Những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của người việt vùng đồng bằng bắc bộ - Pdf 51

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
__________

NGUYỄN THỊ CẨM TÚ

NHỮNG YẾU TỐ TRIẾT HỌC
TRONG TÍN NGƢỠNG DÂN GIAN CỦA NGƢỜI VIỆT VÙNG
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 92.29.002

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM DUY ĐỨC

Hà Nội, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết
quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và
chưa từng công bố ở bất cứ hội đồng khoa học nào, các thông tin trích dẫn
trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, năm 2018
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Cẩm Tú




MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1 .....................................................................................................................7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN
ÁN ...............................................................................................................................7
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến một số vấn đề lý luận chung về tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ .....................................7
1.1.1. Những công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian .............7
1.1.2. Những công trình tiêu biểu bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình
thành, tồn tại của tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ .........................11
1.1.3. Những công trình tiêu biểu bàn về một số loại hình tín ngưỡng dân gian
chủ yếu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ ..................................................16
1.2. Tình hình nghiên cứu về những yếu tố triết học trong tín ngưỡng dân gian của
người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ .......................................................................27
1.2.2. Những công trình tiêu biểu bàn về các yếu tố triết học về con người trong
tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ .............................30
1.2.3. Những công trình tiêu biểu bàn về các yếu tố triết học về xã hội trong tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ ...................................32
1.3. Những vấn đề cần tập trung giải quyết trong luận án ....................................34
Chương 2 ...................................................................................................................37
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI
VIỆT VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ ....................................................................37
2.1. Khái niệm tín ngưỡng dân gian ......................................................................37
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, tồn tại của tín ngưỡng dân gian của
người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ ......................................................................40
2.2.1. Điều kiện địa lý - tự nhiên ..........................................................................40
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ............................................................................44
2.2.3. Ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa ...........................................................47

GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC QUAN NIỆM VỀ TỰ NHIÊN,VỀ CON
NGƯỜI, VỀ XÃ HỘI TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN CỦA NGƯỜI VIỆT
VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ.............................................................................123
4.1. Giá trị của các quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ .................................123
4.1.1. Giá trị của các quan niệm về tự nhiên ......................................................123
4.1.2. Giá trị của các quan niệm về con người ...................................................127
4.1.3. Giá trị của các quan niệm về xã hội .........................................................132
4.2. Hạn chế của các quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ .................................137
4.2.1. Tính chất duy tâm trong các quan niệm về tự nhiên.................................137
4.2.2. Tính chất duy tâm trong các quan niệm về con người .............................141
4.2.3. Tính chất duy tâm trong các quan niệm về xã hội ....................................144
Tiểu kết chương 4................................................................................................147
KẾT LUẬN .............................................................................................................149
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất lịch sử lâu đời, là cái nôi hình thành văn
hóa, văn minh của người Việt. Đây cũng là nơi bảo tồn nhiều giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc. Một trong những yếu tố tạo nên giá trị văn hóa
truyền thống trong đời sống tinh thần của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
chính là tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng
bằng Bắc Bộ là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần ra đời và lưu truyền

phong phú. Từ tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, đến tín
ngưỡng thờ Thành hoàng… giao hòa với các yếu tố tâm linh tôn giáo khác,
tạo nên một bức tranh về các vị thần đa dạng, phong phú như chính cuộc sống
xã hội của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Sự nhận thức đó tuy còn sơ
khai, song nó có những giá trị nhất định tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh
thần của con người. Mặt khác, nó cũng có những tác động tiêu cực không
nhỏ, gây nên những hệ lụy đáng kể trong đời sống xã hội của vùng.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, Đảng và
Nhà nước ta khẳng định sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo là một trong
những vấn đề chính trị - xã hội mang tính quy luật trong tiến trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Do vậy, việc tăng cường nghiên cứu để thấy được tính quy
luật trong sự tồn tại của hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, góp phần khẳng
định các giá trị tích cực vốn có và chỉ ra các mặt hạn chế để có các chính sách
phù hợp trong việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng dân gian của vùng hiện nay
là yêu cầu bức thiết.
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian nói
chung, tín ngưỡng dân gian của người Viêt vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng,
đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều chuyên ngành khác nhau,
như tôn giáo học, chính trị học, văn hóa học, tâm lý học, v.v.. Những nghiên


3

cứu này đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần làm rõ vai trò, vị
trí, chức năng của tín ngưỡng dân gian trong đời sống xã hội trước đây cũng
như hiện nay. Tuy nhiên, nghiên cứu tín ngưỡng dân gian từ góc độ triết học
nhằm rút ra những kết luận về bản chất, quy luật vận động của tín ngưỡng dân
gian, cũng như làm rõ các yếu tố triết học của tín ngưỡng dân gian, nhìn
chung còn ít và mới đạt được kết quả bước đầu. Vì vậy, việc kế thừa các

đồng bằng Bắc Bộ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi của luận án chỉ giới hạn việc nghiên cứu một số yếu tố triết
học chủ yếu trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc
Bộ ở khía cạnh yếu tố triết học về tự nhiên, về con người và về xã hội, dựa
trên cơ sở nghiên cứu một số tín ngưỡng dân gian nổi bật của người Việt vùng
đồng bằng Bắc Bộ là: tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín
ngưỡng thờ Thành hoàng.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
+ Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về tín
ngưỡng, tôn giáo.
+ Luận án kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các tác giả đã được
công bố có liên quan đến đề tài luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận chung của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với hệ thống các phương pháp
như:
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp. Phương pháp này
cho phép nghiên cứu sinh thu thập tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước,


5

phân tích và tổng hợp tài liệu, đánh giá các kết quả nghiên cứu đã có để tiếp
thu, kế thừa trong quá trình thực hiện luận án;
+ Phương pháp logic và lịch sử, kết hợp với phương pháp so sánh nhằm
phân loại tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, rút ra
những đặc điểm nổi bật của nó;

Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, khắc phục những mặt hạn chế của nó.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy những môn học có liên quan tới văn hóa truyền thống, tín ngưỡng, tôn
giáo.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tín ngưỡng dân gian của người
Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Chương 3: Quan niệm về tự nhiên, về con người, về xã hội trong tín
ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Chương 4: Giá trị và hạn chế của các quan niệm về tự nhiên, về con
người, về xã hội trong tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng
Bắc Bộ


7

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến một số vấn đề lý luận
chung về tín ngƣỡng dân gian của ngƣời Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
1.1.1. Những công trình tiêu biểu bàn về khái niệm tín ngưỡng dân
gian
Cho đến nay, khái niệm tín ngưỡng dân gian vẫn còn đang được các
nhà nghiên cứu tranh luận. Mặc dù vậy, thuật ngữ này đã được dùng phổ biến
trong các công trình khoa học, các buổi hội thảo khoa học, các sinh hoạt văn
hóa tinh thần của người dân, cũng như trên các phương tiện thông tin đại

tính triết lý nhân sinh sâu đậm. Do đó, trong tín ngưỡng có cái gọi là tín
ngưỡng dân gian.
Cùng với quan điểm nêu trên, trong công trình “Tín ngưỡng dân gian ở
Việt Nam” [34] do Lê Như oa (chủ biên) thừa nhận có cái gọi là tín ngưỡng
dân gian. Theo tác giả công trình, tín ngưỡng dân gian có thể hiểu “là hình
thái tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở những tâm cách
nguyên thủy (primitive mentality) để nhận thức hiện thực và tác động đến
hiện thực bằng các kĩ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh” [34,
tr.23]. Có thể thấy rằng, khi đã nói đến tính dân gian thì không thể gọi tín
ngưỡng dân gian là tôn giáo sơ khai được. Vì khi nói tới tôn giáo là nói tới
những lễ nghi, giáo lý, giáo luật, giáo hội, kể cả tôn giáo sơ khai, nguyên thủy
thì chúng đều có tất cả các yếu tố cấu thành đó. Còn tín ngưỡng dân gian, chỉ
đơn giản là một loại hình tín ngưỡng ra đời và tồn tại cùng với hoạt động thực
tiễn của con người. Nó được nảy sinh dựa trên sự phản ánh của ý thức trong
quá trình lao động sản xuất, phản ánh sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng và cả sự
sợ hãi trước sức mạnh của những lực lượng siêu nhiên, vô hình. Nó ăn sâu,


9

bén rễ trong lòng người dân, nó có tính chất lây lan tự phát và không có tính
ràng buộc chặt chẽ như tôn giáo. Bên cạnh đó, trên cơ sở “thuyết hồn linh”
của Tylor, tác giả công trình đã chỉ ra “thuyết hồn linh cơ sở của hệ thống tín
ngưỡng dân gian của người Việt” [34, tr.24]. Căn cứ trên thực tiễn và căn cứ
vào cách lý giải của tác giả công trình cho thấy, ở nước ta, “bằng thuyết hồn
linh, chúng ta có thể “giải mã” được vô số các hiện tượng Folklor của các tộc
người khác nhau”. Luận điểm này cung cấp cho tác giả luận án có được cách
nhìn sâu sắc hơn để có thêm cơ sở lý giải nguồn gốc cho việc hình thành tín
ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ.
Xem xét dưới góc độ văn hóa học, trong cuốn “Góp phần tìm hiểu tín

cạnh khác.
Ngoài những công trình nghiên cứu được trình bày ở trên được xuất
bản dưới dạng sách, thì cũng có một số công trình về khái niệm tín ngưỡng
dân gian dưới dạng các bài báo trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành của
các tác giả như: Nguyễn Quốc Phẩm (1998) “Góp phần bàn về tín ngưỡng dân
gian và mê tín dị đoan”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 11; Nguyễn Đăng
Duy (2000), “Cần đính chính lại cách gọi tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí
Nghiên cứu tôn giáo, số 1; Hồng Nhuệ (2003), “Tản mạn về tín ngưỡng dân
gian”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 2; Nguyễn Tri Nguyên (2004) “Bản
chất và đặc trưng của tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí di sản và văn hóa, số 7;
Hồ Bá Thâm (2005), “Tín ngưỡng dân gian – một lĩnh vực trong đời sống tâm
linh”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 4; Đặng Nghiêm Vạn (2007), “Tôn giáo
hay tín ngưỡng”, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1; Đỗ Thị Minh Thúy
(2010), “Biến động của tín ngưỡng dân gian Thăng Long - Hà Nội và ảnh
hưởng của nó đến đời sống văn hóa hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
số 86(8); Nguyễn Thọ Khang (2013), “Đặc điểm và giá trị văn hóa của tín
ngưỡng dân gian ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6… ầu hết,
trong các công trình này, khi bàn về khái niệm tín ngưỡng dân gian đều nhất


11

trí cho rằng, đó là một loại hình tín ngưỡng ra đời trên cơ sở hoạt động sản
xuất nông nghiệp là chủ yếu. Đồng thời, các tác giả cũng chỉ rõ, tín ngưỡng
dân gian là một lĩnh vực tinh thần không thể thiếu trong đời sống của người
dân. Nó ăn sâu, bén rễ trong tiềm thức của người dân và trở thành nét văn hóa
riêng của người Việt.
Qua khảo sát cho thấy, hầu hết các tác giả đều thừa nhận, ở Việt Nam có
cái gọi là tín ngưỡng dân gian. Nó được hình thành trên cơ sở niềm tin, là bộ
phận của tín ngưỡng, văn hóa. Nó không phải là một thứ tôn giáo sơ khai. Tuy

của tự nhiên, con người thường xuyên, trực tiếp phải đối mặt với thiên nhiên;
đời sống của họ lệ thuộc chủ yếu vào tự nhiên thì thiên nhiên là đối tượng
nhận thức chính của họ” [34, tr.31] và “… bởi chính môi trường tự nhiên đã
quy định môi trường nông nghiệp (chăn nuôi hay trồng trọt); và do đó, nó đã
định hướng ứng xử cho các cư dân sống trong môi trường ấy; làm nảy sinh
những tín ngưỡng đặc thù của từng môi trường” [34, tr.31]. Về nguồn gốc xã
hội, tác giả chỉ rõ: “… tính chất đặc thù của một bán đảo… nông nghiệp ra
đời… trồng lúa được đẩy lên vị trí đứng đầu của nền nông nghiệp trồng trọt
trên lãnh thổ Việt Nam… Đây chính là mầm mống dẫn tới những nhận thức
và những ứng xử, tức mầm mống của những tín ngưỡng…” [34, tr.31-32] và
“… tín ngưỡng của cư dân Việt Nam, với tư cách là sự nhận thức được tập
trung vào cây lúa và công việc trồng lúa” [34, tr.34]. Quan điểm đó của Lê
Như

oa đã chỉ ra điều kiện địa lý - tự nhiên có ảnh hưởng lớn đến sự hình

thành tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng dân gian của người Việt
nói riêng.
Tương tự quan điểm của Lê Như oa, trong công trình “Tín ngưỡng và
văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” [96], tuy không trực tiếp bàn về các yếu tố
ảnh hưởng đến sự tồn tại của tín ngưỡng dân gian nói chung, và tín ngưỡng
dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, song Ngô Đức Thịnh cũng có
quan điểm thống nhất coi các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và lịch
sử là xuất phát điểm cho sự ra đời và tồn tại của tín ngưỡng. Trong công trình
này, ông trình bày cụ thể từng loại tín ngưỡng và cơ sở hình thành của nó.
Công trình này giúp cho tác giả luận án có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn


13


tín ngưỡng thờ Mẫu,là một trong những loại hình tín ngưỡng dân gian của
vùng.
Tiếp theo, khi bàn về sự ảnh hưởng của sự giao lưu văn hóa, tư tưởng
đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng
Bắc Bộ, hầu hết các công trình mà tác giả luận án lựa chọn để khảo sát đều
chung một quan điểm, khẳng định sự ảnh hưởng mạnh mẽ của ba tôn giáo lớn
đó là Phật Giáo, Nho giáo và Đạo giáo. Có thể kể đến một số công trình sau:
Công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” [96], Ngô Đức
Thịnh chỉ ra rằng, các tín ngưỡng bản địa, nhất là tín ngưỡng thờ cúng Tổ
tiên, đều cởi mở “…tiếp thu ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng, nhất là Đạo
Khổng” [96, tr.21], ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của cả các tôn giáo khác
như Đạo giáo, Phật giáo [96, tr.33]. Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định ảnh
hưởng “… của đạo hiếu - một trong những tư tưởng cốt lõi nhất của Nho giáo
trong việc xây dựng hệ nguyên lý cho việc thờ cúng tổ tiên. Cùng quan điểm
nêu trên, trong công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt
Nam” [66], Nguyễn Đức Lữ chủ biên, khẳng định, khi có sự du nhập của các
tôn giáo ngoại lai như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đã có ảnh hưởng lớn đến
sự tồn tại của tín ngưỡng dân gian nhất là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: “…khi
Nho giáo vào Việt Nam, với tư tưởng đề cao gia đình, dòng tộc, biến nước
thành nhà, xem chữ hiếu là nền tảng đạo lý… thì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
được nâng lên một tầm cao mới” [66, tr.81]. Theo nghiên cứu của các tác giả
trong công trình này, thì tín ngưỡng, trong đó tín ngưỡng thờ anh hùng dân
tộc cũng chịu ảnh hưởng của các tôn giáo như Phật giáo, Lão giáo. Trong đó,
theo tác giả, “các hội đền mang dáng dấp nghi lễ của Nho giáo đồng thời cũng
có dấu hiệu của Phật giáo ở hội chùa” [66, tr.102]. Ảnh hưởng của các tôn
giáo đến sự ra đời, tồn tại của tín ngưỡng dân gian nói chung trong đó có tín
ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ được công trình “Các hình thái tín


15

cứu khái quát về sự ảnh hưởng của tôn giáo đến sự ra đời, tồn tại của tín


16

ngưỡng dân gian trong đó có tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Tuy nghiên, từ việc nghiên cứu các quan điểm về sự ảnh hưởng của các tôn
giáo đến các loại hình tín ngưỡng cụ thể là cơ sở cho tác giả luận án có cơ sở
dữ liệu khoa học phụ vụ cho quá trình nghiên cứu vấn đề đặt ra trong luận án.
Tóm lại, tính đến thời điểm hiện tại, qua sự khảo sát của tác giả luận án,
chưa có bất cứ công trình khoa học độc lập nào chuyên nghiên cứu về tín
ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nhìn chung, những nghiên cứu về
tín ngưỡng dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ được đan xen
trong các nghiên cứu về tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian
cả nước nói chung. Do vậy, khi tổng quan các công trình nghiên cứu đề cập tới
các yếu tố ảnh hưởng đến sự ra đời của tín ngưỡng dân gian của người Việt
vùng đồng bằng Bắc Bộ, tác giả luận án lấy dữ liệu dựa trên kết quả của các
công trình nghiên cứu chung về tín ngưỡng dân gian, từ đó bóc tách các nghiên
cứu về tín ngưỡng dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ về cơ sở hình thành.
1.1.3. Những công trình tiêu biểu bàn về một số loại hình tín ngưỡng
dân gian chủ yếu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Qua khảo sát về các công trình nghiên cứu có đề cập đến tín ngưỡng
dân gian của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy, hầu hết các công
trình chủ yếu đề cập tới ba loại hình tín ngưỡng dân gian nổi bật của vùng là
tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Thành
hoàng. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên
của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Xoay quanh vấn đề về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên nói chung, trong đó
có tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, có

không phải là một thứ tôn giáo… mà là lòng thành kính và biết ơn của con
cháu đối với người đã khuất” [4, tr.23-24]. Đó cũng là quan điểm của Ngô
Đức Thịnh trong công trình “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”,
ông cho rằng, “thờ cúng Tổ tiên là một tín ngưỡng dân gian của dân tộc có
nguồn gốc từ xa xưa và mang đạo lý nhân ái uống nước nhớ nguồn” [96,


18

tr.67]. Còn trong công trình “Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt
Nam”, Nguyễn Đức Lữ chủ biên, cho rằng, về bản chất, tín ngưỡng thờ cúng
Tổ tiên là một hiện tượng xã hội có tính phổ biến [66, tr.68]. Trong công trình
“Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt
vùng đồng bằng Bắc Bộ” [81], qua việc phân tích nguồn gốc, Trần Đăng Sinh
rút ra bản chất của tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên là “một bộ phận của ý thức xã
hội, là một loại hình tín ngưỡng dân gian được hình thành từ thời nguyên thủy
với niềm tin thiêng liêng rằng, tổ tiên đã chết sẽ che chở, phù giúp con cháu”
[81, tr.57]. Như vậy, hầu hết các tác giả đều nhất trí cho rằng, bản chất của tín
ngưỡng thờ cúng Tổ tiên là một hiện tượng xã hội, có tính phổ biến, dựa trên
cơ sở niềm tin tâm linh của con người, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn.
Khi bàn về các hình thức thờ cúng Tổ tiên ở nước ta, trong đó có tín
ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra
rằng: có hai hình thức cơ bản về thờ cúng Tổ tiên của người Việt là thờ cúng
trong phạm vi gia đình và thờ cúng phạm vi đất nước. Đó là quan điểm của
Ngô Đức Thịnh, Trần Đăng Sinh. Trong công trình, “Tín ngưỡng và văn hóa
tín ngưỡng ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng, tín ngưỡng thờ cúng
Tổ tiên của nười Việt có hai hình thức là thờ cúng Tổ tiên trong gia đình và
dòng tộc và thờ cúng Tổ tiên ở phạm vi quốc gia (Lễ giỗ Tổ

ùng Vương)

vùng đồng bằng Bắc Bộ. Do đó, kết quả nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng Tổ
tiên của các nhà khoa học đi trước là cơ sở khoa học để tác giả luận án tiếp tục
nghiên cứu, khái quát về tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt vùng
đồng bằng Bắc Bộ, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các yếu tố triết học cơ bản
ẩn chứa trong loại hình tín ngưỡng nổi bật này.
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ
Cho tới nay, có nhiều tư liệu nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu nói
chung, nhưng có ít công trình nghiên cứu độc lập về tín ngưỡng thờ Mẫu của


20

người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, khi khảo sát về vấn đề này, tác
giả luận án dựa trên việc tổng quan các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng
thờ Mẫu của Việt Nam, trong đó, có đề cập tới tín ngưỡng thờ Mẫu của vùng.
Khi bàn về cơ sở của việc hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu của Việt
Nam nói chung, trong đó có thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc bộ,
trong công trình “Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam”, Toan Ánh chỉ ra rằng, việc
thờ Mẫu nảy sinh và phát triển trên cơ sở thờ Nữ thần [4, tr.110]. Đó cũng là
quan điểm của Ngô Đức Thịnh. Trong công trình “Đạo Mẫu ở Việt Nam”,
ông chỉ rõ, tục thờ Mẫu và Tam tòa Thánh Mẫu có liên quan mật thiết với tục
thờ Nữ thần [95, tr.14]. Tiếp tục bàn về quan điểm này, trong công trình “Tín
ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh kết luận rằng,
“các Mẫu - Thánh Mẫu vừa có nguồn gốc thiên thần, vừa có nguồn gốc nhân
thần, là hình thức tín ngưỡng “nâng cao”, “lên khuôn” từ cái nền thờ Nữ thần
và rất phổ biến và cổ xưa của dân tộc ta” [96, tr.172]. Trong công trình “Văn
hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt Nam” [48], Đinh Gia
Khánh cho rằng, “nguyên nhân khởi phát tín ngưỡng thờ Mẫu là từ chế độ
mẫu hệ. Trong thời kỳ nguyên thủy khi mà người phụ nữ đóng vai trò là chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status