TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN SILAPAKIT TEEKANTIKUN NGHI LỄ LÊN ĐỒNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN BẮC
VIỆT NAM VÀ CỦA NGƯỜI LÀO Ở ĐÔNG BẮC THÁI LAN
CHUYÊN NGÀNH: DÂN TỘC HỌC
MÃ SỐ: 62227001 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS. TS. NGÔ ĐỨC THỊNH
2. PGS. TS. LÂM BÁ NAM
HÀ NỘI, NĂM 2010
LỜI CAM ĐOAN 1
Nghiên cứu nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam và của
ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan có thể giúp thêm t- liệu cho các cơ quan chức
năng của hai phía định h-ớng hoạt động này sao cho lành mạnh, phù hợp với
bản sắc, truyền thống văn hóa của các c- dân . Đồng thời công trình cũng hy
vọng góp phần định h-ớng các hoạt động này, chống các hành vi lợi dụng lên
đồng để tuyên truyền mê tín dị đoan và tục lệ bất chính.
2. Mục đích nghiên cứu
1. Để hiểu về nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt Nam. Đây
là địa bàn "khai nguyên" , là cái nôi văn hóa của ng-ời Việt, vẫn bảo l-u nhiều
hiện t-ợng của các hình thái tôn giáo sơ khai, thông qua tìm hiểu lên đồng để
hiểu thêm khía cạnh này.
2. Để hiểu về nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan.
Ng-ời Lào (hay ng-ời Isản) ở Đông Bắc Thái Lan vẫn đ-ợc coi là bộ phận c-
dân giữ tục lên đồng tiêu biểu nhất của Thái Lan. Tìm hiểu tục lên đồng của họ
cũng hàm chứa ý muốn tìm hiểu về một phần văn hóa tinh thần độc đáo của bộ
phận c- dân này.
3. Để so sánh một số điểm t-ơng đồng và khác biệt giữa hai đối t-ợng
này. Nghiên cứu sẽ l-u ý so sánh về đối t-ợng hành nghề, căn nguyên của tục
lên đồng, các nghi thức và ảnh h-ởng của nó trong đời sống cộng đồng.
3. Phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt
Nam và của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái Lan. Về địa bàn chính để nghiên cứu,
luận án giới hạn hẹp hơn là phạm vi Hà Nội (chủ yếu là nội thành) và tỉnh
Nakhonratchasima, miền Đông Bắc Thái Lan, cụ thể là ở 3 huyện: Sung Nơn, Sí
Khiu, Pặcthôngchai.
3
Sở dĩ chúng tôi lựa chọn nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt làm đối t-ợng
Ph-ơng pháp quan sát tham gia
. Tôi sử dụng ph-ơng pháp này khi có dịp
tham dự nghi lễ lên đồng của cả ng-ời Việt và ng-ời Lào. Tôi cố gắng quan sát
mọi hành động đ-ợc diễn ra trong buổi lễ và ghi chép trực tiếp những gì tôi đ-ợc
chứng kiến.
Ph-ơng pháp phỏng vấn
. Tôi sử dụng ph-ơng pháp này để có đ-ợc thông
tin cá nhân của các ông đồng bà đồng. Những cuộc phỏng vấn đó đa số đ-ợc
thực hiện trong buổi tổ chức nghi lễ vào thời gian rành rỗi của họ. Và có một số
tr-ờng hợp tôi đ-ợc phỏng vấn tại nhà riêng của họ.
Ph-ơng pháp mô tả dân tộc học
. Tôi sử dụng ph-ơng pháp này trong quá
trình viết luận án để mô tả tiến trình nghi lễ, các yếu tố trong nghi lễ v.v.
5. Kết quả nghiên cứu
-Hiểu đ-ợc thực chất nghi lễ lên đồng của ng-ời Việt ở miền Bắc Việt
Nam.
-Hiểu đ-ợc thực chất nghi lễ lên đồng của ng-ời Lào ở Đông Bắc Thái
Lan, đặc biệt ở tỉnh Nakhonratchasima.
-Khẳng định đ-ợc điểm t-ơng đồng và khác biệt giữa hai đối t-ợng này.
6. Cấu trúc luận án
Nội dung trong luận án này đ-ợc kết cấu thành 5 ch-ơng bao gồm:
Ch-ơng 1,
Tổng quan về tình hình nghiên cứu
. Đề cập đến vấn đề lý do
chọn đề tài, lịch sử vấn đề, cơ sở lý thuyết và ph-ơng pháp nghiên cứu, phạm vì
mạnh. Nhng nghi lễ khuồng phi phon của ngời Lo đang trong tình trạng
giảm sút.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghi lễ lên đồng của người Việt
1
Thực ra nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ của người Việt đã
được nhiều nhà nghiên cứu trong cũng như ngoài nước tiến hành nghiên cứu từ
lâu với cách nhìn nhận khác nhau và đến nay với sự huyền bí ấy vẫn có không ít
nhà nghiên cứu, già lẫn trẻ trong đó có tôi, cứ theo đuổi nghiên cứu đề tài này.
Tài liệu đầu tiên tôi tìm được dựa theo năm xuất bản từ xưa đến nay
2
là
của ông Phan Kế Bính. Trong cuốn sách Việt Nam phong tục (3) của ông, xuất
bản đầu tiên năm 1915, có phần viết đến lên đồng trong tín ngưỡng Tứ Phủ.
Theo ông những người lên đồng đó gọi là Đồng Cốt, thờ về Chư vị. Những
người thờ bà Liễu Hạnh công chúa, Thượng Ngàn công chúa gọi là đồng Đức
mẹ, thờ các vị Hoàng Tử gọi là đồng Đức ông, thờ các vị Cậu gọi là đồng Cậu
quận, thờ các Cô gọi là đồng Cô. Người nào Chư vị bắt đồng phải ngồi đồng
hầu bóng thánh. Ngoài cung cấp thông tin tác giả còn có lời phê phán rằng
những người tin vào Đồng Cốt là những người có lòng mê tín.
Cuốn sách Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1) cũng có
phần nói đến lên đồng. Đó là, những người thờ Chư vị gọi là đồng cốt hay bà
trở thành bà đồng thì phải đến bàn thờ lên đồng hầu Chư vị đều đặn, nhiều bao
nhiêu càng tốt bấy nhiêu nếu muốn được khoẻ mạnh và phát tài.
Cuốn sách Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (2) trong phần
biến thể của đạo Lão cũng có nói đến Đồng Cốt. Đồng Cốt là những người có
căn thờ về Chư vị như Liễu Hạnh công chúa, Cửu Thiên Huyền nữ, Thượng
ngàn công chúa hoặc các vị Hoàng tử, các cậu các cô. Đồng Cốt chia ra đồng
Đức mẹ, đồng Đức ông, đồng cậu, đồng cô tùy theo người có căn thờ theo vị
nào. Có người có căn số thờ một vị, có người theo căn số phải thờ nhiều vị.
Những người có căn số phải thờ là những bà cô hay đau yếu, nằm mơ thấy bay
lên không lội dưới nước. Khi đi xem bói là được bảo có số thờ, thánh bắt đồng.
Những người có số thờ phải đội bát phù hương xin làm con công đệ tử ở một
cửa điện. Có người chỉ phải đội bát phù hương, có người được Chư vị bắt đồng 8
thì phải ngồi bóng thánh. Những ngày rằm, mồng một, tuần tiết, hoặc khi có
người nào đau yếu đến điện kêu cầu, đều có ngồi đồng hầu bóng.
Cuốn sách Mê tín dị đoan-một tệ nạn xã hội cần xóa bỏ do Trương Thìn
chủ biên (30) có nói đến lên đồng, là một hình thức biểu hiện tính chất cuồng
tín, nhảm nhí nhất của mê tín dị đoan. Bọn làm nghề đồng bóng thường đánh
vào tâm lý những người phụ nữ lạc hậu, kém hiểu biết, nhất là đánh vào tâm lý
những người hay đau ốm hoặc con cái khó nuôi, hiếm muộn cho là mình cao số
nặng, có số thờ, nên phải sắm lễ vật để đội bát nhang, ngồi đồng để được ngồi
nghe thánh dạy hoặc để xin tàn nhang nước thải , bùa bèn giải vận hạn, trừ ma,
trị bệnh v.v Đồng bóng đi liền với ăn uống, hút sách, với trưng diện khăn
chầu áo ngự, với đàn ngọt hát hay của cung văn nên cũng là một hình thức khá
hẫp dẫn đối với bọn ăn không ngồi rồi kiểu nhàn cư.
Dùng âm nhạc, hát và múa vào đồng cốt chính là một thủ đoạn nhằm kích
thích thần kinh, gây thêm không khí huyền ảo và tạo nên sự hấp dẫn để thu hút
người mê tín, kể cả những người vốn trước đó còn chưa tin vào thần thánh.
với nội dung trong cuốn sách Hát Văn trước đây. Tuy nhiên, tác giả đã bổ sung
thêm về sự phân tích khác nữa đó là, lên đồng là một hình thức diễn xướng dân
gian và một loại hình sân khấu tâm linh. Vì trong buổi hầu đồng còn có hình
thức múa gọi là múa đồng. Múa có rất nhiều điệu múa và nhiều đồng tác khác
nhau. Các điệu múa đó đã thể hiện sự tái sinh của các thần thánh. Cho nên với
sự kết hợp giữa âm nhạc lời hát và điệu múa nó đã tạo nên một sân khấu tâm
linh riêng trong văn hóa tín ngưỡng Việt Nam.
Cuốn sách Tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Trung Việt Nam do Nguyễn Hữu
Thông chủ biên (38) cũng có phần nói về hiện tượng đồng bóng. Tác giả cho
rằng, với sự khắt khe đối với phụ nữ của xã hội phong kiến xưa đã tạo cho hiện
tượng đồng bóng phát triển. Đối tượng chính của nghi thức này là người phụ nữ 10
cho nên việc tham gia của họ là để chuyện bức phá khỏi thế giới thực đã nhốt
kín họ trong cuộc sống thường ngày. Mặc dù ban đầu tác giả lý giải hiện tượng
đồng bóng với mặt tích cực của nó. Tuy nhiên cũng có phần nói đến mặt tiêu
cực đó là một số người lợi dụng thế lực của thần linh qua mối giao hòa bí ẩn
giữa chủ đền-giá đồng-thần linh do họ dựng nên tạo ra những biểu hiện vi phạm
pháp luật và ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống người khác như: việc lạm
dụng đồ mã nhang đèn không đúng nơi quy định; hình thức chữa bệnh bằng các
loại bùa chú, tàn nhang, nước thải; phải bỏ một số tiền quá lớn ngoài khả năng
chi trả để mua sắm lễ vật tiến cúng.
Cuốn luận án The Religion of The Four Palaces: Mediumship and
Therapy in Viet Culture của Hien Thi Nguyen (88) là một tác phẩm nói đến tín
ngưỡng Tứ Phủ và nghi lễ lên đồng rất đầy đủ và có hệ thống. Nội dung luận án
đã đề cập đến hệ thống thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ, nghi lễ lên đồng, sự trở
thành ông đồng bà đồng, đồ cúng lễ v.v. Tác giả đã kết luận rằng lên đồng là
hình thức diễn xướng văn hóa và diễn xướng chữa bệnh trong văn hóa truyền
thống người Việt.
những bất ổn tinh thần của một số người. Hiệu quả trị liệu nổi bật của lên đồng
dựa trên sự kết hợp gắn bó của các phương tiện trị liệu mang tính tâm thể (âm
nhạc trong cơ cấu nghi lễ là một nhân tố đặc biệt quan trọng) với các phương
tiện trị liệu mang tính tâm lý xã hội (trong đó hệ thống giải thích bệnh trong cơ
chế biểu tượng đóng vai trò cơ bản) làm nên tác dụng trị liệu tổng hợp của hiện
tượng lên đồng. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng lên đồng không phải là một trị
liệu hướng đến sự hoàn thiện tuyệt đối, nhưng nó là một cách nhận thức lại về
một tọa độ lịch sử xã hội và văn hóa của một cá nhân và cộng đồng để có điều
kiện xác định được vai trò xã hội của mình, làm thức tỉnh và cảm nghiệm thấy ở
mình một năng lực sống mới mạnh mẽ và có ý nghĩa hơn trước trong một cộng
đồng ít nhiều chia sẻ những cảnh ngộ với mình. 12
Bài Tín ngưỡng lên đồng từ cái nhìn của người trong cuộc của PGS. TS.
Lê Hồng Lý (34), nhìn nhận lên đồng từ khía cạnh của người trong cuộc. Tức là
cho một bà đồng tự kể chuyện về bản thần họ theo phương pháp tiểu sử bản
thân (life story). Chuyện kể (Narrative story) của một nhân vật đó đã bắt đầu từ
lúc bé và lớn lên. Rồi nhân vật đó đã tiếp cận sinh hoạt đồng bóng như thế nào.
Và cuối cùng nghi lễ lên đồng đã đem lại những gì cho bản thân họ. Tác giả
còn có vài nhận xét rằng, mục đính của lên đồng là để thoả mãn những nhu cầu
tâm linh và mặt khác thoả mãn cả nhu cầu tôn giáo lẫn văn hóa của một tầng lớp
khá giả, giàu có. Và với sự bấp bênh của nền kinh tế thị trường chưa ổn như
hiện nay làm cho họ phải dựa vào thần thánh để cầu mong trông cậy.
Bài Spirit Performance and the Ritual Construction of Personal Identity
in Modern Vietnam của Kirsten W. Endres (59) cũng là bài nghiên cứu về lên
đồng nhưng đối tượng chính là các ông đồng bà đồng. Tác giả cho rằng nghi lễ
lên đồng đã giúp cho ông đồng bà đồng có lời giải thích về bản thân của họ
thông qua cái gọi là “căn số”. Như người hay nóng tính là vì có căn thần linh
hay nóng tính, người thất bại trong buôn bán vì không tin vào “căn số” phải thờ
bà đồng (Lê Hồng Lý, Kristen Endres).
1.1.2 Nghi lễ lên đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan
Người Lào ở Đông Bắc Thái Lan có nghi thức lên đồng duy nhất đó là
“người hát ma trời”/mo lăm phi phả. Cũng như thế giới lên đồng trong tín
ngưỡng Tứ Phủ của người Việt, thế giới lên đồng của người Lào cũng đã được
nhiều nhà nghiên cứu khám phá với cách nhìn nhận khác nhau. Dưới đây là các
công trình nghiên cứu về lên đồng của người Lào sẽ được tôi trình bày theo thứ
tự thời gian.
Cuốn luận văn của Kittaya Savengjareon (99). Nghiên cứu đối tượng
“mo lăm phi phả” ở tỉnh Loi ệt và cho rằng “mo lăm phi phả” là một hình thức 14
chữa trị dân gian thông qua lễ nghi. “Mo lăm phi phả” chữa trị bằng mời ma
trời/phi then để giúp tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị. Thông thường người
ốm sẽ làm lễ cúng cho ma/phi hài lòng là sẽ khỏi bệnh.
Bài Phi phả: việc chữa trị bằng tín ngưỡng dân gian (104) là bài phỏng
vấn một người phụ nữ làm “mo lăm phi phả” ở một làng ở Đông Bắc. Bà “mo
lăm phi phả” kể rằng những người có thể chữa bệnh cho người khác phải là
người đã nhận bát nhang/ Khai từ người thầy “mo lăm phi phả” trước. Người là
“mo lăm phi phả” có cả nam lẫn nữ giới, đàn ông thì có ma trời nữ nhập còn
đàn bà thì có ma trời nam nhập và tin rằng họ là đôi cặp của nhau. Chính vì
vậy, khi chữa bệnh họ sẽ cầu xin cặp của mình ở trên trời giúp tìm ra ma/phi
nào làm cho người ốm đau với tiếng khèn đệm của “mo khèn”. Khi đến ngày
rằm tháng 3 và tháng 6 mỗi năm họ sẽ tổ chức lễ “lông khuồng” ở nhà “mo lăm
phi phả”.
Bài Tục Lông Khuồng lăm phi phả của Kovit Kaiyasit (94). Nghiên cứu
đối tượng này ở làng Bungpha xã Latkhao huyện Chokchai tỉnh
Nakhonratchasima. Tác giả cho rằng nghi lễ “Lông khuồng lăm phi phả” xuất
động được thể hiện trong lễ xuống sân/lông khuồng như trêu đùa hay nói về
chuyện trai gái đã giúp cho những người tham gia thoải mái tinh thân và tạo sự
đoàn kết trong cộng đồng. Ngoài ra còn giúp người ốm đau có tinh thần chống
đối với bệnh tật.
Bài phóng sự tín ngưỡng thờ cúng Phi Phả-Viêng Chăn của Sompong
Chaosuon (103). Đề cập đến việc thờ cúng Phi Phả-Viêng Chăn của người dân
làng Popan xã Tung Alun huyện Chokchai tỉnh Nakhonratchasima. Nghi lễ này
có người phụ nữ 52 tuổi đứng ra tổ chức vào ngày mụng 3 tháng 6 (tháng 5
dương) hàng năm. Những người tham gia đa số là người phụ nữ và sẽ cùng
nhau múa để cúng Phi Phả và Phi Viêng Chăn với tiếng khèn đệm của nhạc 16
công/mo khen. Sau buổi lễ họ cùng nhau nấu nướng và ăn trong không khí vui
mừng.
Cuốn luận văn Phương pháp điều trị dân gian: Nghiên cứu trường hợp
Mo Lăm Phi Phả ở làng Nong Yai, huyện Venh Noi, tỉnh Khon Ken của Mariko
Kato (101), cho rằng “mo lăm phi phả” là một hình thức điều trị bệnh tật do sự
hành động của ma/phi, nói một cách khác là do ma/phi làm. Nghi lễ thường
được tổ chức ở nhà người ốm đau và sau đó người ốm phải dâng lễ “khương
cảo” để trở thành con nhang/ “lục sịt” của phi phả. “Mo lăm phi phả” có ảnh
hưởng rất nhiều với cá nhân người ốm cũng như cộng đồng ở thôn quê. Vì vai
trò của mo lăm phi phả ngoài giải thích bệnh tật và động viên cho cá nhân người
ốm còn có vai trò quản lý hành vi của thành viên trong cộng đồng và nhóm con
nhang.
Trong cuốn sách Di sản văn hóa tôn giáo: Quyền năng sáng tạo trong
cộng đồng nông thôn của Kanchana Keothep (89) cũng có một phần nói về hình
thức lên đồng ma trời/phi phả, một dạng thức lên đồng rất phổ biến ở miền
Đông Bắc Thái Lan. Tác giả cho rằng nghi lễ chữa bệnh bằng cách nhập ma
trời/phi phả là một dạng thức chữa bệnh dân gian. Những người hành nghề
nhận giống nhau, đó là “mo lăm phi phả” là một hình thức chữa bệnh dân gian
của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan. Tuy nhiên, cũng có một số học giả đã lý
giải thêm về khía cạnh di sản văn hóa cộng đồng nông thôn (Kanchana Keothep
, 1997) và khía cạnh kiến thức bản địa (Yutthapan Tachakeu, 1997).
1.2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
Các khái niệm được tôi áp dụng trong luận án này bao gồm khái niệm về
biểu tượng chính; khái niệm về niềm tin; khái niệm về giới; khái niệm về dân
tộc học so sánh. Tôi đề cập đến các khái niệm này, vì ít được giới nghiên cứu
quan tâm đến một cách toàn diện, đặc biệt trong việc nghiên cứu nghi lễ lên
đồng của người Việt cũng như người Lào ở Đông Bắc Thái Lan.
-Khái niệm về biểu tượng chính (Dominent symbol)
Khái niệm về biểu tượng chính ở đây là của ông Victor Turner, nhà nhân
học phương Tây. Theo ông biểu tượng chính trong nghi lễ có đặc điểm như 18
sau: (1) có tính nổi bật và rõ ràng, (2) có tính đoàn kết, (3) ý nghĩa của chúng
được phân chia thành 2 điểm, một điểm về tư tưởng và một điểm về cảm xúc.
Tôi áp dụng khái niệm này với hy vọng tìm xem trong nghi lễ lên đồng
của người Việt cũng như của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan có những biểu
tượng chính gì? Và biểu tượng chính đó, có thể giúp chúng ta hiểu được thực
chất của chúng.
-Khái niệm về niềm tin
Nghi lễ lên đồng cũng như các hình thức chữa trị dân gian khác thường
phải đối mặt với nhiều thách thức từ phía y học hiện đại. Vì cách giải thích vấn
đề ốm đau dựa trên quyền lực hay sự linh thiêng của các thần linh thông qua
nghi lễ là đối lập với phương pháp của y học hiện đại.
Byron Good nhà nhân học y khoa (medical anthropologist) trường đại
người thì không đồng ý như vậy. Cho nên dân gian mới có câu “có thờ có
thiêng, có kiêng có lành” trong tiếng Việt, hay “mai chưa nha lộp lủ”/không tin
đừng xúc phạm trong tiếng Thái Lan. Điều này chứng tỏ vẫn còn có những
người có quan niệm đối lập với tư duy khoa học.
Tôi nghĩ rằng con người đều có lý do và luôn luôn tìm đến cái thích hợp
hay tốt nhất dành cho bản thân. Hơn nữa nghi lễ lên đồng hay hình thức chữa
bệnh dân gian khác chỉ là một sự lựa chọn trong nhiều phương pháp khác nhau
để thoả mãn cho bản thân họ. Chính vì vậy, chúng ta nên lắng nghe câu chuyện
của họ để hiểu họ nhiều hơn nữa.
-Khái niệm về giới (Gender)
Khái niệm giới ở đây với định nghĩa là một hệ thống văn hóa tương thích
với giới tính, lên đồng được nhìn nhận như là hệ thống văn hóa gắn liền với tính
nữ (Ngô Đức Thịnh, 33: 183). Lên đồng trong đạo Mẫu Tứ Phủ cũng như lên
đồng của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan số đông người tham gia là nữ giới. 20
Điều này có thể nhìn nhận lên đồng là một không gian nghi lễ (ritual space)
dành nhiều cho người phụ nữ. Điều mà tôi không tìm thấy trong lên đồng của
người Lào ở Đông Bắc Thái Lan mà có trong lên đồng của Đạo Mẫu Tứ Phủ là
người có tính “ái nam ái nữ”, đồng cô.
-Khái niệm về dân tộc học so sánh
Về khái niệm so sánh thì đã được các học giả áp dụng ở nhiều ngành
khoa học khác nhau, trong đó có ngành dân tộc học. Ngành dân tộc học sử
dụng khái niệm so sánh là để tìm ra những sự tương đồng và khác biệt của các
dân tộc trên thế giới. Và để khai thác được cái gọi là tính chung của con người
(human universal). Nhưng ở đây tôi chỉ sử dụng khái niệm so sánh để tìm ra sự
tương đồng và khác biệt giữa hai dân tộc Việt và Lào ở Đông Bắc Thái Lan
trong bối cảnh nghi lễ lên đồng mà thôi.
khác nữa do người thân giới thiệu. Người đồng thầy tên là Vân có nhà ở dốc
Vĩnh Tuy, Hà Nội. Trên nhà đồng thầy Vân có thờ điện tương đối rộng. Nhiều
lần tôi có cơ hội đến xem chính bà đồng Vân hầu đồng và một số các con nhang
khác của bà. Ngoài ra, tôi cũng có cơ hội tham gia cuộc hành hương do bà tổ
chức đi một số đền ở Thanh Hóa.
Từ hội bà đồng Vân, tôi cũng quen biết một ông đồng thầy ở phố Trần
Xuân Soạn, Hà Nội do bà chủ quán nước gần nhà ông giới thiệu. Một lần ông
mời tôi đến xem lễ mở phủ của một bà con nhang của ông ở chùa làng ở Thanh
Trì và một lần chính ông tổ chức ở điện trên nhà ông.
Cuối cùng tôi quen biết một bà đồng thầy ở thị trấn Yên Viên, Gia Lâm,
Hà Nội. Mặc dù tôi không được xem bà tổ chức nghi lễ lên đồng lần nào vì bà
mới mất chồng phải kiêng. Nhưng bà đã dẫn tôi đi xem buổi lên đồng của
người khác, một lần là ở trong chùa gần nhà bà và một lần là ở điện tư ở trung 4
Những tên các nhân vật được tôi viết đến trong cuốn luận án này đều sử dụng tên giả, vì muốn bảo vệ những
người cung cấp thông tin cho mình, còn các câu chuyện được tôi trình bày là trung thực. 22
tâm thị trấn Yên Viên. Có lần bà tổ chức hành hương đi một số đền ở Lạng
Sơn, tôi cũng được mời đi cùng.
Các cuộc điền dã đã được thực hiện
Ngày/Tháng/Năm
Địa điểm/Người tổ chức nghi lễ
8/2/2003
Điện tư, Ngã Tư Sở, người phụ nữ 50 tuổi
(chủ điện)
9/2/2003
23
26/2/2003
Đền Mẫu phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi
11/3/2003
Đền Mẫu đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ 40 tuổi
13/3/2003
Đền phường Định Công quận Hoàng Mai, Hà
Nội, người phụ nữ 40 tuổi
18/3/2003
Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ khoảng 40 tuổi
24/3/2003
Điện tư, khu xí nghiệp Giáp Bát, Hà Nội,
người phụ nữ khoảng 25 tuổi
25/3/2003
Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 60 tuổi
30/3/2003
Chùa Làng phường Định Công quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 70 tuổi
3/4/2003
Điện tư, đường Minh Khai, Hà Nội, người
phụ nữ gần 60 tuổi
5/4/2003
Đền xã Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam, hai
người phụ nữ 25 và 60 tuổi
9/4/2003
Đền bờ sông Kim Ngưu, Mai Động, Hà Nội,
người phụ nữ hơn 40 tuổi
15/11/2004
Phủ Giầy, Nam Định, người phụ nữ hơn 50
tuổi
20/11/2004
Điện tư, Trần Xuân Soạn, Hà Nội, người đàn
ông hơn 50 tuổi
21/11/2004
Điện tư, dốc Vĩnh Tuy, Hà Nội, người phụ
nữ gần 60 tuổi
27-28/11/2004
Đền Chúa Thác Bờ, Kỳ Sơn, Hòa Bình, hai
người phụ nữ 25 và gần 60 tuổi
1/1/2005
Hành hương đi Thánh Hóa với Hội bà đồng
Vân, chủ điện ở dốc Vĩnh Tuy
11/3/2005
Đền Mẫu phường Thanh Trì, quận Hoàng
Mai, Hà Nội, người phụ nữ hơn 50 tuổi
23/10/2005
Đền Đồng Bằng, Thái Bình, người phụ nữ
hơn 50 tuổi