Những phong tục nghi lễ vòng đời của người việt ở huyện tam nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi) - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
*****

HOÀNG THỊ MỘNG NHƢ

NHỮNG PHONG TỤC NGHI LỄ VÒNG ĐỜI
CỦA NGƢỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH
PHÚ THỌ (TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

PGS. TS. NGUYỄN DUY BÍNH

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Những phong tục nghi lễ vòng đời của người
việt ở huyện tam nông, tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi)” được hoàn
thành dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS. TS Nguyễn Duy Bính. Tôi xin
cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả trong luận án là trung thực. Các trích dẫn trong công trình đầy đủ và
chính xác. Nếu có gì sai phạm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày , tháng , năm .
Sinh viên
Hoàng Thị Mộng Nhƣ



1.1.4 Sông ngòi ................................................................................................. 9
1.2 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cƣ. ................................................ 10
1.3 Đặc điểm kinh tế ..................................................................................... 10
1.4. Đặc điểm văn hóa- xã hội ...................................................................... 13
Chƣơng 2 CÁC TẬP TỤC TRONG NGHI LỄ VÒNG ĐỜI TRUYỀN
THỐNG CỦA NGƢỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG ........................... 17
2.1 Khái niệm “nghi lễ vòng đời” và các khái niệm liên quan. ................. 17
2.2 Những nghi lễ truyền thống trong vòng đời của ngƣời Việt ở huyện
Tam Nông. ...................................................................................................... 20
2.2.1 Nghi lễ sinh đẻ ....................................................................................... 20
2.2.3 Nghi lễ Hôn nhân .................................................................................. 28


2.2.4 Nghi lễ mừng thọ................................................................................... 36
2.2.5 Nghi lễ tang ma ..................................................................................... 38
Chƣơng 3 XU HƢỚNG BIẾN ĐỔI VÀ MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CÁC
NGHI LỄ VÒNG ĐỜI CỦA NGƢỜI VIỆT Ở HUYỆN TAM NÔNG.... 65
3.1 Xu hƣớng biến đổi của các tập tục trong nghi lễ vòng đời của ngƣời
Việt ở huyện Tam Nông ................................................................................ 65
3.1.1 Tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt không phải bất biến mà
có nhiều biến đổi để phù hợp với cuộc sống hiện đại. ................................. 65
3.1.2 Giao thoa, tiếp biến với các giá trị văn hóa mới là xu hướng biến đổi
trong thời gian tiếp theo. ................................................................................ 67
3.1.3 Nguyên nhân của sự biến đổi ............................................................... 68
3.2 Một vài nhận xét ...................................................................................... 71
3.2.1 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời phản ánh đời sống văn hóa- tâm
linh của cộng đồng người Việt ở Huyện Tam Nông vô cùng phong phú và
đa dạng ............................................................................................................ 71
3.2.2 Các tập tục trong nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông
bao gồm nhiều điều cấm kị, kiêng kị ............................................................72

văn hóa truyền thống. Bởi chính trong những tập tục của các nghi lễ ấy chứa
đựng mọi yếu tố của bản sắc văn hóa: từ không gian (chiều rộng) đến thời gian

1


(chiều dài), từ văn hóa cá nhân đến văn hóa cộng đồng. Đặc biệt, nó chứa đựng
đời sống tâm linh, tâm hồn tình cảm của con người. Những tập tục được thực
hiện trong nghi lễ vòng đời như sợi dây vô hình xâu chuỗi, vừa gắn kết, vừa trói
buộc các cá nhân với cộng đồng, giữa thế giới những người đang sống với
những người đã khuất...Chính vì vậy, nghi lễ vòng đời người là môi trường tốt
nhất để bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi tộc người, đồng thời cũng là mảng
nghiên cứu quan trọng để hiểu văn hóa của một dân tộc [1, tr.13-14].
Kết quả nghiên cứu đề tài của khóa luận có thể là cơ sở khách quan cho các
nhà hoạch định chính sách, nhà quản lí văn hóa có được những thông tin hữu ích
trong việc hoạch định chính sách để bảo tồn những giá trị văn hóa, mà ở đây là
văn hóa của người Việt ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Đồng thời cũng là
một trong những cơ sở để Đảng, Chính phủ có được các chính sách phù hợp
trong công tác xây dựng, đoàn kết cộng đồng người Việt với các dân tộc khác
trên địa bàn huyện Tam Nông nói riêng và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung.
Xuất thân là một người học tập và nghiên cứu lịch sử, với niềm đam mê văn
hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hóa tinh thần. Mặt khác, là một người con
của quê hương Tam Nông (Phú Thọ), luôn muốn hiểu rõ hơn các phong tục, tập
quán nơi mình sinh ra và hy vọng giới thiệu những nét văn hóa tiêu biểu của
miền đất tổ đến với mọi người. Chính vì những lý do đó mà tôi chọn đề tài:
“Những phong tục nghi lễ vòng đời của người việt ở huyện Tam Nông,
tỉnh Phú Thọ (truyền thống và biến đổi)” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Nghiên cứu văn hóa của người Việt nói chung đến nay không phải là một

Trong Những điều cần biết về nghi lễ hôn nhân người Việt, xuất bản năm
2010, tác giả Trương Thìn đã nêu lên những lễ nghi cơ bản trong phong tục cưới
hỏi truyền thống cũng như hiện đại.
Các công trình nghiên cứu về huyện Tam Nông như:

3


Cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Tam Nông (1947- 2012) xuất bản năm 2012
đã nêu bật được chặng đường lịch sử kháng chiến chống Pháp, đế quốc Mĩ xâm
lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hơn 25 năm
chặng đường thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ huyện Tam Nông, quân và dân Tam
Nông đã lập được nhiều thành tích vẻ vang, ghi những mốc son chói sáng vào
trang sử truyền thống của huyện. Cuốn sách cũng đề cập đến những chính sách,
chỉ đạo của Đảng bộ huyện đối với sự phát triển văn hóa- xã hội của huyện.
Bùi Thị Hưng (2014), Luận văn Thạc sĩ Lịch sử chuyên đề: Đảng bộ huyện
Tam Nông (tỉnh Phú Thọ) lãnh đạo xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1999
đến năm 2013. Luận văn đã đề cập đến tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của
huyện từ 1999, đồng thời nêu lên những chính sách chỉ đạo của Đảng bộ huyện
đối với đời sống văn hóa của huyện.
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trên, khóa luận đi
sâu tìm hiểu về nghi lễ vòng đời của người Việt ở huyện Tam Nông, từ đó đưa ra
những nhận xét cá nhân.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Dưới góc độ sử học đối tượng nghiên cứu của đề tài
là các tập tục trong hệ thống nghi lễ vòng đời người của người Việt ở huyện Tam
Nông xuyên suốt chiều dài lịch sử. Qua đó, hiểu được đời sống tâm linh của
cộng đồng người Việt ở huyện Tam Nông, đồng thời thấy được những thay đổi
theo hướng tích cực, ngày càng văn minh của các nghi lễ vòng đời người của họ.

5. Nguồn tƣ liệu.
Đề tài nghiên cứu về các nghi lễ vòng đời – thuộc phạm trù tín ngưỡng, văn
hóa, đời sống tâm linh nên tư liệu có được chủ yếu là các bức ảnh về hôn lễ, đầy
tháng, tang ma... được chụp lại trong quá trình nghiên cứu của tác giả.

5


Các tư liệu truyền miệng rất phong phú, đa dạng, chính xác và khách quan.
Các nguồn tư liệu khác: tạp chí, các công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề, tài liệu internet…
6. Đóng góp của đề tài.
Thông qua kết quả nghiên cứu của đề tài, giúp tác giả có cái nhìn sâu sắc
hơn về nền văn hóa bản địa. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những đặc điểm, vai
trò và nêu lên xu hướng biến đổi của các tập tục trong hệ thống nghi lễ vòng đời
của cộng đồng người Việt tại huyện Tam Nông.
Khóa luận là nguồn tư liệu hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu nền
văn hóa đất tổ.
Kết quả nghiên cứu của khóa luận đóng góp và nguồn tư liệu lịch sử địa
phương.
7. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Khóa luận
được kết cấu làm 3 chương:
Chƣơng 1: Khái quát về ngƣời Việt ở huyện Tam Nông.
Chƣơng 2: Các tập tục trong nghi lễ vòng đời truyền thống của ngƣời
Việt ở huyện Tam Nông.
Chƣơng 3: Đặc điểm và xu hƣớng biến đổi của các nghi lễ vòng đời của
ngƣời Việt ở huyện Tam Nông.

6

7


Vùng đất thấp nằm dọc theo sông Hồng gồm những cánh đồng có chiều
ngang hẹp, tạo thành một vệt dài theo bờ sông từ xã Hồng Đà đến các xã
Thượng Nông, Hương Nộn, Cổ Tiết, Tam Cường, Thanh Uyên, Hiền Quan,
Vực Trường, Hương Nha, Tứ Mỹ và dọc theo sông Bứa gồm các xã Hùng Đô,
Quang Húc, Tề Lễ. Các cánh đồng trên hầu hết là do phù sa sông Hồng, sông
Bứa được bồi tụ qua nhiều năm trước khi có đê chắn, tạo thành lớp đất tương
đối màu mỡ, thuận lợi cho cây lúa, hoa màu và cây lương thực.
Vùng đồi núi được chia thành hai khu vực: vùng đồi núi thấp và vùng đồi
núi cao. Vùng đồi núi thấp nằm ở phía tây bắc huyện có đỉnh tròn mấp mô
như làn sóng nối tiếp nhau thuộc các xã: Cổ Tiết, Văn Lương, Thanh Uyên,
Hiền Quan, Hương Nha, Tứ Mỹ, Xuân Quang, Phương Thịnh, Quang Húc.
Vùng đồi núi cao nằm ở phía tây nam huyện thuộc địa bàn các xã Dị Nậu,
Thọ Văn, Tề Lễ bao gồm nhiều gò núi nhấp nhô, có những điểm đột xuất như
núi Chi (cao 216 m), Đèo Khế (117 m) và các quả đồi chạy dọc theo dãy núi
Càng Cua từ đầm Dị Nậu qua đường 24 đến Dộc Vừng.
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 15.596,92 ha. Trong đó: diện tích
đất nông nghiệp là 11.315,24 ha, chiếm 72,55%; đất phi nông nghiệp là
3.888,40 ha, chiếm 24,93%; đất chưa sử dụng là 393,28 ha, chiếm 2,52%. Do
đặc điểm vị trí là nơi tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng nên đất đai của
huyện Tam Nông tương đối phong phú và đa dạng, bao gồm một số loại đất
chính như: Đất vàng đỏ phát triển trên nền đá sa thạch và phiến thạch, đất
xám vàng phát triển trên nền phù sa cổ, đất phù sa không được bồi hàng năm
và đất phù sa được bồi hàng năm của sông Hồng, sông Đà, sông Bứa, đất
thung lũng dốc tụ, đất đồi núi bậc thang và đất lầy thụt.
Đất đai của vùng gò đồi huyện Tam Nông vừa là đất gạch cua vừa là đất
cát tro, phủ trên mặt một lớp từ 20 đến 30 cm, xuống dưới là đất gạch cua pha
sỏi có chỗ đá ong, kém màu mỡ, thích hợp với việc trồng cây công nghiệp dài

1.760m3/s gấp 2 lần sông Thao, gấp 10 lần sông Lô [18, tr.31- 35].

9


Ngoài hai con sông trên, huyện Tam Nông còn được thiên nhiên ban tặng
con sông Bứa bắt nguồn từ Sơn La. Con sông này hầu như nằm hoàn toàn trong
tỉnh Phú Thọ, chảy qua các xã như Tề Lễ, Quang Húc, Hùng Đô đến Tứ Mỹ đổ
vào sông Thao. Sông Bứa có ít phù sa (khoảng 1,1kg/m3) chủ yếu là cung cấp
nước tưới cho trồng trọt và giao thông vận chuyển hàng hóa trên sông.
Bên cạnh hệ thống các con sông, huyện Tam Nông còn có rất nhiều ngòi
lớn nhỏ thuộc phụ lưu các con sông cùng một số hồ, đầm thiên tạo phong phú,
nằm rải rác ở một số địa phương trong huyện như đầm Thượng Nông, đầm Dị
Nậu, đầm Phú Cường có diện tích trung bình từ 15 đến 100 ha mặt nước.
Với hệ thống sông ngòi và đầm hồ phong phú, có trữ lượng tương đối lớn
là điều kiện thuận lợi cho Tam Nông có nguồn tài nguyên nước dồi dào, phục
vụ đời sống và vận chuyển hàng hóa, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và phát
triển sản xuất nông nghiệp.
1.2 Đặc điểm dân số và sự phân bố dân cƣ.
Người Kinh chiếm khoảng 99% dân số, cư trú ở hầu hết các xã, thị trấn.
Nhân dân có kinh nghiệm canh tác trên đất đồi, núi, ruộng trũng, đất phù sa,
kết hợp sản xuất nông nghiệp với lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, cây trồng
bản địa và cây công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, trồng rau quả vùng nhiệt đới.
Tỉ lệ gia tăng tự nhiên có xu hướng giảm, năm 2001 là 0,92% và năm 2007
còn 0,89%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân hằng năm là 1%. Tình hình
phân bố dân cư giữa các xã không đều, đông nhất là Hương Nộn, Hiền Quan,
thị trấn Hưng Hóa, xã Hồng Đà, thưa cư dân nhất là xã Tề Lễ, Dị Nậu, Thọ
Văn. Mật độ dân số trung bình là 527 người/km2 [20].
1.3 Đặc điểm kinh tế
Từ xa xưa, nhân dân huyện Tam Nông làm nghề trồng lúa nước là chính.

là những sản phẩm tiêu biểu của Tam Nông. Trước đây, Tam Nông có những
khu rừng cọ rộng hàng chục héc-ta. Sản phẩm chính của cây cọ là lá dùng để làm
nhà khi chưa có các loại vật liệu khác thay thế. Cây chè ở tỉnh Phú Thọ nói

11


chung và huyện Tam Nông nói riêng rất phát triển [xem phụ lục 2]. Thời thuộc
Pháp, chè búp tươi của các địa phương thuộc huyện Tam Nông cũng như tỉnh
Phú Thọ được người Pháp mua và chế biến, sau đó đem bán khắp Đông Dương
và sang cả nước Pháp. Sau này, người Hoa Kiều cũng mua.
Ngoài ra ở một số địa phương còn trồng các loại cây lấy dâù như trẩu, sở,
dọc, trám. Dầu sở rất có giá trị nên thời thuộc Pháp, khi khai thác chúng đã
đem về nước và chế biến thành một thứ dầu “sà lách” (dầu trộn rau sống) có
màu vàng, ăn rất ngon, thường dùng trong các bữa tiệc. Nhiều loại cây ăn quả
cũng được trồng nhiều trong vườn nhà như mít, cam, chanh, dứa, vải, chuối,...
Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi trong vùng cũng khá phát triển. Năm
2007, lĩnh vực chăn nuôi chiếm tỷ trọng 33,2%. Trong đó: chăn nuôi gia súc
chiếm tỷ trọng 59%, chăn nuôi gia cầm chiếm 16% và sản phẩm chăn nuôi
khác chiếm 14%. Chủ yếu là chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà, dê,... Sản xuất chăn
nuôi ở địa bàn đều ở quy mô cá thể hộ gia đình, những năm gần đây mới xuất
hiện một vài mô hình chăn nuôi theo trang trại. Việc sản xuất chăn nuôi ở quy
mô nhỏ gây khó khăn rất lớn trong việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản
xuất nâng cao năng suất hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, đặc biệt là phòng
dịch bệnh [20].
Tam Nông cũng là một huyện có diện tích rừng khá đáng kể 2,87 nghìn
ha (2007). Diện tích rừng sản xuất chủ yếu trồng bạch đàn để lấy gỗ phục vụ
sản xuất giấy và làm nhiên liệu.
Về phát triển làng nghề: Năm 2004, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã công nhận
làng nghề mộc Minh Đức- xã Thanh Uyên. Đồng thời hỗ trợ vốn để phát triển


Hát Xoan còn được gọi là Khúc môn đình (hát cửa đình), là lối hát thờ thần, tương truyền có từ thời các vua
Hùng. Thuở xa xưa, người Văn Lang tổ chức các cuộc hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới. Có 3
hình thức hát xoan: hát thờ cúng các vua Hùng và Thành hoàng làng; hát nghi lễ cầu mùa tốt tươi, cầu sức
khỏe; và hát lễ hội là hình thức để nam nữ giao duyên. Ca nhạc của Xoan là ca nhạc biểu diễn với đầy đủ các
dạng thức nhạc hát: hát nói, hát ngâm, ngâm thơ và ca khúc; có đồng ca nữ, đồng ca nam, tốp ca, đối ca, hát
đa thanh, hát đuổi, hát đan xen, hát có lĩnh xướng và hát đối đáp.Trong hát Xoan, múa và hát luôn đi cùng và
kết hợp với nhau, dùng điệu múa minh họa nội dung cho lời ca
2
Hát ghẹo là hình thức hát nước nghĩa trong dịp hội làng của người Việt và người Mường hay còn gọi là hát
giao duyên nam nữ. Sự tích hát Ghẹo gắn với việc dựng lại ngôi đền làng Nam Cường. Nội dung lời hát
Ghẹo cũng như các loại hình dân ca trữ tình khác, phần lớn đều có hình thức và nội dung như cao dao hoặc
rất gần gũi với ca dao, thường được tổ chức vào những ngày hội mùa xuân, mùa thu, ngày hội được mùa và
những đêm trăng sáng.

13


(Hương Nha), thi cướp phết(3) (Hiền Quan) [xem phụ lục 3], múa mo (Nam
Cường),... Hàng năm mỗi dịp xuân về, các lễ hội, các tục lệ được các địa phương
tổ chức tại các ngôi đình của làng. Có hội tổ chức 2-3 ngày, có hội tổ chức 3-5
ngày, thu hút đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia, tạo nên không khí hết sức sôi
nổi [20].
Nhân dân huyện Tam Nông sống thành các làng với nhiều gia đình nhỏ
tập trung. Nhà của nhân dân huyện Tam Nông trước kia được làm từ những
nguyên liệu như tre, gỗ, cọ,... Ngày nay, các vật liệu mới xuất hiện, kiến trúc
nhà ở, đặc biệt là kiến trúc đình, chùa rất đa dạng, phong phú và đặc sắc. Hiện
nay, trên địa bàn huyện Tam Nông còn 2 ngôi đình, 25 ngôi chùa, 10 ngôi
đền, 6 ngôi miếu với gần 90 % số dân theo nghi lễ tôn giáo của đạo Phật [20].
Mỗi ngôi đình, chùa đều mang nét kiến trúc khác nhau, nhưng đều là các

nghĩa Hai Bà Trưng, cuộc khởi nghĩa của Lý Nam Đế, rồi phong trào Cần
Vương do Nguyễn Quang Bích lãnh đạo…
Cùng tồn tại với nền văn hóa vật chất và văn hóa dân gian đặc sắc, vùng đất
Tam Nông còn bảo lưu được rất nhiều truyền thuyết, huyền thoại về thuở bình
minh của đất nước và khởi nguồn dân tộc. Những câu chuyện “Tản Viên Sơn
Thánh” (Sơn Tinh), hay Cao Sơn, Qúy Minh, thần núi, thần sông, thần đầm, thần
ghềnh, thần bến dọc sông Đà, sông Thao như thần ghềnh Ngọc Tháp, Hùng Hải trị
nước, ông Hộ giết thuồng luồng,... là những nhân vật tham gia vào công việc trị
thủy từ xa xưa, được nhân dân thần thánh hóa đều bắt nguồn từ nơi đây.
Bên cạnh dòng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng do nhân dân sáng
tạo nên, ở Tam Nông cũng có những danh nho nổi tiếng làm rạng danh cho
quê hương làng xã được sử sách ghi nhận và ca ngợi như Nguyễn Quang
Bích, Lý Bật.
Tam Nông còn là vùng đất hiếu học. Ông bà, cha mẹ dạy dỗ con cháu
điều hay lẽ phải, ngăn ngừa thói hư, tật xấu. Tính đến 2003, toàn huyện có tất
cả các loại hình trường phổ thông từ giáo dục mầm non đến tiểu học, trung
học cơ sở, trung học phổ thông với hàng chục vạn học sinh theo học [18,
tr.28]
Khai thác tiềm năng du lịch trên cơ sở phát huy các lợi thế về vị trí địa
lý, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng hoá sản phẩm các loại
hình du lịch. Lễ hội truyền thống có ở hầu hết các xã, thị trấn, các lễ hội phục

15


dựng gắn với việc phát huy làn điệu dân ca đặc sắc tổ chức tour du lịch Việt
Trì - Tam Nông - Thanh Thuỷ, tại Tam Nông du lịch tín ngưỡng lễ hội văn
hoá: Làng cười Văn Lang, hát Ghẹo Nam Cường - Thanh Uyên; kể chuyện
cười Văn Lang; hội Cầu Trâu Hương Nha; hội chẻ tre kéo lửa nấu cơm thi, thi
ném cầu giỏ thôn Gia Dụ xã Vực Trường. Năm 2006 UBND huyện đã chọn

người đã từng bước tạo nên những nghi lễ và phát triển thành hệ thống.
E.B.Tylor trong công trình nghiên cứu Văn hóa nguyên thủy đã dành một
chương lớn viết về nghi lễ và lễ nghi. Theo ông, nghi lễ là: “Phương tiện giao
tiếp với những thực thể tinh thần (Spiritual) như một định nghĩa tối thiểu về
tôn giáo”. Thông qua nghi lễ, những người sống ở cõi trần cầu cúng thần linh
ở thế giới siêu nhiên những khát vọng cho cuộc đời của mỗi con người.
Còn A.A. Radugin – nhà văn hóa học Nga đã nói về nghi lễ như sau:
“Nghi lễ xuất hiện trong thần thoại học nhằm thể hiện mối quan hệ hữu hiệu
giữa cuộc sống thường ngày với siêu nhiên (linh hồn tổ tiên, thần thánh, ma
quỷ, số phận...). Nghi lễ được truyền lại không chỉ trong tôn giáo mà đi vào
cả cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trong nền văn hóa dân gian truyền
thống. Tại đây, nghi lễ là di tích còn sót lại của thần thoại.” [4, tr.35].
Theo nhu cầu của đời sống tâm linh, ứng với tâm lý vừa sợ sệt, vừa mong
muốn sự ban ơn của thần linh, con người đã hình thành nên hệ thống tín
ngưỡng và kèm theo đó là hệ thống nghi lễ.
Các nhà nghiên cứu văn hóa đã chia ra nhiều loại hình nghi lễ khác nhau:
Hệ thống nghi lễ nông nghiệp cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt;
hệ thống nghi lễ trong tín ngưỡng ngư nghiệp; hệ thống nghi lễ theo tín
ngưỡng tổ nghề, nghi lễ thờ tổ tiên, nghi lễ cộng đồng tôn giáo và hệ thống
nghi lễ vòng đời.

17


Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả đi sâu tìm hiểu hệ thống các nghi lễ
vòng đời (hay còn có thuật ngữ tương tự là nghi lễ chuyển đổi hoặc nghi lễ
trong gia đình) của cộng đồng người Việt ở huyện Tam Nông.
Theo tác giả Tô Thị Huê trong bài Nghi lễ vòng đời người và nghi lễ
vòng cây trồng của người M’Nông ở Bình Phước, thứ ba ngày 16/08/2016 thì:
Nghi lễ vòng đời người là hệ thống nghi lễ gắn chặt với từng giai đoạn và

Cụ thể hơn, theo tác giả A.V. Gennep thì: Nghi lễ chuyển đổi là nghi lễ
đánh dấu sự thay đổi địa vị xã hội của con người. Nghi lễ chuyển đổi thường
đi kèm với những nghi lễ xung quanh những sự kiện liên quan đến đời người
như việc ra đời của một đứa trẻ, tuổi vào đời, hôn lễ, lễ mừng thọ...không
giống như khái niệm chu kì đời người thường dùng để chỉ chu kì sinh học:
sinh ra – trưởng thành – kết hôn – già yếu – chết đi. Nghi lễ chuyển đổi là
nghi lễ được tiến hành như một sự tiếp nhận khi một cá nhân được chuyển từ
vị thế xã hội này sang vị thế xã hội khác.
Với lý thuyết này, Van Genep muốn nhấn mạnh đến vai trò văn hóa,
bằng cách thông qua những lễ nghi văn hóa mà vai trò và địa vị của con người
được xác lập khác với vị trí ban đầu trong xã hội, và cũng nhằm đánh dấu
bước phát triển của con người về vị trí xã hội theo quy định của mỗi nền văn
hóa [4, tr.37].
Như vậy, nói tóm lại những nghi lễ vòng đời người (hoặc nghi lễ chuyển
đổi, nghi lễ trong gia đình) là những nghi lễ được thực hiện xung quanh cuộc
đời con người từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi rời khỏi cuộc đời. Đó là
những nghi thức, phong tục, tập quán gắn với từng thời kì, thậm chí còn là
những điều kiêng kị, cấm đoán, có khi còn là những điều mê tín.

19


2.2 Những nghi lễ truyền thống trong vòng đời của ngƣời Việt ở huyện
Tam Nông.
2.2.1 Nghi lễ sinh đẻ
Đối với người Việt Nam, khi đã lập gia đình thì việc sinh con là rất quan
trọng. Thời xưa, những trường hợp người phụ nữ không sinh nở được là một
trong những lý do chính đáng để người đàn ông bỏ vợ hoặc lấy lẽ.
Dấu hiệu của việc người phụ nữ biết mình có thai hay chưa thông thường
là tắt kinh, kèm theo nôn ọe vào sáng sớm lúc ngủ dậy hoặc lúc ăn cơm, hoặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status