1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH GIA ĐÌNH CỦA NGƢỜI PÀ THẺN Ở XÃ HỒNG
QUANG, HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG:
TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ THANH
Bảng 2.1.
Ngƣời quyết định hôn nhân của ông (bà) trong xã hội truyền thống
41
Bảng 4.1.
Số thế hệ trong hộ gia đình của ngƣời Pà Thẻn ở xã Hồng Quang,
huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang
79
Bảng 4.2.
Mong muốn sống cùng ai khi về già?
80
Bảng 4.3.
Số ngƣời trong một hộ gia đình
83
Bảng 4.4.
Phân công lao động trong gia đình hiện nay
85
Bảng 4.5.
Ngƣời quyết định hôn nhân của thanh niên hiện nay
86
Bảng 4.6.
Quan niệm về sinh con trai và con gái ở ngƣời Pà Thẻn
90
Bảng 4.7.
Cơ cấu giới tính (nam/nữ) qua các cuộc tổng điều tra dân số
90
Bảng 4.8.
Mức độ quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái
95
4
Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang
15
1.3.1. Điều kiện tự nhiên, môi trƣờng vùng ngƣời Pà Thẻn cƣ trú
15
1.3.2. Tên gọi, nguồn gốc tộc ngƣời và dân số của ngƣời Pà Thẻn
17
1.3.3. Khái quát về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội tộc ngƣời
21
Chƣơng 2.
CẤU TRÚC, QUY MÔ, QUAN HỆ VÀ CHỨC NĂNG CỦA
GIA ĐÌNH
31
2.1.
Cấu trúc gia đình
31
2.2.
Quy mô gia đình
36
2.3.
Quan hệ gia đình
38
2.4.
Các chức năng cơ bản của gia đình
43
Chƣơng 3.
CÁC NGHI LỄ TRONG CHU KÌ ĐỜI NGƢỜI CỦA GIA ĐÌNH
52
97
4.2.
Nguyên nhân biến đổi
105
4.2.1. Tác động từ quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nƣớc
105
4.2.2. Tác động từ điều kiện kinh tế - xã hội
107
4.2.3. Tác động từ sự giao thoa văn hóa
108
4.3.
Một số vấn đề đặt ra hiện nay
110
Kết luận
114
Tài liệu tham khảo
117
Phụ lục
121
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập
toàn diện, sâu rộng. Quá trình đó tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội,
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã xác định một số câu hỏi
nghiên cứu chính và lấy đó làm cơ sở quy chiếu cho quá trình nghiên cứu thực địa,
thu thập thông tin cũng nhƣ phân tích số liệu. Những câu hỏi nghiên cứu đó là cơ
sở để xác định các nội dung nghiên cứu của luận văn, cụ thể nhƣ sau:
1. Gia đình truyền thống của người Pà Thẻn ở xã Hồng Quang, huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang? Đây là câu hỏi thuộc dạng câu hỏi mô tả, là cơ sở định
hƣớng trong quá trình nghiên cứu và khảo sát tại thực địa. Nội dung nghiên cứu
của câu hỏi này là nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản của gia đình truyền thống
ngƣời Pà Thẻn (quan niệm về gia đình, cấu trúc, quy mô, các quan hệ trong gia
đình, các chức năng của gia đình và các nghi lễ trong gia đình).
2. Gia đình người Pà Thẻn hiện nay đã biến đổi như thế nào so với gia đình
truyền thống? Là một câu hỏi thuộc dạng cấu trúc và so sánh, câu hỏi này nhằm
phân tích những biến đổi của gia đình của ngƣời Pà Thẻn trƣớc tác động của nhiều
yếu tố, trong đó trực tiếp là sự tác động từ biến đổi kinh tế - xã hội. Đây chính là
câu hỏi quan trọng nhất và là mục đích căn bản mà luận văn muốn hƣớng đến.
3. Những nhân tố nào tác động đến sự biến đổi gia đình của người Pà Thẻn
và quan niệm của chủ thể văn hóa trước sự biến đổi ấy? Đây là một câu hỏi thuộc
dạng cấu trúc, với mục đích tìm ra nguyên nhân và những nhân tố tác động đến gia
đình, dẫn đến sự biến đổi trong gia đình của ngƣời Pà Thẻn. Đồng thời, tìm hiểu
tâm tƣ, nguyện vọng, thái độ của ngƣời Pà Thẻn trƣớc những biến đổi trong gia
đình của họ.
3. Đối tƣợng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là gia đình ngƣời Pà Thẻn, bao gồm
những vấn đề cơ bản: quan niệm, cấu trúc, quy mô, quan hệ gia đình, chức năng và
các nghi lễ gia đình.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là gia đình truyền thống và những biến đổi
trong thời hiện đại, nên khung giới hạn truyền thống là trƣớc năm 1986 (gắn với
8
công cuộc đổi mới đất nƣớc). Tuy nhiên, biến đổi là một quá trình, nên niên đại
tôi đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc đối với các hộ gia đình Pà Thẻn tại xã
Hồng Quang và nhiều cuộc phỏng vấn ngẫu nhiên, phỏng vấn nhóm. Để đảm bảo
tính toàn diện và khách quan, chúng tôi đã chú trọng đến tính đại diện của ngƣời
cấp tin. Cụ thể, chúng tôi đã phỏng vấn các đối tƣợng: thầy cúng, trƣởng họ,
trƣởng thôn, những ngƣời làm công tác xã hội (phụ nữ, văn hóa), cán bộ y tế, cán
bộ chính quyền địa phƣơng và ngƣời dân tại xã Hồng Quang.
- Hồi cố: thông qua phỏng vấn hồi cố những ngƣời cao tuổi trong cộng đồng
nghiên cứu để tái hiện lại gia đình truyền thống của ngƣời Pà Thẻn và thu thập thông
tin đánh giá, nhận xét về những biến đổi của gia đình hiện đại. Phƣơng pháp hồi cố
đã đƣợc áp dụng kết hợp trong quá trình phỏng vấn với đối tƣợng là ngƣời già và
ngƣời trung tuổi.
- So sánh: trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng phƣơng pháp
so sánh giữa truyền thống và hiện đại để thấy đƣợc sự biến đổi của gia đình
ngƣời Pà Thẻn.
Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia nhằm bổ
sung các kiến thức còn thiếu sót trong quá trình triển khai thực hiện đề tài.
5. Nguồn tƣ liệu của luận văn
- Nguồn tƣ liệu chính của luận văn đƣợc thu thập qua các đợt điền dã dân
tộc học từ tháng 9/2011 đến tháng 3/2013. Thông qua phân tích, xử lý các số liệu
định lƣợng và định tính, chủ yếu qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm,
quan sát, điều tra xã hội học … với những ngƣời dân và các hộ gia đình tại địa bàn
nghiên cứu, đặc biệt là những ngƣời có uy tín và hiểu biết trong cộng đồng ngƣời
Pà Thẻn ở xã Hồng Quang.
- Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đƣợc công bố về gia đình và về
ngƣời Pà Thẻn có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn.
- Các nguồn tài liệu thống kê của Trung ƣơng và địa phƣơng liên quan đến
đề tài nghiên cứu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn đƣợc
chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố văn hóa truyền thống và vai trò của các
cộng đồng, dân tộc chủ thể trong sự lựa chọn và tiếp biến văn hóa. Khi nghiên cứu
về biến đổi văn hóa, trong đó có tiếp biến văn hóa - dùng để chỉ quá trình thay đổi
văn hóa diễn ra do sự tiếp xúc của hai hệ thống văn hóa độc lập nhau; sự tiếp xúc đó
làm tăng đặc tính của nền văn hóa này trong nền văn hóa kia. Tiếp biến gồm nhiều
quá trình khác nhau nhƣ: truyền bá, thích nghi, phản ứng lại, gồm nhiều kiểu tái tổ
chức văn hóa - xã hội sau quá trình tiếp xúc và sau cùng là “tan rã văn hóa”.
Lý thuyết biến đổi văn hóa đƣợc vận dụng trong luận văn để lý giải sự biến
đổi của các phong tục tập quán trong gia đình, những nhận thức về xã hội mới tác
động vào cơ cấu gia đình truyền thống tạo nên những văn hóa mang tính thích ứng
12
với biến đổi môi trƣờng tự nhiên - xã hội, sự biến đổi ấy xuất phát từ chính nội bộ
tộc ngƣời. Đó là sự lựa chọn mang tính chọn lọc nhằm bảo lƣu và phát triển văn
hóa tộc ngƣời mà cụ thể là gia đình truyền thống.
Một phƣơng pháp tiếp cận biến đổi văn hóa có ảnh hƣởng lớn trong nghiên
cứu nhân học là thuyết chức năng - cấu trúc do Malinowski (1884 - 1942) và
Radcliffe Brown (1881 - 1955) làm đại diện. Họ xem văn hóa nhƣ một cơ chế toàn
vẹn, bao gồm các thành phần, các bộ phận hay các sự vật, hiện tƣợng cấu thành, có
quan hệ với nhau, hợp thành một cơ cấu, trong đó mỗi bộ phận có một chức năng
nhất định. Nền văn hóa nào trong tiến trình phát triển cũng đều có thể tạo ra một hệ
thống cân bằng ổn định, trong đó mỗi bộ phận đều thực hiện chức năng của nó. Vì
thế, các xã hội và các nền văn hóa hòa nhập tƣơng đối tốt và ổn định.
Emily A.Schultz và Robert H.Lavenda đã đƣa ra những vấn đề cơ bản của
nghiên cứu nhân học về gia đình ở chƣơng 18 - Thân tộc và chƣơng 19 - Hôn nhân
và gia đình, trong cuốn Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh. Theo
cách tiếp cận này, vấn đề gia đình đƣợc nhìn nhận từ góc độ thực tế với mô hình
cấu trúc có tính đại diện, hệ thống thân tộc đƣợc đặt tên theo các xã hội đại biểu
cho các mô hình gốc của từng loại hình gia đình. Họ còn đƣa ra quan điểm về cấu
trúc gia đình với cách phân loại: gia đình hạt nhân, gia đình hạt nhân mở rộng và
ngƣời có gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan hệ thân thuộc. Đó
chính là mối quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa những ngƣời
anh (chị) em và họ hàng thân thuộc khác” [24,tr.56]. Các nhà xã hội học coi gia
đình “là một nhóm ngƣời, có quan hệ với nhau bởi hôn nhân, huyết thống hoặc
quan hệ nghĩa dƣỡng, có đặc trƣng giới tính qua quan hệ hôn nhân, cùng chung
sống, có ngân sách chung” [48,tr.38].
Luật hôn nhân và gia đình ở nƣớc ta quy định tại điều 8: Gia đình là tập
hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau
[40,tr.10]. Luận văn sử dụng khái niệm gia đình theo quan niệm của các nhà dân
tộc học và theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của nƣớc ta. Trong luận văn,
khái niệm gia đình với ý nghĩa dùng để chỉ một tập hợp các cá nhân sống chung
dƣới một mái nhà, tạo thành một đơn vị xã hội, có mối liên hệ dựa trên cơ sở của
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dƣỡng nhằm thực hiện các
14
chức năng cơ bản nhƣ: sinh đẻ, sản xuất, giáo dục, văn hóa…
Hộ gia đình
Khi nghiên cứu về gia đình, luận văn cũng lƣu ý phân biệt khái niệm gia
đình và hộ gia đình. Hộ gia đình đƣợc hiểu nhƣ một nhóm ngƣời sống chung một
mái nhà, có thể có quỹ chi chung. Hộ có thể gồm những ngƣời có quan hệ ruột thịt,
họ hàng hay bạn bè quen biết. Có trƣờng hợp là hộ độc thân sống một mình, có
trƣờng hợp hộ gồm hai, ba ngƣời phụ nữ hay nam giới hoặc ngƣời già ở chung với
nhau [36,tr.62]. Hộ gia đình thực chất là một phạm trù xã hội mang tính pháp lý
trong quản lý nhân khẩu của chính quyền địa phƣơng. Nhƣ vậy, khái niệm gia đình
thƣờng đề cập đến các mối quan hệ giữa các thành viên bên trong gia đình, còn
khái niệm hộ gia đình xem xét mối quan hệ giữa gia đình với Nhà nƣớc, xã hội.
Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, đƣợc
mọi ngƣời công nhận và tuân theo [46, tr.1216]. Phong tục sinh ra do nhu cầu cuộc
sống, phát triển và định hình theo sự định hình của xã hội, tạo nên nếp sống truyền
Những khái niệm cơ bản trên đây là khái niệm công cụ để luận văn tiếp cận,
lý giải và làm sáng tỏ vấn đề gia đình truyền thống và hiện đại của ngƣời Pà Thẻn.
1.2. Tổng quan nghiên cứu về gia đình và ngƣời Pà Thẻn
1.2.1. Những nghiên cứu về gia đình
Nghiên cứu về gia đình trên thế giới đã có một quá trình lâu dài với sự quan
tâm của rất nhiều học giả, nhƣng nghiên cứu gia đình dƣới góc độ dân tộc
học/nhân học thực sự phát triển từ thế kỷ XIX. Ở Việt Nam, từ cuối những năm 60
của thế kỉ XX, với yêu cầu xây dựng và cải tạo miền Bắc xã hội chủ nghĩa về mọi
mặt, việc nghiên cứu các dân tộc thiểu số (trong đó có nghiên cứu gia đình) đƣợc
chú ý hơn. Từ khi sự nghiệp đổi mới bắt đầu và tác động đến mọi mặt của đời sống
xã hội, công tác nghiên cứu gia đình đƣợc đặc biệt chú trọng. Các công trình
nghiên cứu về gia đình của các học giả trong và ngoài nƣớc tập trung chủ yếu vào
một số vấn đề cơ bản sau:
- Về định nghĩa gia đình: hầu hết các học giả đều cho rằng: không có định
nghĩa thống nhất và phổ biến cho gia đình vì, quan niệm về gia đình trong một xã
hội này khác với quan niệm gia đình ở xã hội kia. (Mai Huy Bích, Phạm Quang
Hoan, Tƣơng Lai, Clark W.Soransen,…). Thậm chí, ngay trong một xã hội, một
nền văn hóa, quan niệm về gia đình có thể thay đổi từ nhóm này sang nhóm khác,
16
từ nơi này sang nơi khác và từ thời này sang thời kia.
- Về cấu trúc gia đình: một số tác giả sử dụng khái niệm “hình thái gia
đình” (Clark W.Soransen, Emily A.Schulz và Robert H.Lavanda, Phan Hữu Dật,
Mai Huy Bích…). Tuy nhiên, nội hàm của hai khái niệm này tƣơng ứng nhau.
Luận văn sử dụng khái niệm cấu trúc gia đình.
Các học giả trong và ngoài nƣớc đều thống nhất quan điểm: cấu trúc gia
đình khá đa dạng và không có một cấu trúc phổ biến cho tất cả gia đình thuộc các
nền văn hóa khác nhau. Dù xét gia đình theo khía cạnh nào đi nữa (số thế hệ trong
gia đình, cách tính dòng dõi, sự phân chia quyền lực trong nội bộ các thành viên,
nơi cƣ trú, số ngƣời tham gia trong quan hệ hôn nhân, số lần kết hôn, phạm vi lựa
nhân tố gây biến đổi gia đình là do quá trình công nghiệp hóa, trực tiếp là nhà nƣớc
với những cải biến kinh tế, văn hóa và xã hội mà nhà nƣớc chủ trƣơng thiết kế nhằm
thay đổi gia đình cũ, tạo ra gia đình mới cho phù hợp với hệ thống kinh tế - xã hội
mới (Mai Huy Bích). Biến đổi gia đình còn có nguyên nhân “nội tại” từ bản thân các
dân tộc trong quá trình cộng cƣ với các cộng đồng khác (Vƣơng Xuân Tình).
Ngoài ra, những nghiên cứu về gia đình còn đề cập các vấn đề cách phân
loại, quy mô, tập tục chu kỳ đời ngƣời, vấn đề về giới…
Những nghiên cứu này giúp chúng tôi các lý thuyết cơ bản và các khái niệm
công cụ về gia đình để luận giải những tài liệu thực tiễn thu thập qua các đợt điền dã.
1.2.2. Những nghiên cứu về người Pà Thẻn
- Các công trình chung thƣờng là nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể nhƣ:
ngôn ngữ (Trần Trí Dõi), dân số (Khổng Diễn) của các dân tộc ở Việt Nam, tập tục
chu kỳ đời ngƣời (Đỗ Đức Lợi) của nhóm Hmông - Dao có đề cập ngƣời Pà Thẻn.
Hoặc là những giới thiệu khái quát về các tộc ngƣời trong đại gia đình các dân tộc
Việt Nam (Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Nguyễn Khắc Tụng, Ngô Vĩnh Bình,
Nguyễn Văn Huy).
- Các công trình chuyên khảo về ngƣời Pà Thẻn thƣờng tập trung ở một số
vấn đề sau:
+ Về thành phần tộc ngƣời: bằng những tƣ liệu điền dã dân tộc học, các tác
giả (Phan Hữu Dật, Việt Bằng, Nông Trung, Nguyễn Khắc Tụng) đã so sánh và
chứng minh: Ngƣời Pà Thẻn tự gọi là Pà Hƣng. Pà Thẻn là tên các dân tộc khác gọi,
tộc danh đó không biểu thị ý nghĩa xấu gì trong quan hệ dân tộc, mà còn gắn liền với
18
cách giải thích sự hình thành nhóm ngƣời này (nhóm ngƣời Tám họ). Pà Thẻn là một
tộc ngƣời độc lập trong nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao và có thể coi đây là nhóm
ngƣời có nhiều quan hệ giữa Hmông và Dao (bác bỏ quan niệm của Bonifacy coi Pà
Thẻn là một nhóm của ngƣời Hmông).
+ Về hoạt động sản xuất: các công trình nghiên cứu đã chỉ ra xã hội Pà Thẻn
sau định canh định cƣ có sự biến đổi về mọi mặt: kinh tế, chính trị, y tế, giáo dục,
đến hết địa phận tỉnh Tuyên Quang khoảng 12 km, chúng ta đến đƣợc Thƣợng
Minh (nơi cƣ trú tập trung của ngƣời Pà Thẻn ở Hồng Quang). Phía Bắc giáp xã
Hữu Sản (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang) và xã Bình An (huyện Lâm Bình);
phía Nam giáp các xã Tân Mĩ, Trung Hà (huyện Chiêm Hóa); phía Đông giáp các
xã Thổ Bình, Bình An (huyện Lâm Bình) và xã Minh Quang (huyện Chiêm Hóa);
phía Tây giáp xã Liên Hiệp, Hữu Sản (huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang)
1
.
Tổng diện tích đất đai xã Hồng Quang là 5881,66 ha, trong đó có 265,86
ha là đất nông nghiệp (chiếm 4,4% tổng diện tích); 791,0 ha là đất rừng sản xuất
(chiếm 13,5% tổng diện tích); diện tích rừng tự nhiên chiếm tới 4.706,45 ha (80%
tổng diện tích); còn lại là đất chƣa sử dụng 35,73 ha (chiếm 2,1% tổng diện
tích)
2
. Do thiếu đất sản xuất nông nghiệp nên ngƣời dân ở xã Hồng Quang
thƣờng làm nƣơng ở diện tích rừng tự nhiên. Ngoài các nƣơng cũ (Cốp Phay,
Khuổi Thâng, Khuổi Cụng, Khuổi Hon, Khuổi Pạo, Lúng Trang, Thông Bảng…),
các nƣơng mới không đƣợc chính quyền thừa nhận và vẫn quy vào diện tích rừng
tự nhiên. Do đó, tổng diện tích này lên đến 80% diện tích đất đai toàn xã, trên
thực tế, diện tích rừng tự nhiên không còn nhiều nhƣ thế.
Địa hình xã Hồng Quang bị chia cắt khá lớn bởi hệ thống suối và nhiều dãy núi
đất. Có những đỉnh núi cao đến 1.587 m (đỉnh Chặm Chu giáp Hà Giang). Giữa các
dải núi cao và vùng đồi đất là các thung lũng nhỏ, tập trung dân cƣ. Các thung lũng
đƣợc bao quanh bởi hệ thống núi đất nên hệ thống rừng tự nhiên ở đây còn khá lớn.
Khí hậu ở Hồng Quang có tính chất Á nhiệt đới, đƣợc phân chia thành hai
mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thƣờng có mƣa nhiều và mƣa rào tập
trung từ tháng 5 đến tháng 8, với lƣợng mƣa cao nhất là 300,3 mm/tháng, mùa này
thƣờng xảy ra lũ lụt. Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 3 năm sau,
tách ra một phần là huyện Lâm Bình) của tỉnh Tuyên Quang và huyện Bắc Quang
của tỉnh Hà Giang. Theo các nhà khoa học, họ đến Việt Nam từ vùng Than Lô
(Trung Quốc) cách ngày nay khoảng 200-300 năm. Theo truyền thuyết họ sang Việt
Nam bằng đƣờng biển qua Móng Cái, Thái Nguyên, theo các suối lớn lên Linh Phú
rồi ngƣợc theo sông Gâm đến vùng Lăng Can (huyện Lâm Bình). Sau đó, chuyển
đến vùng Hữu Sản, Hồng Quang và phần lớn vƣợt sang vùng tả ngạn sông Gâm đến
các xã Tân Trịnh, Yên Bình, Tân Lập. Trên đƣờng đến Lăng Can, một bộ phận
ngƣời Pà Thẻn ở lại Linh Phú, Trung Sơn sống giữa đồng bào Tày [49, tr.337].
Tuy nhiên, về nguồn gốc của ngƣời Pà Thẻn xã Hồng Quang, huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang, qua quá trình điền dã chúng tôi có những tƣ liệu sau:
Ngƣời Pà Thẻn ở xã Hồng Quang vốn là dân du canh du cƣ, chuyển từ
Quảng Đông - Trung Quốc qua Hà Giang đến Thƣợng Minh đƣợc 4 đời (tính 1 đời
21
khoảng 20 đến 25 năm). Đến nay họ vẫn còn quan hệ đồng tộc và thân tộc với bên
kia biên giới và kí ức về cuộc thiên di vẫn còn nguyên vẹn. Theo lời các ông thầy
cúng (Húng Văn Hin, Phù Văn Thành, Phàn Văn Đông) thì khi tiễn hồn ngƣời chết
sang thế giới bên kia, họ thƣờng đƣa thẳng từ Thƣợng Minh, qua Hà Giang, sang
Trung Quốc và lên trời.
Ông Phù Đức Di (nguyên Bí thƣ Đảng uỷ xã Hồng Quang) nói: “Ông nội
tôi là một trong 5 gia đình chuyển đến Thượng Minh đầu tiên, cái kiềng ông mang
từ Trung Quốc sang đến nay vẫn còn nhưng đã bị han rồi, không dùng được nữa”
(Nói rồi ông chỉ vào góc bếp cho chúng tôi xem cái kiềng).
Các cụ già kể lại rằng, có 5 gia đình đầu tiên chuyển đến Thƣợng Minh là
gia đình của 5 dòng họ lớn ở Thƣợng Minh bây giờ: Húng, Sìn, Phàn, Phù anh cả
và Phù em út
3
. Đến đầu những năm 1930, một số gia đình chuyển đến từ các nơi
khác: họ Làn, Tái, Tấn, Dƣơng, Tấm, Phù em thứ hai. Đến Thƣợng Minh, ngƣời
Pà Thẻn chỉ phát nƣơng làm rẫy trên những dãy núi đất bao quanh bản. Các gia
canh tác ruộng nƣớc là chính và chỉ còn một ít nƣơng cũ (do Nhà nƣớc không cho
phép phát nƣơng bừa bãi). Do đó, hàng năm, cƣ dân ở Thƣợng Minh phải tổ chức
cúng ma làng với ý nghĩa xin phép và cầu mong sự bảo trợ của chủ nhân vùng đất
này để bắt đầu một mùa sản xuất mới.
Khu vực Hồng Quang gần Hữu Sản (Bắc Quang, Hà Giang), Tân Trịnh,
Tân Lập (Quang Bình, Hà Giang) - nơi tập trung đông đảo ngƣời Pà Thẻn và giữ
đƣợc nhiều nét văn hóa truyền thống, trong khi ở Linh Phú chỉ còn 40 hộ gia đình,
cƣ trú cùng ngƣời Tày và văn hóa truyền thống mờ nhạt.
Những cứ liệu trên cho thấy, ngƣời Pà Thẻn ở xã Hồng Quang, huyện Lâm
Bình, tỉnh Tuyên Quang có quá trình di cƣ trực tiếp bằng đƣờng bộ từ Trung Quốc,
qua Hà Giang và đến Tuyên Quang chứ không thể là bằng đƣờng thuỷ nhƣ ngƣời
Dao mà các nhà khoa học trƣớc đây từng nói.
Xã Hồng Quang có tất cả 5 dân tộc anh em là Kinh, Tày, Hmông, Dao và
Pà Thẻn. Tổng số dân cƣ của Hồng Quang là 3.598 ngƣời (1756 nam và 1842 nữ)
phân bố ở các dân tộc nhƣ sau:
1. Dân tộc Tày: 1.436 ngƣời (704 nam; 732 nữ).
2. Dân tộc Dao: 1.361 ngƣời (673 nam; 688 nữ).
3. Dân tộc Pà Thẻn: 521 ngƣời. Trong đó, ngƣời Pà Hƣng: 412 ngƣời (192
nam; 220 nữ) và ngƣời Thuỷ: 109 ngƣời (58 nam; 51 nữ)
4
. 4
Về ngƣời Thủy, ở thôn Thƣợng Minh (xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang) ngƣời Pà
Thẻn gọi họ là Na Mẻo, các dân tộc khác thƣờng gọi họ là Sủi, Suẩy. Theo Viện Dân tộc học (1978), Các
dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, thì tiếng Thuỷ thuộc nhóm ngôn ngữ
Tày-Thái và đƣợc xếp là một dân tộc riêng biệt. Theo nghiên cứu thực địa của Trần Trí Dõi (1999) trong
cuốn Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, thì Thủy là một
bộ phận của ngƣời Pà Thẻn di cƣ từ Nà Hang lên [13, tr.105]. Theo Khổng Diễn [14, tr.126] và theo Danh
495
4
677
2
Khuổi Xoan
0
4
423
0
12
0
439
3
Bản Tha
5
226
5
0
0
0
236
4
Nà Nghè
10
405
50
0
6
0
471
0
345
1
0
0
349
9
Lung Luông
70
127
250
32
2
2
483
Tổng số dân(dân tộc)
157
1436
1361
115
521
8
3598
(Nguồn: Thống kê tại Công an xã Hồng Quang, huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang)
Thôn Thƣợng Minh là nơi tập trung đông nhất các thành phần dân tộc trong
5 dân tộc ở Hồng Quang. Tổng số dân của Thƣợng Minh là 677 ngƣời với 140 hộ,
trong đó ngƣời Pà Thẻn chiếm phần lớn (495/677 ngƣời
5
) và là dân tộc có dân số
đông nhất ở Thƣợng Minh. Chính vì thế văn hóa tộc ngƣời có điều kiện bảo lƣu và
họ đƣợc chia ruộng theo nhân khẩu (trung bình mỗi khẩu đƣợc 400m
2
ruộng nƣớc)
và giao rừng theo hộ gia đình (trung bình mỗi hộ đƣợc 1ha rừng). Ngoài ruộng và
25
nƣơng, ngƣời Pà Thẻn còn làm vƣờn quanh nhà.
Ruộng của ngƣời Pà Thẻn chủ yếu là ruộng bậc thang với quy mô nhỏ và
một số diện tích nhỏ là ruộng trũng, ruộng gần nơi ở. Nƣơng thƣờng là nƣơng thổ
canh, chất mùn ít và xa nhà. Ngƣời Pà Thẻn thƣờng trồng lúa (nếp, tẻ), trồng ngô
và sắn trên nƣơng. Họ vẫn giữ đƣợc một số giống lúa cổ nhƣ các loại lúa tẻ: mô ha
la, mô cò nhà, mô ta tớ, mô nhỏ; lúa nếp: mô cằm đi, bôn tri, bù mé khó. Ngày nay,
họ còn cấy các loại lúa giống mới của Nhà nƣớc nhƣ tạp giao, kháng mằn, lƣỡng
quảng ở ruộng nƣớc. Trƣớc đây, ngƣời Pà Thẻn làm một vụ bắt đầu từ tháng 3 và
kết thúc vào tháng 8, tháng 10 sau đó bỏ đất hoang. Ngày nay, đồng bào cấy hai
vụ, thƣờng vụ chiêm từ tháng Giêng đến tháng 5, vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 10.
Một số gia đình còn làm thêm vụ đông theo chƣơng trình của dự án Đa dạng hóa
thu nhập nông thôn (RIDP).
Nƣơng của ngƣời Pà Thẻn hiện nay thƣờng là diện tích rừng đƣợc Nhà
nƣớc giao cho các hộ gia đình để trồng rừng. Tuy nhiên, nghề trồng rừng không
đƣợc đồng bào chú trọng do hiệu quả kinh tế thấp. Do đó, đồng bào thƣờng phá
rừng làm nƣơng trồng sắn. Ngoài ra họ còn trồng ngô, bầu, bí, các loại cây họ đậu,
trồng bông, ớt, hành, tỏi, rau cải trên nƣơng.
Ngƣời Pà Thẻn thích làm nƣơng hơn ruộng nƣớc (nƣơng của ngƣời Pà Thẻn
rất tốt mặc dù là nƣơng cũ, cho năng suất cao; lúa ở ruộng nƣớc thì kém phát triển,
không đƣợc chăm sóc kĩ bằng nƣơng). Do không có nhiều kinh nghiệm trồng lúa
nƣớc nên mọi quy trình kĩ thuật chăm sóc cây trồng đều đƣợc tuân thủ theo một
quy trình có sẵn do Phòng nông nghiệp chỉ đạo và đƣợc trƣởng thôn truyền đạt lại.
Ruộng của ngƣời Pà Thẻn thƣờng không tốt bằng ruộng của ngƣời Kinh, ngƣời
Tày. Năng suất cây trồng thấp, đời sống của ngƣời dân tƣơng đối khó khăn, vẫn