tìm hiểu các từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của người dao đỏ - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG THỊ HIỀN

TÌM HIỂU CÁC TỪ NGỮ CHỈ TRANG PHỤC
TRUYỀN THỐNG CỦA NGƢỜI DAO ĐỎ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ


Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Tạ Văn Thông

THÁI NGUYÊN - 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii
LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Tạ Văn Thông, người đã
tận tình hướng dẫn tôi viết luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau
Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện
Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã giảng dạy và
giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.

Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ TIẾNG DAO,
NGƢỜI DAO 8
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ NGÔN NGỮ HỌC VÀ VĂN HOÁ HỌC 8
1.1.1. Từ 8
1.1.2. Cụm từ và đoản ngữ 9
1.1.3. Nghĩa và trường nghĩa 11
1.1.4. Văn hóa và ngôn ngữ trong văn hóa 13
1.1.5. TRANG PHỤC VÀ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG 18
1.2. KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ TIẾNG DAO 20
1.2.1. Khái quát về người Dao 20
1.2.2. Một số đặc điểm văn hoá của người Dao 21
1.2.3. Khái quát về tiếng Dao 24
TIỂU KẾT 26
Chƣơng 2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ
NGỮ CHỈ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ 27
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÁC TỪ NGỮ CHỈ TRANG PHỤC TRUYỀN
THỐNG CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ 27
2.2. ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ TRANG
PHỤC TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DAO ĐỎ 29
2.3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA CÁC DANH NGỮ CHỈ TRANG
PHỤC TRUYỀN THỐNG 31
2.4. CÁC LOẠI TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG VÀ CÁC CHI
TIẾT TRANG PHỤC QUA CÁC TỪ NGỮ 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



1

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Trong ngôn ngữ học, việc tìm hiểu một bộ phận từ ngữ phản ánh
các sự vật hiện tượng thuộc vốn văn hoá truyền thống của một cộng đồng là
một hướng nghiên cứu đáng chú ý. Qua các từ ngữ này, với những đặc điểm
về hình thức và ngữ nghĩa của chúng, có thể hình dung được cách người bản
ngữ mô hình hoá trong nhận thức các sự kiện nói trên, đồng thời cho thấy
phần nào sự đánh giá, cách ứng xử… trong quan hệ với thiên nhiên và xã hội
của họ, bằng cách đặt tên cho các sự vật hiện tượng này. Đây là một hướng
nghiên cứu liên ngành (Ngôn ngữ học – Dân tộc học – Tâm lí học…) rất thú
vị. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam những nghiên cứu như vậy vẫn chưa có
nhiều thành tựu, đặc biệt trong tìm hiểu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Đối
với tiếng Dao, cũng chưa có nghiên cứu nào theo hướng này.
1.2. Dân tộc Dao là một trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Theo
thống kê năm 2009, dân tộc này có 751 067 người (đứng thứ 9 trong số các
dân tộc ở Việt Nam), tập trung ở các tỉnh thuộc biên giới Việt – Trung, Việt –
Lào và một số tỉnh trung du, miền núi và ven biển miền Bắc. Cũng như nhiều
dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, người Dao có một vốn văn hoá truyền
thống rất phong phú giàu bản sắc, nhưng đang đứng trước nguy cơ bị mai một
trước sự tiếp biến văn hoá diễn ra ồ ạt và quá trình toàn cầu hoá hiện nay.
Người Dao có nhiều nhóm địa phương (còn gọi là “ngành” Dao), là:
Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Tiền, Dao Thanh Y, Dao Tuyển, Dao
Đỏ Tất cả các nhóm địa phương này đều được gọi tên căn cứ vào các đặc
điểm (kiểu dáng, màu sắc ) trang phục hoặc loại trang phục đặc trưng (ở các
nhóm khác không có). Như vậy, rõ ràng trang phục là một nét văn hoá quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


3
góp phần tìm hiểu những truyền thống tốt đẹp và khả năng sáng tạo to lớn của
người Dao.
Tiếp theo, tác giả Nguyễn Quang Vinh trong cuốn “Một số vấn đề
người Dao Quảng Ninh” (1998) đã tập trung tìm hiểu những vấn đề chung
của người Dao ở nước ta và một số vấn đề cụ thể người Dao Quảng Ninh. Tác
phẩm đã miêu tả cuộc sống, tìm hiểu không gian sinh tồn của người Dao, chỉ
ra trong môi trường tự nhiên ấy, người Dao có cách ứng xử với tự nhiên ra
sao, có được những cách thức, phương pháp canh tác và sinh hoạt ra sao,
người Dao đã có những cách quản lý kinh tế - xã hội đặc thù thế nào… Bên
cạnh đó, cuốn sách là kết quả của quá trình sưu tầm tư liệu, kế thừa các công
trình nghiên cứu liên quan. Đặc biệt là trong sách có các tư liệu về vốn sống
thực tế, khảo sát thực tế về đồng bào Dao Quảng Ninh. Cuốn sách vừa có
phần miêu tả về văn hóa của dân tộc Dao, vừa đề cập đến các vấn đề tổng kết
thực tiễn, những vấn đề mà bộ đội biên phòng ở tỉnh Quảng Ninh đã rút ra
được trong quá trình hoạt động bảo vệ biên cương.
Về mặt ngôn ngữ học, có lẽ người Việt Nam đầu tiên đề cập đến tiếng
Dao từ những năm 1972 là Trương Văn Sinh, với bài viết: “Vài ý kiến bước
đầu về tiếng Dao”và “Vài ý kiến về hệ thống âm vị tiếng Dao”. Tác giả này
đã miêu tả tương đối chi tiết về mặt ngữ âm - âm vị học và đưa ra vài ý kiến
bước đầu về tiếng Dao. Tuy nhiên, ngoài hai bài viết cô đọng của ông, giới
học thuật thời ấy ở Việt Nam không biết gì hơn về ngôn ngữ của một dân tộc
với những nhóm địa phương quá nhiều và bản thân dân tộc này cũng quá đa
dạng về mặt phương ngữ.
Tiếp theo, phải kể đến các tác giả Đoàn Thiện Thuật – Mai Ngọc Chừ
với công trình Tiếng Dao xuất bản năm 1992. Tác phẩm này đã đề cập đến tất
cả các phương diện ngôn ngữ học của tiếng Dao: cấu trúc ngữ âm - âm vị học,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Tiền” trên tạp chí Ngôn ngữ, số 5 /2002, tác giả Nguyễn Hữu Hoành lại đề
cập đến khía cạnh khác của ngôn ngữ người Dao: cách xưng hô bằng tiếng
Dao trong đời sống, giao tiếp và sinh hoạt hằng ngày của họ
Qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu trên, có thể thấy các nhà
khoa học Việt Nam đã có một quá trình tìm hiểu về người Dao và tiếng Dao.
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống tìm hiểu về
từ vựng, đặc biệt về các từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của dân tộc Dao.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn có mục đích là tìm hiểu đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa của
các từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của người Dao thuộc nhóm Dao Đỏ. Qua
đó luận văn cố gắng chỉ ra được một số nét bản sắc văn hoá được phản ánh trong
vốn từ (xét về một phương diện - trang phục truyền thống), nhằm gìn giữ và phát
triển vốn ngôn ngữ và văn hoá nói chung của dân tộc Dao.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung thu thập và tìm hiểu các từ ngữ chỉ trang
phục truyền thống (với sự đa dạng nhiều kiểu loại) của người Dao Đỏ ở thôn
Nà Cà, xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (là quê hương của tác
giả).
Việc nghiên cứu trong luận văn được dựa trên tư liệu điền dã, đồng
thời từ các công trình nghiên cứu về người Dao và từ những hình ảnh, hiện
vật trong các bảo tàng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu các đặc điểm hình thức, ngữ nghĩa
của các từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của dân tộc Dao, đồng thời chỉ ra
một số đặc điểm văn hoá của người Dao qua các từ ngữ này.

Các kết quả của luận văn có thể:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
Giúp cho việc thu thập tư liệu và nghiên cứu tiếng Dao ở Việt Nam,
trước hết là ở ngành Dao Đỏ và sau đó là các ngành Dao khác.
Giúp cho việc sưu tầm và tìm hiểu các đặc trưng văn hoá của người Dao ở
Việt Nam, trước hết về một khía cạnh đó là trang phục. Giúp khơi dậy và tăng
thêm lòng tự hào và yêu quý ở người Dao đối với những nét đặc sắc trong văn
hoá của dân tộc mình.
Giúp cho việc học tập tiếng Dao của học sinh người Dao và của cán bộ
các dân tộc khác đang công tác và sinh sống ở vùng Dao.
7. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Luận văn được hình dung trong khoảng 100 trang. Ngoài phần Mở
đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có các chương sau:
Chƣơng 1. Cơ sở lí thuyết và khái quát về người Dao, tiếng Dao
Chƣơng 2. Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ trang
phục truyền thống của người Dao Đỏ
Chƣơng 3. Một số văn hóa của người Dao Đỏ được phản ánh qua các
từ ngữ chỉ trang phục truyền thống.
Phần Phụ lục gồm:
Phụ lục 1: Bảng từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của người Dao Đỏ
Phụ luc 2: Một số hình ảnh về trang phục truyền thống của người Dao
Đỏ.
trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định,
lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [38, tr 333].
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đưa ra khái niệm “Từ là đơn vị
ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa hoàn chỉnh và cấu tạo ổn định, dùng để đặt câu”.
Với mục đích nghiên cứu từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của dân
tộc Dao Đỏ, chúng tôi sử dụng định nghĩa về từ của cuốn Cơ sở ngôn ngữ
học và tiếng Việt.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
“Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn
chỉnh có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời
nói để tạo câu.
Từ có thể có một âm tiết hoặc hai, ba âm trở lên” [7 , tr.141].
Qua các định nghĩa, có thể nhận thấy từ có những đặc điểm cơ bản, giúp
phân biệt nó với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như sau:
- Là một khối thống nhất hoàn chỉnh của hình thức và nội dung hay nói
cách khác, từ bao gồm hai mặt: âm thanh và ý nghĩa. Tính hoàn chỉnh và
thống nhất giữa hai mặt này giúp cho từ có khả năng hoạt động độc lập để tạo
câu theo những quy tắc kết hợp nhất định.
- Mang tính sẵn có, tồn tại độc lập: Chúng có thể tách ra khỏi câu vẫn có
ý nghĩa như vậy, chúng có thể được dùng để đặt câu khác.
- Có cấu trúc cố định - bắt buộc: Từ không thể chia nhỏ ra nữa mà vẫn
giữ nguyên ý nghĩa cũ. Hay nói cách khác, từ là đơn vị vó cấu trúc nội tại
tương đối vững chắc, ổn định, có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị
nhỏ hơn.
- Về mặt nội dung (mặt được biểu thị) từ là đơn vị có ý nghĩa biểu thị
các sự vật, hiện tượng… nhất định.
- Là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp kiến tạo nên lời nói.

Theo quan điểm của Nguyễn Kim Thản, khi xét cụm từ về mặt quan hệ cú
pháp, thì “cụm từ có ba loại: cụm từ đẳng lập (các thành tố có quan hệ bình đẳng
với nhau), cụm từ chính phụ (các thành tố có quan hệ chính phụ với nhau), cụm
từ chủ vị (các thành tố có quan hệ tường thuật với nhau)” [15, tr.159]. Đơn vị
ngữ pháp lớn hơn từ là tổ hợp từ còn gọi là “cụm từ”. Xét theo mối quan hệ giữa
các bộ phận cấu thành tổ hợp từ ngừơi ta phân biệt tổ hợp từ có quan hệ chủ vị,
tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng và tổ hợp từ có quan hệ chính phụ. Loại tổ hợp từ
thứ ba này ngừơi ta gọi là đoản ngữ hay ngữ. Tổ chức đoản ngữ thường có ba
phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau.
Theo từ loại của thành tố chính, người ta chia đoản ngữ tiếng Việt thành
các loại chính sau: danh ngữ, động ngữ, tính ngữ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
1.1.3. Nghĩa và trường nghĩa
Nghĩa là gì?
Từ bao gồm hai phương diện: vỏ âm thanh và nội dung cần biểu hiện,
nghĩa. Trong hai mặt của đơn vị ngôn ngữ này (biểu hiện và được biểu hiện,
hình thức và nội dung), nghĩa thuộc mặt thứ hai.
Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều cách hiểu về nghĩa của từ.
“Nghĩa” được xem là một khái niệm rất trừu tượng. Đó là cái có trong tất cả
các đơn vị ngôn ngữ bởi sự tồn tại của ngôn ngữ là nghĩa; không có nghĩa, sự
tồn tại của hình thức âm thanh là không có mục đích. Nhiều nhà nghiên cứu
có cùng quan điểm về “nghĩa” như sau: Hiện thực phản ánh vào trong nhận
thức, tạo nên một liên hệ thường trực với một hình thức âm thanh nhất định.
Sự phản ánh này được hiện thực hóa bằng ngôn ngữ. Mối liên hệ này được
hiểu là nghĩa.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Nghĩa của từ (cũng như các đơn vị
ngôn ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân đó. Hiểu

biết của mình mà còn có thể dựa vào trực giác tập thể của những ngừơi biên
soạn từ điển” [14, tr.112].
Các nhà nghiên đã xác định được nhiều trường thuộc vốn từ vựng của
một ngôn ngữ trong đó các trường nghĩa như: thời tiết, màu sắc, quan hệ thân
tộc, đồ dùng học tập, đồ dùng gia đình…
Nhiệm vụ của việc phân tích tìm hiểu các trường nghĩa là xác định tính
hệ thống của những quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố ở trong trường.
Trong các trường nghĩa quen thuộc, hệ thống các từ ngữ chỉ trang phục
truyền thống của người Dao là một trường nghĩa lớn, bao gồm toàn bộ các từ
ngữ được dùng để gọi tên các trang phục truyền thống của người dân tộc Dao
và các bộ phận của nó. Trường nghĩa từ ngữ chỉ trang phục truyền thống của
dân tộc Dao gồm các loại từ đơn, từ ghép và cụm từ chúng là hệ thống các từ
ngữ đồng nhất với nhau về mặt ngữ nghĩa: đều dùng để gọi tên cho trang phục.
Tác giả Đỗ Hữu Châu căn cứ vào quan điểm của F.de Sausure, trong
“Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”, đã xác định hai loại trường nghĩa dọc
(trường nghĩa trực tuyến). Trong đó, trường nghĩa dọc có hai loại trường
nghĩa: trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
1.1.4. Văn hóa và ngôn ngữ trong văn hóa
1.1.4.1 Văn hóa
“Văn hóa” là một khái niệm đã trở thành thông dụng trong nói năng
hàng ngày cũng như trong nghiên cứu khoa học. Nhưng định nghĩa văn hóa là
gì vẫn là vấn đề được quan tâm. Đã có rất nhiều khái niệm về “văn hóa”
được công bố.
Từ năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ, Alfred Kroeber và Clyde
Klukhohn, trong một nỗ lực tìm hiểu, đã công bố một công trình về những ý
đồ định nghĩa khái niệm “văn hóa” và những khái niệm gần gũi với nó trong

hóa là gì” bằng một số ý cơ bản theo cách tường giải như sau:
- Văn hóa là một hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người, do con
người làm nên. Vì vậy văn hóa là tiêu chuẩn, tiêu chí hiển nhiên khu biệt con
người động vật với con vật.
- Văn hóa là một sản phẩm đặc thù của xã hội loài người.
- Một hiện tượng văn hóa luôn tồn tại với những lí do riêng của nó.
- Thành tựu của nền văn hóa là con người. Văn hóa không phải là các
vật đơn thuần ta sờ thấy được một cách cụ thể. Hiện tượng văn hóa hiện diện
trước mặt ta, tương tự như thế giới được vật thể hóa, một thế giới được khúc
xạ rõ ràng.
Các nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới vừa có tính riêng biệt vừa
có sự giao thao với nhau.
Tác giả Trần Ngọc Thêm đưa ra định nghĩa “Văn hóa là hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tình thần so con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con ngừơi với môi trừơng
tự nhiên và xã hội” [28, tr. 10].
Đồng thời tác giả cũng đã nêu và phân tích ba đặc trưng của văn hóa là
tính hệ thống, tính giá trị và tính nhân sinh.
Như vậy, có thể hiểu “văn hóa” là bao gồm tất cả những sản phẩm do
con ngừơi tạo ra trong đời sống, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía
cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, có thể là tư tưởng, tục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
lệ, là các giá trị và các biểu hiện vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương
tiện , và đó cũng là ngôn ngữ của một dân tộc.
Tóm lại, “văn hóa” là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát
triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại
tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì bền vững và trật tự xã hội. Nó

tình bạn người trước Mọi biểu tượng đều chứa dấu hiệu bị đạp vỡ; ý nghĩa
của biểu tượng bộ lộc ra trong cái vừa gãy vỡ là nối kết những phần của nó
bị vỡ ra.
“Lịch sử của biểu tượng xác nhận mọi vật đều có thể mang giá trị biểu
tượng, dù là vật tự nhiên (đá, kim loại, cây cối, hoa quả, thú vật, suối, sông và
đại dương, núi và thung lũng, hành tinh lửa, sấm sét, ) hay là trừu tượng
(hình học, con số, nhịp điệu, ý tưởng, ”[49, tr. 23 – 24].
Biểu tượng văn hóa mang dấu ấn nền văn hóa, dấu ấn của dân tộc sản
sinh và sử dụng nó. Nếu biểu tượng của khoa học mang tính phổ quát trong
phạm vi nhân loại thì phần lớn biểu tượng văn hóa mang tính cộng đồng, tính
dân tộc. Có thể là một sự vật nhưng với mỗi nền văn hóa nó lại mang ý nghĩa
biểu tượng khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Mỗi nền văn hóa luôn mang
trong mình các hệ biểu tượng mang tính ổn định tương đối, lại chứa đựng một
tiềm năng biến đổi, có thể thay đổi hoặc bổ sung theo thời gian.
1.1.4.3. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Khi bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, tác giả Nguyễn Văn
Chiến trong cuốn Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội) đưa ra “ba định nghĩa cơ bản nghiên cứu mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và văn hóa” như sau:
Thứ nhất: Ta nói ngôn ngữ bình đẳng với văn hóa hay độc lập với văn
hóa bởi vì cả hai đều là sản phẩm con người lao động có tư duy. Đó là những
hiện tượng nhân loại. Thế nhưng ngôn ngữ lại chính là sản phẩm văn hóa của

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
nhân loại giống như tất cả những sản phẩm văn hóa khác. Mối qua hệ giữa
ngôn ngữ và văn hóa là mối quan hệ bao nhau.
Thứ hai: Ngôn ngữ là hiện tượng văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa, cho
nên tất cả những gì đặc tính, thuộc tính của văn hóa cũng đều tương tự như là

Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ là gì? Theo Từ điển tiếng Việt, ngôn ngữ là:
1. Hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà
những người trong cùng một cộng đồng cùng làm phương tiện để giao tiếp
với nhau.
2. Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo. Ngôn
ngữ điện ảnh.
3. Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất
riêng. Ngôn ngữ Nguyễn Du [48, tr. 1079].
Trong nhiều sách ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đều có quan điểm
chung, được khái quát ở một số điểm sau:
- Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt.
- Ngôn ngữ là một loại hệ thống các tín hiệu. Các tín hiệu ngôn ngữ đều
có hai mặt: Mặt biểu hiện là âm thanh. Mặt được biểu hiện gồm: các sự vật
mà từ làm tên gọi cho chúng và nội dung ý nghĩa, khái niệm về các sự vật
được gọi tên.
- Chức năng cơ bản của ngôn ngữ: là công cụ của giao tiếp, công cụ của
tư duy, là nhân tố cấu thành văn hóa và truyền tải nhiều hình thái văn hóa
1.1.5. TRANG PHỤC VÀ TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG
Theo cách hiểu thông thường, “trang phục” là đồ mặc, là những thứ
dùng để mặc, đeo, cài, gắn, ghép, đội, xỏ vào người, để che thân mình hoặc
để trang điểm. Tuy nhiên, người ta cũng thường dùng “trang phục” để chỉ các
vật dụng nói trên, khi chúng được dùng riêng, thể hiện tính đặc thù của một
nhóm xã hội nào đó.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
Trang phục truyền thống là loại trang phục có được trên cơ sở kế thừa
và cách tân những sáng tạo, kinh nghiệm của nhiều thế hệ trong một cộng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status