ thể lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ
là quan điểm chỉ đạo mới, tiến bộ và phù hợp với điều kiện tình hình mới của
đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết lần này đề cao yếu tố con
người, cần thiết phải xây dựng con người mới vì con người là chủ thể để xây
dựng nên nền văn hoá dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội.
1.2. Khái quát về người Thái
1.2.1. Tên gọi và lịch sử tộc người Thái
Tộc người Thái còn có tộc danh đồng bào tự gọi là Táy hoặc Thay cùng
các tên gọi khác là Man Thanh, Tay Mường, Tay Mười, Hàng Tổng, Tay Dọ,
Thổ.
Cho đến nay việc nghiên cứu về lịch sử cư trú của tộc người Thái ở Việt
Nam nói chung và người Thái Sơn La nói riêng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Căn cứ vào các tài liệu thành văn như “Quắm tô mương” (chuyện kể bản
mường) hay “Táy pú sấc” (theo dõi những bước đường chinh chiến của cha
ông), “Hịt khoỏng bản mường” (phong tục tập quán), Piết mương, phanh
mương… Những công trình nghiên cứu nguồn gốc lịch sử người Thái của các
nhà khoa học đã kết luận rằng: Người Thái ở Việt Nam nói chung và người Thái
ở Sơn La nói riêng đều có nguồn gốc ở Đông Nam Á cổ đại thuộc chủng
Mônggôlôit. Đại chủng Mônggôlôit gồm các tiểu chủng: Mônggôlôit Phương
Bắc, Mônggôlôit Phương Nam và tiểu chủng da đỏ châu Mỹ. Hầu hết các tộc
người Đông Nam Á cổ đại đều thuộc chủng Mônggôlôit Phương Nam. Tiểu
chủng Mônggôlôit thuộc các nhóm loại hình: Anhđônêdiêng, Nam Á, Vêđôti,
Nêgrôti. Trong đó, người Thái thuộc nhóm hình Nam Á.
Theo truyền thuyết dân gian cũng như các văn tự chữ Thái cổ tồn tại đến
ngày nay, những văn bản trên lá cây, giấy bản, sách, những cuốn sách sử chép
tay hàng trăm trang… đã nói về quê hương nơi chôn nhau cắt rốn là dải đất lớn
được tưới bởi chính con sông và là nơi sông Đà gặp sông Hồng (Đin xam xẩu,
nậm cẩu que, pá Té Tao). Đó là vùng Vân Nam (Trung Quốc) vào Tây Bắc Việt
Nam, chốn đầu nguồn của Nậm Tao (Hồng Hà), Nậm Tè (sông Đà), Nậm Ma
(sông Mã), Nậm Khoong (sông Mê Kông), Nậm U, Nậm Na…
Về quá trình thiên di của người Thái vào vùng Sơn La – Tây Bắc (Việt
"Vào khoảng thế kỉ VII - VIII người Thái đã đạt quyền làm chủ nước Nam
Chiếu từ các dân tộc nói tiếng Tạng - Miến và xúc tiến các đợt di cư tìm miền
đất mới dựng bản mường... Nhóm Táy Đăm Mường Then di cư sang đất Lào rồi
đến miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An".
Theo dã sử và truyền thuyết của người Thái thì việc mở đất của họ gắn
liền với các cuộc chiến tranh chinh phục các tộc người thuộc ngữ hệ Môn Khmer, bộ phận cư dân có nguồn gốc xa xưa của vùng đất này, "cho đến thế kỉ
XII, người Thái hoàn toàn làm chủ đất Mường Thanh, biến nơi đây thành trung
tâm thu hút người Thái khắp miền" với sự thống trị của Lạn Chượng và các con
cháu của ông. Càng về sau do sự bất hòa của anh em trưởng thứ quý tộc nên các
thế lực quý tộc Mường Lay và người Lự ở Thượng Lào đã đánh đuổi quý tộc
Thái Đen ở Mường Thanh nên con cháu Lạn Chượng phải dần di cư về Mường
Muổi (Thuận Châu - Sơn La).
Sau khi ổn định đến thế kỉ XIV dưới thời chúa Lò Lẹt, Mường Muổi đã
trở thành trung tâm nổi tiếng trong vùng người Thái khắp miền Tây Bắc nói
chung. Khoảng cuối thế kỉ XIV, dưới thời Tạo Ngần, Mường Muổi đã trở thành
trung tâm thống nhất bộ tộc người Thái ở phía Tây, quy tụ được cả một vùng
dân cư rộng lớn với nhiều tộc người khác nhau về ngôn ngữ, phong tục tập quán
về với chính quyền phong kiến trung ương tập quyền". Sau này cho dù xã hội
Thái đã trải qua những năm tháng bị phong kiến, đế quốc chia rẽ... nhưng lịch sử
người Thái ở đây vẫn phát triển thành một khối thống nhất. Đó là một nhóm địa
phương của một tộc người thiểu số thuộc đại gia đình dân tộc Việt Nam, có sắc
thái riêng nằm trong sắc thái chung của dân tộc Việt Nam.
13
1.2.2. Dân số và tình hình phân bố
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, được cấu thành bởi 54 dân tộc với
54 nền văn hóa khác nhau. Trong đó, cộng đồng dân tộc Thái được coi là một
thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo Tổng điều
tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có dân số 1.550.423
Hoá và đến Nghệ An định cư cách đây hai, ba trăm năm. Nhóm này có nhiều
đặc điểm gần gũi với nhóm Thái Yên Châu (Sơn La) và chịu ảnh hưởng của văn
hoá Lào.
Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng ngoài hai nhóm Thái đen và
Thái trắng còn có nhóm Thái đỏ (gồm nhiều nhóm khác nhau) cư trú ở một số
huyện như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hoà Bình) và một số huyện miền núi
khác như Bá Thước (Thanh Hoá), Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tương
Dương (Nghệ An). Tuy nhiên, quan điểm này đến nay vẫn còn gây nhiều tranh
14
cãi và còn cần thêm các bằng chứng nghiên cứu để chứng minh. Hầu hết người
ta vẫn thống nhất rằng dân tộc Thái được chia thành hai nhóm ngành cơ bản là
Thái đen và Thái trắng.
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội
1.2.3.1. Đặc điểm kinh tế
So với các dân tộc thiểu số khác, có thể nói người Thái di cư vào Việt
Nam từ khá sớm. Chính vì vậy, họ cư trú đa số ở địa hình thung lũng ven sông,
suối và đồng bằng lòng chảo, tiêu biểu như cánh đồng Mường Thanh (Điện
Biên), Mường Lò (Văn Chấn - Yên Bái), Mường Than (Than Uyên - Lai Châu),
Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La). Với đặc điểm cư trú đó, canh tác ruộng lúa
nước ở dân tộc Thái đã trở thành truyền thống từ lâu đời, là một nét văn hóa đặc
trưng.
Ruộng lúa của dân tộc Thái có hai loại: loại thứ nhất gọi là ruộng vỡ
hoang "na tí", là loại ruộng của những người mới vỡ hoang. Loại ruộng này nói
chung nhỏ hẹp, nằm rải rác ở vùng đất dốc hoặc ở ven suối khi được người dân
tự khai phá đào bờ, khoanh thửa, san đất cho bằng phẳng và cày bừa thành
ruộng để cấy lúa. Loại thứ hai đưuọc gọi là ruộng toàn mường "ná hang
mướng". Đây là loại ruộng công chiếm toàn bộ ruộng trong các châu mường.
Loại ruộng toàn mường đưuọc hiểu theo nghĩa sở hữu đất đai, là ruộng của cả
mương đắp đập, dẫn nước qua chướng ngại, đặt máng trên cánh đồng). Đặc biệt
họ còn biết lợi dụng sức nước dựng hệ thống cây cọn quay để đưa nước từ sông
suối lên đồng. Đây đưuọc coi là điểm nổi bật của người Thái trong quá trình sản
xuất ruộng nước so với các dân tộc thiểu số khác trong cả nước.
Mương là đường khai dẫn nước vào ruộng. Nói về việc đào mương,
người ta dễ thấy rằng ở người Thái, với trình độ kĩ thuật thủ công như trước đây,
đã đạt được thành tựu đáng kể. Có những con mương dài ngót chục cây số vắt
qua triền núi đá hoặc uốn mình men theo đường khúc khuỷu của chân đèo đầy
chướng ngại dường như là điều không dễ dàng, thế mà cha ông họ đã làm được
để đưa nguồn nước từ xa đổ vào ruộng. Trong tay họ lúc đó chỉ có con dao với
lưỡi mài bằng sắt tra cán gỗ, cùng với sự hiểu biết theo kinh nghiệm về nguyên
tắc đòn bẩy, về lực tác động... thế mà họ đã thi công được các công trình về
mương. Ngày nay do sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật hệ thống mương máng đã
đưuộc bê tông hóa, từ dòng suối xa xa, người ta xây kè mương dẫn nước về
ruộng đảm bảo tưới tiêu kịp thời. Tỉnh Sơn La hiện nay, 100% hệ thống mương
phai đã được bê tông hóa. Đây là sự tiến bộ kĩ thuật góp phần làm tăng năng
suất lao động đưa năng suất từ 3 - 4 tấn/ha lên 8 - 10 tấn/ha/vụ.
Phai là một loại đập ngăn suối do người Thái dựng bằng gỗ, tre, nứa và
đất để dâng nước đổ vào mương, chảy tới ruộng. Phai quyết định lượng nước
trong mương. Phai vững thì mương có nước tưới cho ruộng và mùa màng đảm
bảo thu hoạch tốt. Ngược lại, phai vỡ, mương, ruộng khô mùa màng thất bát. Vì
vậy, người Thái có câu "...phai vỡ như cha chết" để nói lên tầm quan trọng của
phai trong quá trình canh tác nông nghiệp ruộng nước. Ưu điểm nổi bật của
phai là: lực nước càng đẩy mạnh sẽ càng làm tăng thêm sức nén chặt các tầng
phai xuống và phai càng bám vào đáy sông suối. Như vậy trong lúc chưa biết
dùng đến xi măng cốt thép để xây móng thì việc ken đập toàn bằng gỗ, tre theo
kiểu phai là một thành tựu to lớn của hệ thống thủy lợi Thái. Phai cũng như
mương là một trong những phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho việc làm
ruộng nước. Bởi vậy tập quán của người Thái quy định mọi thành viên trong
mường đều phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ mương phai. Nghĩa vụ đắp
khổng lồ. Bởi vậy, nhiều ruộng, nhiều bản lẽ ra có nhiều nước để dùng, để tưới
mà không có. Cũng vì vậy mà có nhiều bản hoặc ruộng mang tên liên quan đến
vấn đề khan nước như "bản phạ" (bản trời), "bản na lạnh" (bản ruộng hạn), "na
hâu thả" (thửa ruộng chờ)... Tuy nhiên chính nhờ có những biện pháp thủy lợi
thô sơ này đã góp phần ổn định đời sống của cư dân người Thái. Cùng với việc
phát triển nông nghiệp ruộng lúa nước, người Thái dần ổn định nơi cư trú, lập
bản, dựng mường và phát triển thành "mười sáu châu Thái" hùng mạnh.
Cùng với làm ruộng nước, canh tác nương rẫy cũng là một nghề quan
trọng, có nhiều tác dụng trong đời sống xưa nay của người Thái. Khác với ruộng
chỉ độc canh cây lúa nước thì trên nương cho phép người ta mở rộng việc trồng
trọt, có thể xen canh các loại cây trồng rất tốt, trồng được cả lúa cạn và các loại
cây hoa màu khác như ngô, sắn, khoai, lạc, vừng... đặc biệt là trồng bông để giải
quyết vấn đề mặc của đồng bào. Đây được xem là lợi thế của việc làm nương cổ
truyền. Chính nhờ lợi thế đó mà đại bộ phận nông dân đã định canh, định cư với
việc làm ruộng và thực hiện việc luân canh trên nương để tăng gia thêm của cải
vật chất. Nương và ruộng do đó trở thành hai đối tượng lao động của cư dân
Thái trong lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất nông nghiệp.
Nương của người Thái có nhiều loại: nương dốc, nương bằng, nương một
vụ, nương hai vụ, nương lúa, nương ngô, nương bông... Song nếu rút lại phân
theo loại hình kinh tế thì chỉ có thể có hai loại chính: dùng cày trên đất khô vì
phải dùng đến sức kéo của đại gia súc như trâu và loại khá phổ biến hơn vẫn là
nương dùng cuốc hoặc dùng tay. Theo lối làm ăn của người Thái xưa có những
loại nương chuyên canh đồng thời xen canh như nương lúc thường trồng xen
đậu, bầu, bí; nương bông trồng xen dưa; nương kê trồng xen vừng và dành một
khoảng để trồng lạc; ngoài ra còn có nương sắn trồng xen ngô gối vụ... Hiện
nay, nương của người Thái chủ yếu trồng ngô, khoai, sắn, cây màu, bí, khoai
sọ... và được trồng theo thời vụ, đúng kĩ thuật, gieo trồng, làm cỏ, thu hoạch,
phòng bệnh theo kĩ thuật mới. Việc thu hoạch sản phẩm trên nương vẫn theo
phương pháp thủ công, dựa vào sức người là chính, tuy nhiên các khâu sơ chế
17
cả tỉnh đã có 698,7 ha, năm 2012 là 1.200 ha với bình quân gần 1 ha/hộ. Cà phê
của người Thái Sơn La được trồng chủ yếu tại các địa phương Thuận Châu,
thành phố Sơn La và Mai Sơn. Đây là ba huyện trong tỉnh có lượng cà phê lớn
nhất và được Hội cà phê Việt Nam đánh giá là sản phẩm có chất lượng và ngon.
Về kinh tế, cà phê là loại cây công nghiệp có giá trị cao nhất trong những năm
gần đây.
Có thể nhận thấy, người Thái ngày nay đã biết cải tạo vườn tạp thành
vườn thâm canh, có tác động khoa học kĩ thuật và tạo được nhiều loại vườn có
giá trị kinh tế như vườn rau chuyên canh, vườn cây ăn quả, vườn đồi cà phê. Các
loại vườn mới đã có tác động tốt trong việc nâng cao đời sống và thu nhập cho
đồng bào Thái nhưng không phá vỡ tập quán truyền thống văn hóa dân tộc.
Nghề thủ công của người Thái rất phong phú, phát triển đạt trình độ cao.
Các nghề thủ công truyền thống phải kể đến đó là nghề dệt, nghề đan lát và một
số nghề thủ công khác đã tồn tại trong truyền thống, tồn tại hiện tại và có những
phát triển ở giai đoạn tiếp theo. Phổ biến trong các gia đình người Thái xưa kia
là nghề đan lát mây tre để tạo ra các sản phẩm thủ công sử dụng trong cuộc sống
18
hàng ngày như nong, nia, dần, sàng, mặt bàn, mặt ghế… Ngày nay, dưới tác
động của khoa học kĩ thuật làm tăng năng suất, tăng lao động cũng đã tác động
làm thay đổi nghề đan lát của bản Thái. Hiện chỉ còn một số cụ già trong bản
còn biết đan lát một số đồ dùng trong gia đình như đan ép khảu, đan ghế mây,
đan mâm, ấp, xá… đồng thời nhiều sản phẩm đan lát thủ công truyền thống
trong các gia đình cũng dần được thay thế bằng các sản phẩm công nghiệp khác
như túi nhựa, túi ni lông, bao tải… được mua từ chợ về hoặc cái bem trước đây
nay đã được thay thế bằng những hòm, những tủ đựng rất đẹp mắt.
Nghề dệt cũng là một nghề thủ công truyền thống và đạt đến trình độ phát
triển cao cảu người Thái. Nghề dệt gắn liền với người phụ nữ Thái. Tục ngữ
Thái có câu “xấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay đã thành hoa lá”. Nếp
dụng khoa học kĩ thuật vào quá trình sản xuất, tích cực tham gia vào nền kinh tế
thị trường, mở rộng các mối quan hệ giao thương hàng hoá với các vùng miền
trong cả nước và các dân tộc lân cận trong miền. Kinh tế hộ gia đình nói riêng
19
và kinh tế của cộng đồng người Thái nói chung từng bước phát triển, đảm bảo
cho đời sống người dân ngày một nâng cao.
1.2.3.2. Đặc điểm xã hội.
Người Thái là tộc người có thiết chế xã hội khá phát triển trong xã hội
truyền thống. Cộng đồng người Thái trong xã hội cổ truyền được tổ chức từ gia
đình – dòng họ - bản – mường (chiềng) – châu mường (chiềng). Đó là mô hình
tổ chức xã hội đạt trình độ khá cao mà không phải dân tộc nào ở nước ta trong
xã hội truyền thống cũng có.
Thiết chế xã hội đầu tiên phải kể đến đó là gia đình, trong xã hội của
người Thái hôn nhân theo kiểu phụ hệ, nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân là
ngoại hôn dòng họ và hôn nhân một vợ một chồng bền vững. Gia đình của người
Thái trước năm 1954 tồn tại phổ biến hình thái tàn dư của chế độ đại gia đình –
nhiều thế hệ chung sống trong một ngôi nhà sàn lớn, làm chung, ăn chung… Sau
năm 1954 đến nay gia đình cộng đồng người Thái chủ yếu là gia đình hạt nhân (
một vợ một chồng). Cơ cấu, sự vận hành gia đình của người Thái thể hiện sự
bình đẳng, tôn trọng nhau giữa các thành viên. Phụ nữ Thái trong gia đình được
tôn trọng và chủ yếu làm các công việc là nội trợ và sản xuất. Nam giới tham gia
các công tác xã hội nhiều hơn. Có thể nói hôn nhân và gia đình của người Thái
đã có sự chuyển đổi theo chế độ và theo pháp luật mới, đảm bảo sự hội nhập và
tồn tại hài hòa giữ yếu tố mới và bản sắc tộc người.
Thiết chế xã hội thứ hai cần đề cập tới là quan hệ dòng họ. Dòng họ của
người Thái cũng mang yếu tố gia đình lớn. Dòng họ là tập hợp người theo quan
hệ dòng máu và cùng ý thức về cùng một gốc tổ tiên trước đây. Đến nay dòng
họ của người Thái vẫn tồn tại với phương thức là tính cố kết cộng đồng bền
đất núi rừng để phục vụ cho việc làm nương rẫy, khai thác những sản vật từ
thiên nhiên như măng, nấm, rau, quả…Ngoài ra rừng còn đi vào cuộc sống tâm
linh. Theo tín ngưỡng cổ truyền thì bản truyền thống của người Thái bao giờ
cũng có hai khu rừng hoang được mang tên “rừng kiêng” (đông căm) hay “rừng
ma” (đông fi) và “rừng tha ma” (đông pá heo). Rừng ma là nơi diễn ra các thủ
tục tang lễ: lập dàn và thiêu xác của người Thái đen và là nơi chôn cất của người
Thái trắng, làm nhà mồ…và không ai dám đến chặt phá khu rừng này. Rừng ma
cửa áo (đông fi tu xửa) là nơi dành cho các loại ma tự nhiên của núi rừng, khe và
linh hồn đất bản trú ngụ. Đây là rừng cây xanh cổ thụ đầy huyền bí, không ai
dám chặt phá để hàng năm bản tiến hành lễ hội gọi là cúng bản (xên bản). Có
thể nói khi nghiên cứu về văn hóa Thái không thể không nói về những thành tố
trên, những khu rừng cấm của bản Thái truyền thống chính là dấu ấn của một
dân tộc. Phạm vi đất bản còn có đoạn sông, khúc suối, khe lạch. Sông, suối là
đối tượng đánh bắt thủy sản và hái lượm - nguồn thực phẩm chính trong cơ cấu
bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình ở bản. Trước đây các quy định trong luật tục
Thái có quy ước cấm kỵ và giữ gìn hệ sinh thái góp phần vào việc bảo vệ môi
trường sống.
Bản là đơn vị dân cư có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp cộng đồng xã hội
mang màu sắc dân tộc. Theo truyền thống vùng Thái ở Tây Bắc thì ruộng đất là
của bản mường, cá nhân không có quyền tư hữu mà chỉ được sử dụng để cày cấy
thu hoạch. Bản thừa hành luật lệ của mường, đứng trực tiếp tổ chức, phân phối
và điều chỉnh các thửa ruộng cho từng nóc nhà. Với người Thái bản không chỉ là
chốn quê hương mà còn là nơi tổ chức quản lý ruộng đất. Bản còn là đơn vị
quản lý kinh tế - xã hội dưới cấp Mường trước đây và ngày nay là xã, huyện,
tỉnh. Theo truyền thống cổ truyền thì ở cấp bản có hai chức dịch. Thứ nhất,
người đứng đầu bản gọi là “quan” nếu là người thuộc các họ ngoài quý tộc và
gọi là “tao” nếu là người thuộc họ quý tộc. Thứ hai, người đứng làm vai giúp
việc gọi là “chá”, chức dịch này chỉ dành riêng cho những thành phần ngoài
quý tộc. Những vị đứng đầu bản thường cũng là người đứng đầu một dòng họ
lớn trong bản nên thường được bộ máy mường bổ nhiệm theo lệ cha truyền con
“Bô lão toàn mường” (Thảu ké hang mương) do chức ông xen (pằn) đứng đầu.
Việc phân đẳng cấp trong bộ máy mường mang tính phân chia quyền lực theo
truyền thống Thái. Theo tập quán pháp, người đứng đầu mường về già không
đảm nhiệm được công việc nữa thì phải tiến cử con trai đầu của mình ra trước
bô lão toàn mường để họ xem xét và chấp thuận, nếu vì lý do nào đó không
được chấp thuận thì buộc phải tiến cử người khác trong họ của mình. Trong
trường hợp này bô lão toàn mường, đứng đầu là ông xen chỉ có quyền đề nghị
cựu thủ lĩnh tiến cử, không được phép vượt quyền để chỉ định người trong quý
tộc ra để xem xét. Tục này được tóm tắt trong thành ngữ: “đổi bậc thang, thay
chỗ ngồi” (piến khẳn đay cay ti năng). Trường hợp thủ lĩnh mường đương đảm
nhiệm chức vụ vì lý do nào đó bô lão toàn mường không tín nhiệm thì có quyền
bãi miễn và tiến cử người trong dòng quý tộc khác thay thế. Tập tục này được
thể hiện trong câu vè: “bô lão không tin; cánh phải, cánh trái không thuận”
(thảu ké báu ha; xại khoa báu xú). Do vẫn giữ truyền thống quyền lực bô lão
toàn mường như thế nên tập tục cha truyền con nối trong dòng quý tộc ở các
mường Thái chưa thực sự chặt chẽ. Chức năng của Bô lão toàn mường chỉ được
sử dụng quyền lực của một tổ chức hội đồng, không có quyền lực của một chức
trách cá nhân. Đó cũng là một đặc trưng của tổ chức chính quyền cấp mường.
Có thể nói thiết chế xã hội trong xã hội Thái truyền thống là một hệ thống
khá chặt chẽ, thiết chế này lấy gia đình, dòng họ làm nền tảng, các dòng họ quý
tộc được đề cao. Hệ thống chính quyền theo thứ tự từ trên xuống dưới, đi cùng
với nó là các quy định, tục lệ, luật lệ buộc con người phải tuân theo.
22
1.2.3.3. Đặc điểm văn hóa
Dân tộc Thái là một tộc người có vốn văn hóa, văn nghệ dân gian rất
phong phú. Văn nghệ dân gian Thái nói chung và ở Sơn La nói riêng minh
chứng cho sức sống mạnh mẽ của cộng đồng, tạo nên ấn tượng quan trọng về
áo cánh ngắn, xẻ ngực, quần xẻ đũng. Áo là loại cổ tròn, không cầu vai, hai túi
dưới hoặc trước cài cúc vải hoặc cúc xương. Đặc điểm của áo cánh nam giới
vùng Tây Bắc không phải là lối cắt may mà là ở màu sắc đa dạng của loại vải cổ
truyền do cộng đồng sáng tạo nên như màu chàm, cà phê sữa,... Trong các dịp lễ
tết, hội hè hoặc tang lễ, cả nam giới và nữ giới người Thái đều có những trang
phục đặc trưng riêng.
Về cưới hỏi: Trai gái người Thái đến tuổi cập kê được tự do tìm hiểu, yêu
đương. Sau khi trai gái cùng nhau ước hẹn, chàng trai sẽ về nhà thưa lại với bố
mẹ và cùng bố mẹ bàn bạc chuẩn bị cho những ngày cưới xin sắp tới. Công việc
cưới cin của người Thái cũng trải qua nhiều thủ tục và nghi lễ khác nhau bao
23
gồm: Lễ dạm tiếng, lễ dạm hỏi, lễ xin cưới và lễ cưới. Tuy nhiên, cũng như
nhiều dân tộc thiểu số khác ở nước ta, các chàng trai Thái để đưa được vợ về
nhà đều phải trải qua một thời kì hệ trọng - đó là thời kì xin cưới (hay còn gọi là
ở rể) kéo dài từ 1 đến 3 năm. Thậm chí có những trường hợp thời gian thử thách
còn có thể kéo dài hơn nữa từ 5 đến 8 năm.
Về ma chay: Đồng bào Thái quan niệm, chết là tiếp tục sống ở thế giới
bên kia. Vì vậy, đám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời".
Văn hóa ẩm thực của người Thái cũng rất phong phú và đang dạng.
1.2.4. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế
của tỉnh Sơn La. Nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' Đông,
cách Hà Nội 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận
Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc
lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố Sơn La với thành phố Điện Biên Phủ và
thành phố Hòa Bình.
Với tổng diện tích tự nhiên 32.493 km², dân số 98.751 người, là nơi hội tụ
của 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,4%; dân
Thượng Thiên, Huổi Hin, xã Chiềng Ngần, hang bản Tông, xã Chiềng Xôm,
quần thể hang động tại Khau Pha và hệ thống các núi đá cao… môi trường khí
hậu trong lành, mát mẻ là điểm du lịch lý tưởng cho du khách trong và ngoài
nước đến với thành phố Sơn La. Bên cạnh đó, thành phố Sơn La cũng là nơi tập
trung nhiều các di tích lịch sử nổi tiếng đã được công nhận xếp hạng cấp Quốc
gia, cấp tỉnh như: Khu di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, Bảo tàng tỉnh Sơn La; Di
tích lịch sử cây Đa bản Hẹo; Di tích lịch sử - văn hoá Văn Bia Quế Lâm Ngự
Chế - Đền thờ vua Lê Thái Tông; Di tích lịch sử Cầu Trắng…
Ngoài các di tích lịch sử thành phố Sơn La còn có nét văn hóa đặc trưng,
đặc biệt độc đáo, riêng có của người dân tộc Thái. Nét văn hóa độc đáo được lưu
giữ, lưu truyền trong đời sống sinh hoạt văn hóa của cộng đồng của đồng bào
qua các làn điệu dân ca, dân vũ, như Hát khắp của dân tộc Thái, các điệu xòe
Thái, trang phục dân tộc, các loại nhạc cụ dân tộc... Ngoài những nét văn hóa
độc đáo của người dân tộc Thái thành phố Sơn La còn có 11 dân tộc anh em
khác cùng sinh sống đã tạo nên nét văn hóa đa sắc mầu của các dân tộc, mỗi dân
tộc tạo nên một loài hoa trong vườn hoa đa sắc màu của thành phố Sơn La.
Thành phố Sơn La hiện nay có tới 280 đội văn nghệ quần chúng hoạt động rất
có hiệu quả đây là một trong những thế mạnh để phát triển du lịch thành phố
Sơn La. Ngoài ra Sơn La còn có nét văn hóa đặc trưng riêng của người Thái
trong cách ẩm thực với các món ăn ngon, để lại ấn tượng trong lòng du khách
như: Nộm da trâu, Gỏi, Lạp, gà nướng, cá pỉnh tộp, cơm lam, nộm các loại rau
rừng, chẳm chéo... Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú
thành phố Sơn La có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch đặc thù như: Du
lịch sinh thái, tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, dã ngoại, thể thao
mạo hiểm, nghỉ dưỡng, ẩm thực, du lịch văn hóa bản địa…
Có thể thấy, trong cơ cấu dân số của thành phố, người Thái là cộng đồng
dân tộc chiếm số lượng đa số trên địa bàn. Theo thống kê của Ban dân tộc tỉnh
Sơn La, năm 2015 người Thái trong toàn tỉnh có số lượng là 889.680 người
trong đó người Thái thành phố Sơn La chiếm 52.742 người (chủ yếu là người
Thái đen). Trước đây, người Thái trênđịa bàn thành phố chủ yếu sống bằng nghề