Tín ngưỡng phồn thực của người việt ở đồng bằng bắc bộ - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khoá luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan đoàn thể như Thư Viện Quốc Gia
Hà Nội, Thư Viện Trường Sư Phạm Hà Nội, Bảo Tàng Dân Tộc Học… Tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô, đặc biệt là cô giáo ThS. Trần
Thị Thu Hà - người hướng dẫn trực tiếp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện và hoàn thiện khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 6 tháng 3 năm 2012
Tác giả khóa luận

Phạm Thị Vân

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận
này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần
Thị Thu Hà
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các

1.1.1.Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 9
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 13
1.1.3. Đôi nét về văn hóa truyền thống của ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ 15
1.2. Tín ngƣỡng phồn thực ở Việt Nam....................................................... 21
1.2.1. Khái niệm tín ngƣỡng phồnn thực ........................................................ 21
1.2.2. Nguồn gốc của tín ngƣỡng phồn thực ................................................... 25
1.2.3. Bản chất của tín ngƣỡng phồn thực ...................................................... 28
1.2.4. Quá trình phát triển của tín ngƣỡng phồn thực ..................................... 30
1.2.5. Đặc điểm của tín ngƣỡng phồn thực ..................................................... 36
Chƣơng 2: Tín ngƣỡng phồn thực của ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ . 40
2.1. Nguồn gốc ra đời tín ngƣỡng phồn thực của ngƣời Việt ở đồng bằng
Bắc Bộ ............................................................................................................. 40
2.1.1. Nguồn gốc về kinh tế - xã hội ............................................................... 40
2.1.2. Nguồn gốc về văn hóa – tâm linh ......................................................... 43

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

2.2. Tình hình tín ngƣỡng phồn thực của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc
Bộ .................................................................................................................... 49
2.2.1 Tín ngƣỡng phồn thực thể hiện trong các nghi lễ .................................. 49
2.2.2. Tín ngƣỡng thể hiện trong các lễ hội dân gian ..................................... 58
2.2.3. Tín ngƣỡng thể hiện dƣới hình thức thờ các biểu tƣợng ...................... 65
2.3. Đặc điểm và vai trò của tín ngƣỡng phồn thực vùng đồng bằng Bắc

những cái đó đƣợc thể hiện sâu sắc qua các loại hình sinh hoạt văn hóa dân
gian, mà tiêu biểu nhất là mảng tín ngƣỡng phồn thực.
Tìm hiểu về tín ngƣỡng phồn thực là góp phần tìm hiểu diện mạo cuộc
sống của Tổ tiên ta, tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc còn sót lại trong các tục
lệ; là khai thác những giá trị tinh thần tổt đẹp trong quá trình dựng nƣớc ở
những con ngƣời lam lũ sáng tạo, chịu thƣơng chịu khó, nặng nghĩa nặng tình
với xứ sở quê hƣơng.
Tín ngƣỡng phồn thực là tín ngƣỡng sùng bái sự sinh sôi nảy nở của
giới tự nhiên và con ngƣời. Hình thức tín ngƣỡng này đƣợc các nhà khoa học
cho là thuộc các cơ tầng văn hóa nguyên thủy, xuất hiện vào thời Đá Mới, khi
bắt đầu có trồng trọt và chăn nuôi (trồng rau, củ....) và đƣợc phổ biến trên
toàn thế giới. Hình thức tín ngƣỡng này đƣợc nuôi dƣỡng và bảo lƣu một cách
tích cực nhất trong môi trƣờng nông nghiệp lúa nƣớc, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, tín ngƣỡng phồn thực là sản phẩm văn hóa của con ngƣời trong
mối quan hệ với tự nhiên trời đất và xã hội con ngƣời. Đặc biệt, với ngƣời
Việt, niềm tin của họ vào tín ngƣỡng phồn thực rất mãnh liệt, ăn sâu vào máu
thịt ngƣời dân và trở thàng một nguồn lực tinh thần to lớn góp phần xây dựng
nên bản sắc văn hóa không thể thiếu của ngƣời Việt xƣa và nay.
Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

2

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Tìm hiểu những sinh hoạt văn hóa tín ngƣỡng đang trở thành một yêu



Khoá luận tốt nghiệp

3

Trường ĐHSP Hà Nội 2

trong đời sống dân dã của cƣ dân Việt ở đồng bằng Bắc Bộ và là một vấn đề
không còn mới mẻ, có rất nhiều tác giả cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề này.
Đầu tiên phải kể đến bộ sách của học giả Toán Ánh (1969), Nếp cũ hội
hè đình đám (2 quyển), (Tái bản 2005 – quyển thƣợng), NxB Trẻ, Tp.HCM .
Tập hợp và giới thiệu nhiều lễ hội cổ truyền. Đây chính là bộ sƣu tầp đầu tiên
về các lễ hội cổ truyền Việt Nam. Tác giả đã giới thiệu và phân tích khá cặn
kẽ về các “thần tích” cùng các “cổ tục” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Đặc biệt
tác giả dành một phần riêng cho việc trình bày những đặc tính của các cổ tục
Việt Nam trong hội hè đình đám. Ngoài những mô tả, tác giả còn đƣa ra
những ý kiến và những lập luận khá sâu sắc lý giải về yếu tố phồn thực, tính
“dâm, tục” trong những trò diễn, trò chơi phong tục. Đặc biệt tác giả còn đề
cập đến sự ảnh hƣởng của tƣ duy nông nghiệp coi nặng yếu tố phồn thực đến
những sinh hoạt hàng ngày của ngƣời dân.
Tiếp theo phải kể đến cuốn sách Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở
Việt Nam, (NxB KHXH, 2001), do tác giả Ngô Đức Thịnh chủ biên. Đây thực
sự là một công trình chuyên sâu về tín ngƣỡng và các vấn đề tín ngƣỡng ở
Việt Nam. Trong công trình này, tín ngƣỡng phồn thực chỉ đƣợc tiếp cận dƣới
dạng các nghi lễ phồn thực và đƣợc nhắc tới nhƣ một loại nghi lễ nằm trong
hệ thống các nghi lễ của tín ngƣỡng nông nghiệp. Tuy không phân tích và đi
sâu vào tín ngƣỡng phồn thực nhƣng công trình đã trình bày khá đầy đủ các
vấn đề của tín ngƣỡng bản địa này, từ việc điểm qua về bản chất của tín

hội hè đình đám)... thì ở một số bài viết chuyên sâu đăng trên các tạp chí
chuyên ngành, tín ngƣỡng phồn thực trở thành đối tƣợng nghiên cứu chính.
Bài viết Tín ngưỡng phồn thực, nhìn từ góc độ văn hóa lịch sử của Đỗ
Lai Thúy (1994), Tạp chí VHNT, 122 (số 8), tr.16-18. Bài viết giúp ngƣời đọc
có đƣợc cái nhìn khái quát về tín ngƣỡng phồn thực ở Việt Nam ngay từ
những ngày đầu xuất hiện “tự nhiên nhƣ cây cỏ” trong đời sống nông nghiệp
nhƣ một “nguyên tắc thiết yếu” hay một cái gì đó nhƣ là “đạo sống”, “đạo
sinh tồn”. Theo dòng lịch sử, các biểu hiện của tín ngƣỡng phồn thực ở Việt
Nam cũng trình bày đầy đủ và mang tính khái quát cao.
Ở một số các bài viết khác nhƣ Nguyễn Minh San (1998), “Lễ thức
phồn thực trong sinh hoạt văn hóa dân gian ở Phú Thọ”, Tạp Chí VHNT, 183
(số 9), tr, 41 – 43. Nguyễn Văn Hậu (1999), “Biểu tượng phồn thực trong lễ
hội nông nghiệp cổ truyền Việt Nam và các nước Đông Nam Á”, Tạp chí
VHNT, 183 (số 9), tr. 68-71. Đặng Hoài Thu (2008), “Tín ngƣỡng phồn thực
qua một số trò diễn hội làng” Tạp chí VHNT, (số 12), tr 34-37... Tín ngƣỡng
Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

5

Trường ĐHSP Hà Nội 2

phồn thực lại đƣợc tiếp cận một cách cụ thể hơn bằng việc giải mã biểu tƣợng
của nó trong lễ hội, tìm hiểu bản chất tín ngƣỡng qua các trò diễn trong hội
làng hoặc nghiên cứu ý nghĩa tín ngƣỡng bằng việc nhận diện các lễ thức
phồn thực trong các lễ hội ở địa phƣơng khác nhau…Tuy nhiên thì các bài


6

Trường ĐHSP Hà Nội 2

học gặt hái đƣợc vẫn còn hạn chế, chƣa đáp ứng đƣợc đòi hỏi cuả những ngƣời
muốn tìm hiểu về tín ngƣỡng dân gian này. Hành trình nghiên cứu về tín
ngƣỡng phồn thực, một tín ngƣỡng cổ xƣa và là tín ngƣỡng bản địa của dân tộc
vẫn còn không ít khoảng trống, đặc biệt là những nghiên cứu chuyên sâu.
3. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống những lý luận cơ bản về tín ngƣỡng phồn thực trên thế giới
nói chung và ở Việt Nam nói riêng, qua đó giới thiệu khái quát chung về sự ra
đời, hình thành và phát triển cũng nhƣ hình thức biểu hiện của tín ngƣỡng này
trong tâm thức và đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của ngƣời Việt Nam.
Nghiên cứu biểu hiện của tín ngƣỡng phồn thực trong đời sống của
Ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ từ đó tìm ra những nét đặc sắc, sự vận
động và biến đổi của tín ngƣỡng này trong tâm thức dân gian cũng nhƣ những
giá trị của nó trong đời sống tinh thần của ngƣời dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng mghiên cứu chính của khóa luận là tín ngưỡng phồn thực
của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.
* Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ hạn chế, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tìm hiểu về tín
ngưỡng phồn thực của người Việt sinh sống ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Những nội dung và biểu hiện của tín ngƣỡng phồn thực trong lễ hội
đƣợc nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay trên cơ sở so sánh, đối chiếu với
những giai đoạn trƣớc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
*Phương pháp luận

6. Đóng góp của khoá luận
Hệ thống hoá các tƣ liệu có liên quan đến tín ngƣỡng phồn thực; cung
cấp khá đẩy đủ tƣ liệu về tín ngƣỡng phồ thực của ngƣời Việt ở đồng bằng
Bắc Bộ, có thể phục vụ cho những nghiên cứu tiếp theo về tín ngƣỡng phồn
thực này cũng nhƣ góp phần nhỏ tƣ liệu cho nghiên cứu tín ngƣỡng nói chung
ở Việt Nam.
Nghiên cứu và phân tích những đặc trƣng cơ bản của tín ngƣỡng phồn
thực cũng nhƣ vai trò của nó trong đời sống tâm linh của của ngƣời Việt.
Khoá luận làm rõ những đặc điểm biểu hiện của tín ngƣỡng phồn thực và ý
nghĩa của nó, lý giải bản chất, nội dung hình thức biểu hiện của tín ngƣỡng
phồn thực trong đời sống của ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

8

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Bằng việc nghiên cứu xu thế vận động và biến đổi của tín ngƣỡng phồn
thực theo không gian và thời gian, khoá luận tìm hiểu, xác định giá trị văn
hoá, xã hội của tín ngƣỡng phồn thực đối với quá trình phát triển tộc ngƣời và
lịch sử văn hoá của ngƣời Việt ở Bắc Bộ.
Làm rõ nhữg giá trị của tín ngƣỡng phồn thực trong đời sống tinh thần
của ngƣời dân; những tác động của đời sống đƣơng đại với tín ngƣỡng phồn
thực

Đồng bằng Bắc Bộ đƣợc xem nhƣ là một tam giác cân, đích là Việt Trì
và phần đáy từ Quảng Yên đến Ninh Bình. Theo số liệu thống kê của Tổng
Cục thống kê thì đồng bằng Bắc Bộ là sự hợp nhất của hai nhóm phóng vật
khổng lồ của hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình.
Vùng đất cao ven đồng bằng có liên quan đến các thềm phù sa cổ,
thƣờng đƣợc quen gọi là vùng trung du. Đây sẽ là vùng vành đai công nghiệp
tƣơng lai, vừa phục vụ cho đồng bằng trong xu thế tiết kiệm đất của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cái nôi đầu tiên của đồng bằng, lấy Hà Nội làm tâm đƣợc phân ra 2
phần: từ Hà Nội lên đến đỉnh của châu thổ là phần thƣợng châu thổ, từ Hà Nội
đổ xuống Nam Định – Hải Dƣơng là phần trung Châu thổ.
Vùng hạ châu thổ với các cồn cát ven biển, các bãi phù sa, các cửa sông
hình phễu, các bồn trũng ở rìa... châu thổ Bắc Bộ tiến ra biển vào khoảng
Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

10

Trường ĐHSP Hà Nội 2

100m một năm. Từ khi hình thành tới nay châu thổ Bắc Bộ đã tiến ra đến
khoảng 160km. Ngƣời Việt có quan niệm ngƣời tăng thì đất cũng tăng với sự
hình thành của châu thổ Bắc Bộ, ngƣời Việt vẫn còn sống trong tƣ duy huyền
thoại về đẻ đất, đẻ nƣớc. Một kỉ lục về đẻ đất, những vẫn kém xa về kỉ lục đẻ
ngƣời, cho nên tấc đất tấc vàng tính bình quân theo đầu ngƣời ngày càng giảm
sút nghiêm trọng [ 10, Tr 10]

Trường ĐHSP Hà Nội 2

cũng nhƣ đời sống văn hóa cộng đồng dân cƣ ở đây. Đó là việc hàng năm Bắc
Bộ đón nhận một lƣợng phù sa khổng lồ chảy qua các nhánh sông ra biển
Đông. Từ đó việc hình thành nên một vùng đồng bằng thuộc loại lớn nhất ở
nƣớc ta, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai cho canh tác nông nghiệp.
*Đất: Tính phì nhiêu của đất đai ở vùng đồng bằng Bắc Bộ là điều
không còn phải tranh cãi. Tuy vậy, cũng có ngƣời cho rằng đây là loại đất
nghèo mùn, nhƣng cũng có ngƣời lại cho rằng lƣợng mùn nhƣ thế là khá cao.
Đồng bằng Bắc Bộ luôn đƣợc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình hàng
năm bồi đắp một lƣợng phù sa lớn và màu mỡ. Tổng lƣợng nƣớc sông Hồng
lên đến 114000m3/năm, lƣợng phù sa trung bình 100 triệu tấn/năm, độ PH
trung tính (7,0) lƣợng đạm 14g/m3, lƣợng mùn 2,76 – 3,48g/m3. Phù sa sông
Thái Bình độ pH thấp hơn (4,2 – 6,0). Đất ngoài đê giàu dinh dƣỡng (nhiều
N,P,K) điều kiện cơ giới nhẹ. Đất nội đồng là đất thích hợp cho việc trồng lúa
nƣớc. Tuy nhiên để có thể canh tác ở một vùng sông nƣớc chằng chịt nhƣ ở
đồng bằng Bắc Bộ thì công tác trị thủy đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Chính vì vậy đây cũng là vùng đất có truyền thống thâm canh, đào đắp đê
điều, làm thủy lợi để canh tác lúa và rau màu.
Môi trƣờng tự nhiên ở đây đã hƣớng con ngƣời vào làm nông nghiệp
thuần túy: cƣ dân chủ yếu là nông dân và văn hóa nông nghiệp lúa nƣớc. Bên
cạnh đó nghề làm vƣờn đào ao nuôi cá cũng có những bƣớc phát triển nhất
định. Vƣờn tƣợc ao, hồ đem lại cho cƣ dân ở đây các loại rau quả, hoa màu
thủy sản... đảm bảo cho một nền kinh tế tự cấp tự túc.
Tuy nơi đây có dải bờ biển tƣơng đối dài nhƣng cƣ dân Bắc Bộ ít khai
thác đƣợc nguồn tài nguyên này. Nếu có cũng chỉ là việc đánh bắt quy mô
nhỏ bằng thuyền lƣới thô sơ và phát triển thêm nghề làm muối. Do đó trong
văn hóa của cƣ dân đồng bằng Bắc Bộ thì yếu tố “Biển” khá nhạt còn yếu tố
sông nƣớc, ruộng vƣờn lại khá đậm nét.


nhiệt đới gió mùa với đủ bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhiệt độ
trung bình năm ở Hà Nội là 23,4°C, Nam Định là 23,5°C. Với nền gió mùa
cực đới mà nhân dân hay gọi là gió mùa đông bắc tạo nên một mùa đông lạnh,
khô và nửa cuối mùa rất ẩm ƣớt. Độ rét trung bình ở đồng bằng Bắc Bộ là
15°C có năm xuống đến 6 - 7°C nhƣng vì độ ẩm cao từ 82 đến 83% do vậy
tạo nên một không khí giá buốt, mùa hè có lúc trên 40°C.
Có thể thấy tính thất thƣờng của không khí còn đƣợc thể hiện ở độ dài
của mùa. Mùa đông dài khoảng 105 ngày mùa hè ngắn chỉ khoảng 75 ngày.
Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

13

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Theo lý thuyết độ dài trung bình của một mùa 90 ngày, ngoài ra tính thất
thƣờng này còn thể hiện ở cƣờng độ của mùa.
Lƣợng mƣa trong vùng nhìn chung là không đồng đều, mùa mƣa bắt đầu
ở đồng bằng Bắc Bộ thƣờng từ tháng 5 và kết thúc vào hai tháng 7, 8 hai tháng
điển hình của mùa hè ở đồng bằng Bắc Bộ, lƣợng mƣa mùa hè chỉ chiếm đến
80 – 85% lƣợng mƣa năm. Lƣợng mƣa thƣờng gấp hai lần lƣợng bốc hơi. Ở Hà
Nội lƣợng mƣa trung bình 1668mm, lƣợng bốc hơi là 776mm, cân bằng độ ẩm
là 902mm [10, Tr 29] Với nền khí hậu hết sức đặc biệt của đồng bằng Bắc Bộ
nhƣ vậy nó vừa tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế nông nghiệp
lúa nƣớc khá lâu đời, bên cạnh đó nó cũng gây ra những mặt khó khăn hạn chế
nhƣ nơi đây thƣờng xảy ra những trận bão tƣơng đối sớm.

quê của ngƣời Việt Bắc Bộ đã làm nên một nét đặc trƣng riêng mà theo G.S
Phan Đại Doãn nhận xét “là sự hòa tan của đô thị vào trong nông thôn làm
nên nét độc đáo của nông thôn Việt Nam so với thành thị và nông thôn ở
Châu Âu” [5, tr12].
Trong suốt 30 năm chiến tranh (1945 – 1975) nó đã để lại hậu quả nặng
nề đối với cả nƣớc và những ngƣời nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng
không nằm ngoài sự tàn phá đó, họ phải cùng lúc tiến hành khôi phục lại nền
kinh tế cùng với đó là làm công tác hậu phƣơng lớn một hạt gạo lúc này phải
chia ba, chia tư. Do vậy nhiệm vụ sản xuất nông nghiệp lúc này đƣợc đặt ra
bức thiết hơn bao giờ hết. Tuy vậy, trong suốt thời kỳ đất nƣớc thống nhất
1975 cho tới năm 1990 phải trải qua gần 15 năm phát triển, rút kinh nghiệm,
bên cạnh đó nhận thức ở mỗi vùng là khác nhau mà chủ yếu là do nhu cầu tự
túc lƣơng thực bằng mọi giá do vậy đã hình thành nên cách làm ăn khép kín.
Với những phƣơng pháp đề ra bƣớc đầu nó đã tạo ra đƣợc bƣớc chuyển biến
nhảy vọt, tuy vậy môi trƣờng nông thôn ở đồng bằng vẫn chuyển biến theo
hƣớng xấu. Nền sản xuất của vùng thực sự có bƣớc khởi sắc phải tới khi thực
hiện đổi mới, kinh tế đã có bƣớc tiến nhảy vọt, nhân dân trong khu vực không
những thoát khỏi tình trạng nền kinh tế tự cấp tự túc và dần dần đi vào chỗ đủ
ăn và từ từ chuyển sang làm giàu.
Những cƣ dân ở đồng bằng Bắc Bộ thƣờng sống quần tụ thành làng,
đây là đơn vị xã hội Việt Nam. Tiến trình lịch sử đã khiến cho làng Việt Bắc
Bộ trở thành một tiểu xã hội trồng lúa nƣớc. Nhƣ vậy cƣ dân ở đồng bằng Bắc
Bộ họ sống định cƣ thành các làng và làng là cộng đồng cơ bản nhất của
ngƣời dân Bắc Bộ. Tổ chức làng bản đặc biệt quan trọng với ngƣời dân Việt
vì đó là địa bàn sản xuất, là hành lang bảo vệ quyền lợi, bảo vệ thành quả lao

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


hình thức cƣ trú thì còn gọi là Thủy Việt hay Sơn Việt.
Trong suốt chiều dài lịch sử ngƣời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã trải qua
nhiều thế kỉ đƣơng đầu với mƣu đồ đồng hóa của ngoại bang, nhƣng với bản
lĩnh và truyền thống lâu đời họ đã tự tái tạo nên những bản sắc riêng của một

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

16

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nền văn hóa bản địa đạt trình độ phát triển khá cao, kết tinh và cởi mở. Bên
cạnh đó, những cƣ dân Việt ở đồng bằng họ cũng có một quá trình giao lƣu
với các dân tộc miền núi nhƣ Mƣờng, Thái, Tày.... và ngƣời Hán rồi tiếp đó
giao lƣu với những ngƣời Việt ở những vùng khác. Do vậy đồng bằng Bắc
Bộ vừa mang trong mình những truyền thống lâu đời bền chắc, vừa thích ứng
và theo kịp với những biến động lịch sử.
Vùng văn hóa Bắc Bộ: Đặc điểm của một vùng văn hóa chính là kết tinh
những tri thức ứng xử với tự nhiên xã hội, ứng xử với những ảnh hƣởng áp đặt
từ bên ngoài của cƣ dân sống trong vùng văn hóa đó. Đối với ngƣời Việt ở
đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa bị chi phối bởi điều kiện lịch sử, tự nhiên và xã hội
bản địa đã tạo nên nền văn minh lúa nƣớc với nhiều đặc trƣng, trong đó có tín
ngƣỡng phồn thực. Theo tiêu chí đánh giá của G.S.TS Ngô Đức Thịnh có nghĩa
đó là: “một vùng lãnh thổ có những tƣơng đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân
cƣ sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc là lịch sử, có

Hóa – Phú Xuân, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng miền Nam, Thăng
Long – Đông Đô – Hà Nội và GS. Trần Quốc Vƣợng phân văn hóa Việt Nam
thành 6 vùng: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ…
Trong khóa luận này, khi nghiên cứu về tín ngƣỡng phồn thực của
ngƣời Việt tác giả đặt nó trong bối cảnh là vùng văn hóa Bắc Bộ. Có nghĩa là
với tên gọi này của đề tài thì có thể coi thuật ngữ “vùng đồng bằng Bắc Bộ”
mang ý nghĩa không gian văn hóa với tên gọi đấy đủ là “vùng văn hóa đồng
bằng Bắc Bộ”. Về nguyên tắc chung thì vùng văn hóa không hoàn toàn là
vùng địa lý, càng không phải là vùng hành chính, bởi thế ranh giới của nó
không trùng hợp với vùng hành chính. Nếu nhìn theo không gian hành chính
thì vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ là “vùng văn hóa thuộc địa phận các tỉnh
Hà Tây (cũ), Nam Định, Hà Nam, Hƣng Yên, Hải Dƣơng, Thái Bình, Tp. Hà
Nội, Tp. Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh” [20, tr235]
Tiểu vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ cũng mang sắc thái văn hóa của ba
vùng địa văn hóa và nó đều thể hiện đƣợc rõ các sắc thái văn hóa địa phƣơng,
thể hiện tính đa dạng trong sự thống nhất văn hóa, cụ thể ba vùng địa - văn hóa
nhƣ sau:
Vùng địa văn hóa thềm phù sa cổ, gồm hai tiểu vùng và hai dạng
chuyển tiếp: Tiểu vùng văn hóa đất tổ và tiểu vùng kinh Bắc. Hai dạng
chuyển tiếp là dạng Vĩnh Lạc – Phú Thọ chuyển tiếp giữa ba tiểu vùng: Đất
Tổ - Kinh Bắc – Thăng Long – Dạng Đông Triều – Yên Tử, chuyển tiếp giữa
hai tiểu vùng: Kinh Bắc – Hải Đông.

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp


sinh của nền văn hóa Bác Học” tiêu biểu của dân tộc. Sự phát triển mạnh mẽ

Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

19

Trường ĐHSP Hà Nội 2

của giáo dục, truyền thống trọng ngƣời có chữ (có học) nó cũng trở thành
nhân tố tác động tạo ra một tầng lớp trí thức ở Bắc Bộ.
Ở thời tự chủ Thăng Long với vai trò là một kinh đô cũng đảm nhận vị
trí là một trung tâm giáo dục. Năm 1070 Văn Miếu Quốc Tử Giám xuất hiện
thiết lập chế độ thi cử để kén chọn ngƣời hiền tài…..điều này đã tạo ra cho xứ
Bắc một đội ngũ trí thức đông đảo trong đó có nhiều danh nhân văn hóa tầm
cỡ trong nƣớc. Theo nhƣ GS. Đinh Gia Khánh nhận xét: “trong thời kì Đại
Việt số ngƣời đi học thi đỗ ở vùng đồng bằng Miền Bắc tính theo tỉ lệ dân số
thì cao hơn rất nhiều so với các vùng khác trong lịch sử 850 năm (1065 –
1915) khoa cử dƣới các triều vua cả nƣớc có 56 trạng nguyên thì có 52 ngƣời
là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Các đội ngũ trí thức này đã tiếp thu vốn văn hóa dân gian bản địa kết
hợp vốn văn hóa Bác học Trung Quốc, Ấn Độ, Phƣơng Tây…tạo ra dòng văn
học riêng của Bắc Bộ, đóng góp rất nhiều vào sự nghiệp phát triển văn hóa
nƣớc nhà mà sự ra đời của chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ là một ví dụ…
Bên cạnh đó một yếu tố làm lên sắc thái văn hóa độc đáo của vùng văn
hóa đồng bằng Bắc Bộ là các lễ hội phong phú. Hàng trăm, hàng nghìn lễ hội

Bên cạnh những tín ngƣỡng dân gian bản địa ấy thì các hình thức tôn
giáo cũng đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh của cƣ dân
vùng này, tiêu biểu hơn cả là Phật Giáo, Nho Giáo, Đạo Giáo… Có thể
thấy rằng những tín ngƣỡng này của cƣ dân đồng bằng Bắc Bộ luôn hƣớng
về đới sống hiện thực của con ngƣời trong lao động sản xuất, trong đời
sống gia tộc và đời sống làng xã…đảm bảo một niềm tin làm chỗ dựa tinh
thần cho con ngƣời.
Tất cả điều đó đã tạo ra nét đặc trƣng văn hóa riêng biệt của vùng mà
nói nhƣ GS.Trần Quốc Vƣợng thì “Trong các sắc thái phong phú và đa dạng
của văn hóa Việt Nam, đồng bằng Bắc Bộ nhƣ là một vùng văn hóa độc đáo
và đặc sắc”.
Bên cạnh đời sống về lĩnh vực tinh thần thì các lĩnh vực về đời sống
sản xuất, các sinh hoạt vật chất các quan hệ với tự nhiên, xã hội của cƣ dân
đồng bằng Bắc Bộ chính là nhân tố góp phần hình thành và định hình một
“Gƣơng mặt” văn hóa riêng biệt của Bắc Bộ thể hiện một đời sống tinh thần
phong phú mà trong đó có tín ngƣỡng phồn thực.
Tóm lại, Bắc Bộ trở thành vùng văn hóa đặc trƣng, hội tụ tất cả những
điều kiện để nó trở thành một khu vực tiêu biểu sản sinh ra tín ngƣỡng phồn
thực và cũng chính là điều kiện nuôi dƣỡng tín ngƣỡng này để nó có sức sống
lâu bền trong lịch sử.
Phạm Thị Vân – K34A CN Lịch Sử

GVHD: Trần Thị Thu Hà


Khoá luận tốt nghiệp

21

Trường ĐHSP Hà Nội 2


GVHD: Trần Thị Thu Hà


Trích đoạn Nguồn gốc về văn hóa – tâm linh Tín ngƣỡng phồn thực thể hiện trong các nghi lễ Tín ngƣỡng thể hiện trong các lễ hội dân gian Tín ngƣỡng thể hiện dƣới hình thức thờ các biểu tƣợng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status