Sự biến đổi nghi lễ lên đồng trong tín ngưỡng thờ mẫu của người việt ở đồng bằng bắc bộ hiện nay - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

PHẠM THỊ VÂN

SỰ BIẾN ĐỔI NGHI LỄ LÊN ĐỒNG TRONG
TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT
Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60.22.03.09

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Đặng Thị Lan

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Sự biến đổi nghi lễ Lên Đồng trong tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đặng Thị Lan.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực, có nguồn gốc
trích dẫn rõ ràng. Các kết luận chưa từng được công bố ở bất kỳ một công
trình nào.

Tác giả luận văn

Phạm Thị Vân



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 6
5. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................ 6
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.................................................. 7
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 7
CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA
NGƢỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ .................................................... 8
1.1. Cơ sở hình thành, phát triển và giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt ở đồng Bằng Bắc Bộ .................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu ........................................................ 8
1.1.2. Cơ sở hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt
ở đồng bằng Bắc Bộ .................................................................................. 13
1.1.3. Giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
................................................................................................................... 20
1.2. Lên Đồng - Nghi lễ đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở
đồng bằng Bắc Bộ ........................................................................................ 26
1.2.1. Khái niệm nghi lễ và nghi lễ Lên Đồng.......................................... 26
1.2.2. Vai trò của nghi lễ Lên Đồng của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ .... 34
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 42


CHƢƠNG 2 MỘT SỐ BIẾN ĐỔI CHỦ YẾU CỦA NGHI LỄ LÊN
ĐỒNG TRONG TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA NGƢỜI VIỆT Ở
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HIỆN NAY- VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN
NGHỊ .............................................................................................................. 44
2.1. Một số biến đổi chủ yếu của nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ
Mẫu của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay ..................................... 44
2.1.1. Khuynh hướng gia tăng sự tích hợp văn hóa .................................. 45
2.1.2. Biến đổi về quy mô và đối tượng thực hành nghi lễ Lên Đồng ..... 50
2.1.3. Biến đổi về trang phục trong thực hành nghi lễ Lên Đồng ............ 62
2.1.4. Biến đổi về đồ lễ trong nghi lễ Lên Đồng ...................................... 67


Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ

Tr

Trang


MỞ ĐẦU
1. Lý do chon đề tài
Tôn giáo, tín ngưỡng là thành tố quan trọng làm nên bản sắc của văn
hóa của mỗi dân tộc, nó được coi là hạt nhân, là linh hồn của văn hóa, quy
định tính chất đặc trưng của văn hóa. Với tư cách là một tín ngưỡng có nguồn
gốc bản địa, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt không chỉ làm phong phú đa
dạng cho nền văn hóa mà còn là nơi lưu giữ bản sắc, những đặc tính của nền
văn hóa. Ở khía cạnh này, tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được coi như một hiện
tượng đặc trưng cho nền văn hóa của Đồng bằng Bắc Bộ.
Nằm trong dòng chảy chung của văn hóa dân gian Việt Nam, tín
ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ không chỉ phác họa
nên bản chất và sắc thái đa dạng của đời sống tâm linh người Việt mà còn thể
hiện được đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”,
truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm, truyền thống tôn trọng người
phụ nữ, tăng cường ý thức liên kết cộng đồng.
Trong các hình thức diễn xướng của tín ngưỡng Mẫu, có thể nói Lên
Đồng là hình thức cơ bản nhất, đặc trưng nhất thể hiện được bản sắc của tín
ngưỡng Mẫu. Lên Đồng hay Hầu bóng là một hình thức biểu diễn mang tính
phức hợp, nó là sự kết hợp giữa nghi lễ và sân khấu, âm nhạc và lời hát, trang
phục và phong tục, nhảy múa và nhập thần.
Cùng với xu thế của sự phát triển và hội nhập, đặc biệt dưới tác động
của nền kinh tế thị trường, nghi lễ Lên Đồng cũng từng bước có những biến

Bộ, tác giả nghiên cứu chi tiết về sự hình thành, hệ thống thần linh, nghi lễ và
lễ hội. Tác giả đã có cái nhìn khách quan nhất đối với tín ngưỡng thờ Mẫu và
tục Lên Đồng, việc gắn Đạo Mẫu với Lên Đồng, cũng như gắn Lên Đồng với
Đạo Mẫu. Các công trình này mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Qua
công trình nghiên cứu của tác giả, chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của hai hiện
2


tượng tưởng như tách rời này. Còn về thực tiễn xã hội thì khi đặt nghi lễ Lên
Đồng trong bối cảnh Đạo Mẫu sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ
Mẫu, giảm bớt đi những mặc cảm và thành kiến xã hội đối với tín ngưỡng
này. Riêng về xu hướng biến đổi, do giới hạn của nghiên cứu nên các tác giả
không đề cập đến một cách chi tiết.
Ngoài ra, tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu còn có nhiều tác giả, công
trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo, bài báo đề cập đến như: Tam tòa thánh
Mẫu của Đặng Văn Lung, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1991; Các nữ thần
Việt Nam của Đỗ Thị Hảo và Mai Thị Ngọc Chúc, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội,
1984; Đạo Thánh ở Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, 2001; “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân
gian ở Việt Nam” của Đinh Gia Khánh trên Tạp chí Văn học số 5-1992; “Đạo
Mẫu ở nước ta – nhìn từ hệ thống đền miếu và thần tích” của Nguyễn Minh
San trên Tạp chí dân tộc học số 1 -1992; “Về cơ sở hình thành và phát triển
của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ - xét dưới
góc độ triết học”, của Nguyễn Hữu Thụ trên Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 1
- 2012; “Quanh tục thờ Thánh Mẫu” của Hương Nguyện trên Tạp chí di sản
văn hóa số 7 - 2004…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên của các tác giả tiếp cận tín
ngưỡng thờ Mẫu từ các góc độ khác nhau: văn hóa, tôn giáo, triết học, lịch sử,
nghệ thuật…đã cho thấy sự phong phú, đa dạng và vị trí của tín ngưỡng này
trong đời sống văn hóa dân gian Việt Nam.

những yếu tố tiềm tàng trong bản năng, trong vô thức của các căn Đồng với tư
cách là những chủ thể văn hóa của một loại hình tín ngưỡng đặc biệt.
Bên cạnh đó, còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí như: Nghiên
cứu lý luận, Tạp chí Triết học, Tạp chí Ngiên cứuTôn giáo, Tạp chí Văn hoá

4


dân gian, Tạp chí Văn học… cũng nghiên cứu về Lên Đồng dưới nhiều góc
độ tiếp cận khác nhau.
Như vậy, việc nghiên cứu về Lên Đồng ở Việt Nam nói chung đã được
đề cập đến trong nhiều tác phẩm. Các công trình này đã nghiên cứu một cách
hệ thống về Lên Đồng ở Việt Nam nhưng các công trình nào chỉ ra những xu
hướng biến đổi cụ thể của nghi lễ Lên Đồng chưa nhiều.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học, các tác giả đi trước, kết hợp với những kiến thức do
chính bản thân sưu tầm, tích lũy chọn lọc trong quá trình học tập, công tác và
khảo sát thực tế về tín ngưỡng thờ Mẫu tại các trung tâm thờ Mẫu, chúng tôi
muốn nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm “sự biến đổi nghi lễ Lên Đồng” để qua
đó ta có được cái nhìn khách quan, chân thực hơn về những giá trị và hạn chế
của nó góp phần làm phong phú nguồn tư liệu văn hóa, đặc sắc, đa dạng trong
dòng chảy tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở trình bày một số vấn đề lý luận chung về tín ngưỡng thờ
Mẫu và nghi lễ Lên Đồng, luận văn phân tích làm rõ một số xu hướng biến
đổi của nghi lễ Lên Đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng
bằng Bắc Bộ và nêu một số khuyến nghị nhằm phát huy những biến đổi tích
cực và hạn chế những biến đổi tiêu cực của nghi lễ Lên Đồng trong tín
ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.

+ Phương pháp so sánh để thấy được những biến đổi của nghi lễ Lên
Đồng hiện nay so với những năm trước đây. Ngoài ra, chúng tôi sử dụng các
thao tác phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và vận dụng phương pháp liên
ngành, đặc biệt là liên ngành với sử học và văn hóa học, tôn giáo học...để
nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu nói
6


chung, tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
cũng như những biến đổi của nghi lễ Lên Đồng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu những giá trị văn hóa của tín
ngưỡng thờ Mẫu nói chung và nghi lễ Lên Đồng của người Việt ở đồng bằng
Bắc Bộ nói riêng, làm rõ những biến đổi căn bản của nghi lễ Lên Đồng trong
giai đoạn phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy tại các cơ sở có đào tạo những môn học liên quan đến tôn giáo, văn
hoá, tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 2 chương với 5 tiết ngoài phần mở đầu, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục ảnh.

7


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU CỦA
NGƢỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
1.1. Cơ sở hình thành, phát triển và giá trị của tín ngƣỡng thờ Mẫu của
ngƣời Việt ở đồng Bằng Bắc Bộ

nhận thấy người mẹ đóng vai trò quan trọng trong việc mang thai, sinh nở,
nuôi dưỡng và che chở cho con cái của mình nói riêng và cho cả cộng đồng
nói chung. Vì vậy người Việt đã sớm hình thành niềm tin thiêng liêng vào
người mẹ mang nặng đẻ đau, che chở và đùm bọc đàn con. Niềm tin ấy được
gửi gắm vào những người phụ nữ được tôn làm Nữ thần, Mẫu thần như mẹ
Thượng Thiên sáng tạo ra vũ trụ, cai quản sự sống ở cõi trời; mẹ Thượng
Ngàn bảo vệ chốn rừng xanh, đảm bảo cho sự sống của thực vật, động vật
tầng đất, mẹ Thoải trông giữ các cửa sông, cửa biển. Cùng với mẹ là hệ thống
thần linh làm nhiệm vụ bảo vệ, giám sát các công việc ở từng miền. Sự kết
hợp khéo léo, đa dạng các thần linh trong trí tưởng tượng của con người hoặc
gắn kết những anh hùng dân tộc có công dựng nước, chống giặc ngoại xâm
theo hệ thống từ trên xuống dưới đều phục vụ các mẹ ở từng miền đã tạo nên
một tín ngưỡng dân gian đặc sắc của người Việt: Tín ngưỡng thờ Mẫu.
Tuy chưa thống kê đầy đủ nhưng có thể thấy cách tôn xưng Mẫu,
Quốc Mẫu, Thánh Mẫu có liên quan mật thiết đến tín ngưỡng Mẫu của người
Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, thể hiện ở việc các vị Thánh trong tín ngưỡng thờ
Mẫu, ngay từ lớp Nữ thần, Mẫu thần, các vị thần đã mang các danh xưng
Vương Mẫu, Quốc Mẫu như Ỷ Lan - Mẫu nghi thiên hạ, mẹ Thánh Gióng Vương Mẫu, thần núi Tam Đảo - Quốc Mẫu… nhất là ở lớp thờ Mẫu Tam
phủ - Tứ phủ mang danh xưng Mẫu, Thánh Mẫu như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Thiên - Đệ Nhất Thánh Mẫu, Mẫu Thượng ngàn Đệ Nhị Thánh Mẫu,
Mẫu Thoải - Đệ Tam Thánh Mẫu, Mẫu Địa - Địa Tiên Thánh Mẫu… Xuất
9


phát từ cách gắn danh xưng Mẫu để tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào
đó hay để chỉ sự sinh sôi, nảy nở, sinh hóa không ngừng của vạn vật, bản thể
vũ trụ dần dần đã đưa đến sự “nâng cao”, “lên khuôn” thành các vị thần đứng
đầu của Đạo Tam phủ - Tứ phủ.
Các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và thờ Tam - Tứ phủ
có quan hệ mật thiết với nhau nhưng chúng không phải là đồng nhất. Mẫu là

phủ thuộc về ba không gian địa lý: phủ trời (đứng đầu là Mẫu Thượng Thiên),
phủ rừng (đứng đầu là Mẫu Thượng Ngàn), phủ nước (đứng đầu là Mẫu
Thủy) và một phủ thuộc về con người - Nhân Phủ (Mẫu Liễu Hạnh). Trong
một số trường hợp, Mẫu Liễu Hạnh hóa thân vào Mẫu Thượng Thiên nên
trong điện chỉ có Tam tòa nhưng thực chất lại có sự hiện diện của Tứ phủ. Vì
vậy gọi là Tam phủ - Tứ phủ. Việc thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ cũng đã bước
đầu hình thành một hệ thống tổ chức, thờ cúng trong các đền phủ, những nghi
thức đã được chuẩn hóa như nghi lễ Lên Đồng và lễ hội “tháng Tám giỗ Cha,
tháng Ba giỗ Mẹ”.
Có thể thấy, sự ra đời của đạo Tam phủ - Tứ phủ ở đồng bằng Bắc Bộ
vào giai đoạn thế kỷ XVI là điểm hoàn tất cho một quá trình phát triển lâu dài,
mang tính tất yếu của tín ngưỡng thờ Mẫu được đánh dấu bằng sự xuất hiện
của Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
Theo truyền thuyết, Mẫu Liễu là đệ nhị tiên chủ Quỳnh Nương trên
thiên đình, trong một lần dâng rượu cho vua cha do lỡ làm vỡ chén ngọc nên
bị đày xuống hạ giới, đầu thai vào gia đình Lê Thái Công ở thôn An Thái, xã
Vân Cát, huyện Thiên Bản dưới cái tên Giáng Tiên. Nàng kết hôn với Đào
Lang con nuôi Trần Công sinh được một trai, một gái. Đột nhiên, nàng không
bệnh mà mất lúc 21 tuổi. Thực ra nàng hết hạn đi đày phải về trời. Nhớ
chồng, thương con, nàng xin giáng trần và được phong làm Liễu Hạnh công
chúa. Sau khi cha mẹ qua đời, chồng mất, con cái trưởng thành, nàng đi chu
11


du khắp nơi. Vào làng Sóc - Nghệ An, nàng kết hôn với người chồng trước đã
thác sinh và sinh được một con trai. Nàng giúp chồng thi đỗ làm quan. Sau đó
nàng lại phải về trời vì hết hạn. Do nặng lòng với cuộc sống dương gian,
Ngọc Hoàng lại cho nàng giáng sinh lần thứ ba xuống vùng Phố Cát - Thanh
Hoá. Lần này nàng mang theo hai người hầu là Quế và Thị. Nàng hiển linh ở
đâu, người lành được phúc, kẻ ác bị tai vạ… Câu chuyện về Mẫu Liễu Hạnh

Có thể thấy, với ba lớp thờ Nữ thần, Mẫu thần, Tam phủ, Tứ phủ và sự
xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh là bước hoàn thiện, cũng là đặc trưng
của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc Bộ. Sự gắn kết giữa ba lớp thờ Mẫu
ở đồng bằng Bắc Bộ là một điển hình của mô hình kinh điển thờ Mẫu trong
lịch sử. Đó là mối quan hệ diễn tiến theo chiều hướng phát triển của lịch sử
nhưng đồng thời cũng mang tính nội tại khi có sự tương tác, sắp xếp lại của
tục thờ Mẫu Tam phủ - Tứ phủ đến tục thờ Nữ Thần, Mẫu Thần.
Như vậy, qua các phân tích trên đây, tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được
hiểu như sau: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian được
hình thành bởi sự tích hợp các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu và thờ
Tam phủ - Tứ phủ, là sự ngưỡng mộ, tôn vinh và tin tưởng với niềm tin thiêng
liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự
sống của quê hương, đất nước, con người.
1.1.2. Cơ sở hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt ở đồng
bằng Bắc Bộ
*Về vị trí địa - văn hóa
Như ta đã biết, con người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình
phải thông qua quá trình tác động vào giới tự nhiên, những điều kiện địa lý,
môi trường khí hậu mà họ đang sống thì họ mới có thể trở thành con người
theo đúng nghĩa của nó, tức là con người sáng tạo ra các phương thức sản
xuất vật chất và các hoạt động tinh thần của mình. Nói cách khác, môi trường
13


tự nhiên tạo ra thần thái, bản sắc của mỗi nền văn hóa để căn cứ vào đó con
người tìm ra những phương thức sống khác nhau sao cho phù hợp, đó có thể
là tập quán, lối sống, tôn giáo, tín ngưỡng, phương thức sản xuất, canh tác …
Bởi vậy, khi nghiên cứu, tìm hiểu một loại hình tôn giáo, tín ngưỡng nào đó
thì không thể không đề cập đến những điều kiện thuộc về địa - văn hóa của
nơi đã sản sinh ra nó.

Từ điều kiện địa hình như trên nên ngay từ sớm, người Việt vùng
ĐBBB đã chọn nghề trồng lúa nước là phương thức canh tác chính của mình.
Bên cạnh đó, nhờ có nhiều sông hồ, ao ngòi nên người dân cũng chú trọng tới
việc khai thác thủy sản, song diện tích trồng lúa vẫn là chủ yếu.
Mặt khác, khí hậu vùng Bắc Bộ thật độc đáo, khác hẳn những đồng
bằng khác. Đồng bằng Bắc Bộ có một mùa đông thực sự với ba tháng có nhiệt
độ trung bình dưới 180C, do đó mà có dạng khí hậu bốn mùa với mỗi mùa
tương đối rõ nét. Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa như vậy đã tạo cho
Bắc Bộ một hệ sinh thái phồn tạp, chỉ số đa dạng giữa số giống loài và số cá
thể rất cao, thêm vào đó là những cánh rừng rậm rạp, nhiều chim thú, thuận
lợi cho việc săn bắt, hái lượm của người Việt cổ và việc chăn nuôi, trồng trọt
của cư dân sau này. Tuy nhiên, cũng chính kiểu khí hậu này nhiều khi lại trở
thành thách thức không nhỏ đối với cư dân vùng này trước những nguy cơ về
thiên tai, lũ lụt, hạn hán và cả bão tố. Với sự thất thường của thời tiết như trên
đã ảnh hưởng rất lớn tới năng suất cây trồng của nông dân.
Đứng trước sự bất lực với thiên nhiên, người nông dân luôn thể hiện
khao khát, mong chờ sự che chở của một thế lực bên ngoài, từ đó dẫn đến
việc con người thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên như mưa, gió, sấm,
chớp…những cây đa, cây đề, hòn đất, hòn đá… Đối với họ, mọi sự vật, hiện
tượng sinh hóa trong vũ trụ bao la huyền bí này đều có thể được thờ cúng
“một hòn đá lớn, một gốc cây cổ thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi
15


cao, một vũng nước giữa đồng, một gốc cây âm u đều là cơ sở của thần linh.
Thần ở khắp cả, thấm nhuần khắp cả, tất cả đều là thần”[76, tr. 20] và vô hình
chung họ đã gắn cho các hiện tượng tự nhiên ấy một sức mạnh siêu nhiên và
tôn thờ nó. Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh từng viết: “Về phương diện tôn
giáo, cứ theo các truyền kỳ đời trước thì có thể đoán rằng tổ tiên ta ở đời
thượng cổ tín ngưỡng một thứ tự nhiên đa thần giáo, tin rằng phàm các hiện

không phụ thuộc vào khái niệm thuần túy, cũng như việc phát minh ra máy
dệt tự động và việc sử dụng đường sắt không phụ thuộc vào triết học Hêghen.
Nếu quả ông ta muốn nói về “bản thể” của tôn giáo, tức là nói về cơ sở vật
chất của cái bản thể hư ảo ấy thì ông ta phải tìm nó, không phải trong “bản thể
của con người”, cũng không phải trong những tân từ của Thượng đế, mà là
chỉ trong thế giới vật chất mà mỗi giai đoạn phát triển của tôn giáo đều thấy
nó đã tồn tại”[49, tr. 214-215]. Qua đây ta thấy, để có thể giải thích cái tôn
giáo nói riêng, đời sống tinh thần nói chung một cách đúng đắn và khoa học
thì chúng ta phải giải thích được các cơ sở vật chất mà ở đó nó được sinh ra,
tồn tại và phát triển.
Như vậy, nếu như các điều kiện về địa - văn hóa đã góp phần định hình
nên đặc thù văn hóa của cộng đồng từ đó gián tiếp tạo nên những cơ sở cho sự
ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu thì những cơ sở kinh tế xã hội lại là những yếu
tố trực tiếp làm tiền đề cho sự ra đời và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu.
Chính vì vậy, để giải thích về sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ
Mẫu, bên cạnh những điều kiện về địa - văn hóa, chúng ta còn phải lý giải nó
dựa trên những đặc trưng của phương thức sản xuất trồng lúa nước tiểu nông
vùng ĐBBB.
Có thể thấy rằng, cơ sở kinh tế chủ yếu chi phối tới sự hình thành và
phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu vùng ĐBBB chính là nền nông nghiệp lúa
nước. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình, khí hậu phức tạp nên việc ứng dụng
17


khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp rất khó thực hiện, thường nó chỉ
thực hiện được trong phạm vi nhỏ, hẹp. Thêm vào đó, tính tiểu nông phụ
quyền trong gia đình người Việt là điểm nổi bật đã tạo nên sự manh mún, nhỏ
lẻ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các địa phương thuộc ĐBBB. Hơn
nữa, đặc trưng lớn nhất của các nước phương Đông nói chung và Việt Nam
nói riêng (điển hình là vùng ĐBBB) là sự tồn tại lâu dài và phổ biến của hình

cấp thì giai cấp bị trị nói chung và thân phận người phụ nữ nói riêng luôn chịu
sự đè nén, áp bức, bóc lột cùng cực và bị đẩy xuống đáy cùng xã hội. Họ cảm
thấy bất lực và không tìm thấy lối thoát trong cuộc sống hiện tại. Họ nhận ra
rằng cần phải tìm đến một thế giới mới - thế giới ấy có thể giúp an ủi và xoa
dịu nỗi đau cho con người ở cuộc sống thực tại. Thế giới ấy chính là thần linh
và thực sự khi đến với thế giới ấy con người cảm thấy được an ủi và sẻ chia.
Khi nghiên cứu về điều này, Lênin chỉ rõ: "Sự bất lực của giai cấp của
giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng
tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất
lực của những người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra
lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu"[80, tr. 46]. Sự ra đời
của tín ngưỡng Mẫu chính là sự phản ứng và phản kháng lại xã hội phong
kiến thế kỷ XV - XVI với đầy rẫy áp bức, bóc lột. Xã hội loạn lạc, chiến tranh
xảy ra liên miên, con người lương thiện bị tước đi quyền làm người, làm chủ
cuộc sống của mình. Bởi vậy, họ phải tìm đến tín ngưỡng Mẫu với hy vọng
được cảm thông và chia sẻ. Phần đông trong số người đến với tín ngưỡng
Mẫu là phụ nữ. Trong gia đình, ngoài xã hội, vai trò của người phụ nữ luôn bị
coi nhẹ, họ không có quyền quyết định việc gì, ngay cả tự do cá nhân cũng bị
kiểm soát gắt gao. Bị trói buộc, kìm kẹp trong những luật lệ hà khắc khiến
người phụ nữ muốn vùng dậy đấu tranh, đòi công bằng, bình đẳng, được thực
hiện theo đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của người phụ nữ. Chính điều đó đã
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status