5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng phổ biến của người
Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Nó có mặt tốt là luôn nhắc con cháu đang sống
phải nhớ đến nguồn khi uống nước, nhớ người trồng cây khi ăn quả, phải
biết kính trọng, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ lúc sinh thời, thờ phụng khi
mất. Nó thanh cao, tinh khiết khi được coi là một nét tinh hoa của truyền
thống văn hóa, và đã trở thành đạo lý, lẽ sống của người Việt. Song nó sẽ
là sự phiền toái, nặng nề khi mang màu sắc mê tín dị đoan, vụ lợi. Trong
lịch sử và trong xã hội hiện tại, nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống
của con người.
Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa
hội nhập quốc tế, từng bước dân chủ hóa đời sống xã hội. Sự may rủi trong
cơ chế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội, môi trường sinh
thái bị tàn phá, xuất hiện các mặt tiêu cực do cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ đem lại, cộng với trình độ dân trí thấp v.v... là những nguyên
nhân xã hội, tâm lý và nhận thức dẫn đến việc các hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo có chiều hướng gia tăng. Hoạt động thờ cúng tổ tiên trong các gia
đình, dòng họ, trong các lễ hội diễn ra khá phổ biến ở khắp các địa phương
trong cả nước. Điều đó, một mặt đã góp phần gìn giữ, phát huy những giá
trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống, song mặt khác cũng gây ra những tác
động tiêu cực như kích thích mê tín dị đoan, làm lãng phí thời gian, tiền
của, sức lực của nhân dân, ảnh hưởng tới việc phát triển sản xuất và lành
mạnh hóa các quan hệ xã hội, cản trở sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những
vấn đề trên có nguyên nhân sâu xa từ những quan niệm về bản thể, vũ trụ
và nhân sinh của con người.
7
cũng đã đề cập dưới các góc độ khác nhau về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên tiếp
cận tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
nói riêng là từ góc độ văn hóa học, sử học, dân tộc học và tôn giáo học.
Các quan điểm của các tác giả về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tuy rất đa
dạng, song có thể phân thành ba sự đánh giá cần xem xét:
Loại thứ nhất, xem tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như một tập tục
văn hóa và truyền thống đạo đức.
Loại thứ hai, xem tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng,
vừa là tập tục văn hóa và truyền thống đạo đức.
Loại thứ ba, xem tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên như một loại hình tín
ngưỡng, tôn giáo.
Trên cơ sở những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
tác giả luận án đi sâu khai thác những khía cạnh triết học của tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, một địa bàn mang
tính điển hình của văn hóa truyền thống Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
* Mục đích: Bước đầu trình bày một cách tương đối có hệ thống về
nguồn gốc, bản chất và những biểu hiện về mặt triết học trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Việt; thông qua khảo sát hoạt động thờ cúng tổ
tiên ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng và giải
pháp nhằm phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục những yếu tố tiêu
cực của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây
dựng nền văn hóa mới hiện nay.
*Nhiệm vụ:
9
- Luận án góp phần là rõ những khía cạnh triết học trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ.
- Góp phần làm rõ thực trạng và xu hướng vận động của tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.
- Đề xuất một số những giải pháp nhằm từng bước phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tín ngưỡng tổ tiên cho phù hợp với
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân
tộc.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào việc gìn giữ và phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy những môn học có liên quan tới văn hóa truyền thống, tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận án gồm 3 chương 6 tiết.
10
Chương 1
TÍN NGƯỠNG VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
1.1. KHÁI NIỆM TÍN NGƯỠNG
1.1.1. Các quan điểm ngoài mác-xít về tín ngưỡng
cái "tối thượng" là tiêu chí quyết định của tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng
được xem như niềm tin tôn giáo. Một số nhà tôn giáo đương đại cho rằng,
"tín ngưỡng không phải là một thứ thế giới quan tư biện, cũng không chỉ là
tin và niềm tin, nó là một thứ thái độ sinh tồn, một thứ tự lý giải" [86, tr.
12-13].
Quan điểm xã hội học về tín ngưỡng:
Các nhà xã hội học như Spenser, Durkheim, M.Weber từ giác độ xã
hội học đã có những cái nhìn mới về tín ngưỡng, tôn giáo. Spenser,
Durkheim coi xã hội như là một hiện thực siêu hình (réalite metaphysique)
được nuôi dưỡng bằng một ý thức tập thể. Mà ý thức tập thể được tạo bởi
những niềm tin, những tình cảm của mỗi thành viên. Niềm tin và ý thức
tôn giáo chính là xạ ảnh của đời sống xã hội. Trong xã hội, các thành viên
của một tập thể có một tín ngưỡng chung. Tín ngưỡng là một yếu tố tạo
nên sự cố kết và thống nhất của tập thể, của nhóm xã hội. Đó là niềm tin
vào cái thế tục và cái thiêng liêng. Cái thế tục và cái thiêng liêng là tính
chất chung của mọi tín ngưỡng, tôn giáo. Durkheim cho rằng, tín ngưỡng
là những trạng thái tư tưởng, nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông
qua các nghi lễ thờ cúng. Theo ông, tín ngưỡng "tô-tem" của người nguyên
thủy vừa là biểu tượng của thần linh (cái thiêng) vừa là biểu tượng của
cộng đồng xã hội (cái thế tục) là tín ngưỡng phổ biến trong xã hội nguyên
thủy.
12
M. Weber xem tín ngưỡng, tôn giáo như là cách nhìn của con
người về thế giới, là thái độ ứng xử của các cá nhân và các nhóm xã hội,
đặc biệt là thái độ đối với kinh tế. Tín ngưỡng, tôn giáo trong một kiểu,
dạng cụ thể như "một dạng đặc biệt của hoạt động trong cộng đồng", gắn
với "các thế lực siêu nhiên" [94, tr. 166]. Thông qua các hình thức tín
mang tính bẩm sinh. Ở đây các nhà duy tâm, thần học đã sai lầm, vì họ
xuất phát từ một thực thể tinh thần, ý thức để lý giải một hiện tượng khác
cũng thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần là tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm xã hội học chủ yếu đi sâu phân tích chức năng xã hội,
vai trò và ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo, song lại phân tích tín ngưỡng,
tôn giáo tách rời đời sống tinh thần phong phú của con người, không thấy
được ranh giới các hiện tượng tôn giáo và các hiện tượng phi tôn giáo.
Quan điểm nhân loại học, ngôn ngữ học lại chỉ đi sâu vào việc
nghiên cứu đối tượng sùng bái của tín ngưỡng, tôn giáo như thần linh,
đấng tối cao... do vậy, chỉ có giá trị và thích hợp với loại hình tôn giáo
nguyên thủy, không thấy được tính phổ biến, tính thích hợp đối với các
loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác.
Quan điểm sinh học, tâm lý học đi sâu nghiên cứu sự thể hiện nội
tâm, đó là niềm tin, tâm lý tôn giáo, song lại chưa thấy được mặt xã hội
của tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm văn hóa về tín ngưỡng, có ưu điểm là làm nổi bật tính
đa dạng, phong phú và phức tạp của tín ngưỡng, song lại có hạn chế là hòa
đồng tín ngưỡng vào văn hóa nói chung, không thấy được cái đặc thù của
tín ngưỡng là cái thiêng liêng rất được đề cao, do đó không xác định được
đối tượng của ngành khoa học mới là tôn giáo học.
Quan điểm triết học nhân bản của Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc
nhận thức của tín ngưỡng, tôn giáo, đấu tranh chống quan điểm duy tâm và
tôn giáo trong quan niệm về con người, về Thuợng đế. Tuy nhiên, trong
khi phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo ông đã không thấy được nguồn
gốc xã hội, chức năng "đền bù hư ảo" và những mặt tiêu cực của tín
15
ngưỡng, tôn giáo. Phoi-ơ-bắc đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc giải
với tín ngưỡng của tín đồ tôn giáo khác. "Nói cách khác, tín ngưỡng là
thuộc tính đương nhiên của mỗi tín đồ của một tôn giáo nào đó" [85, tr. 56]. Nguyễn Quốc Phẩm xem tín ngưỡng, theo nghĩa hẹp là niềm tin, sự
ngưỡng mộ của con người và thường gắn với niềm tin tôn giáo. Theo
nghĩa rộng, tín ngưỡng là khái niệm có nội hàm, ngoại diên rộng hơn tôn
giáo thuộc ý thức xã hội, phản ánh niềm tin, sự ngưỡng mộ của quần
chúng nhân dân vào các lực lượng siêu nhiên ít nhiều mang màu sắc tôn
giáo [59]. Nguyễn Chí Bền từ góc độ văn hóa, xem tín ngưỡng là một bộ
phận cấu thành của văn hóa được thể hiện thông qua nghi lễ thờ cúng, là
lòng ngưỡng mộ, thành kính với những thế lực có ảnh hưởng trong quan
hệ với con người [5].
Chúng ta trở lại quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác-Lênin về tín ngưỡng. C. Mác cho rằng: "Đời sống xã hội, về thực chất
là có tính thực tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ
nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con
người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy" [47, tr. 12]. Như vậy, tín ngưỡng
về bản chất, không phải là sản phẩm của thần thánh, là cái siêu nhiên, thần
bí mà là sản phẩm của xã hội. Là một hiện tượng xã hội, không tách rời xã
hội, mang bản chất xã hội, tín ngưỡng cũng là hiện tượng thuộc đời sống
tinh thần của xã hội, chịu sự qui định của đời sống vật chất.
C. Mác cho rằng, cần phải "xuất phát từ con người đang hành
động, hiện thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản
ánh tư tưởng và tiếng vang tư tưởng của quá trình ấy" [48, tr. 37-38]. Ở
đây không phải tinh thần, ý thức quyết định đời sống hiện thực mà là
ngược lại. Ý thức, trong đó có ý thức tôn giáo, chỉ là ý thức của những cá
nhân, cộng đồng người trong xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Tín ngưỡng,
tôn giáo có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn, có đặc điểm riêng và ngày
càng phân hóa từ thực tiễn vật chất trong quá trình phát triển của lịch sử.
17
Phoi-ơ-bắc.
C. Mác, Ph.Ăng-ghen trong quá trình phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử
đã đề cập tới vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau, và
trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau với các khái niệm tín
18
ngưỡng, tín ngưỡng tôn giáo, tín ngưỡng Cơ Đốc giáo. Hai ông cho rằng,
về cơ bản, tín ngưỡng không khác gì thần linh, hai cái đều là tôn giáo đang
ngự trị con người. Ở đây, tín ngưỡng với hàm nghĩa tín ngưỡng tôn giáo
[67].
Trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gô-ta, C. Mác cho rằng, tự
do tín ngưỡng của giai cấp tư sản chẳng qua chỉ là các loại tự do tín ngưỡng
tôn giáo. Giai cấp vô sản không chỉ dừng lại ở tự do tín ngưỡng tôn giáo, mà
đòi hỏi tự do tín ngưỡng không tôn giáo, nghĩa là tự do tín ngưỡng vô thần.
Rằng "quyền tự do tín ngưỡng" tư sản chẳng phải cái gì khác là sự dung thứ
đủ các loại tự do tín ngưỡng tôn giáo, còn Đảng thì ngược lại, ra sức giải
thoát lương tri của con người ra khỏi bóng ma tôn giáo" [50, tr. 51]. Quyền tự
do của con người, trong đó có quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến,
quyền được "mộ đạo" theo bất luận kiểu nào, được hành đạo theo tôn giáo
riêng của mình. Đặc quyền tín ngưỡng là một quyền phổ biến của con
người [46, tr. 549].
Có người, căn cứ vào ý tưởng trên của C. Mác, Ph. Ăng-ghen lại
cho rằng lý luận của chủ nghĩa cộng sản là "tín ngưỡng" của giai cấp vô
sản, là "tín ngưỡng khoa học" là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản và
quần chúng nhân dân bị áp bức. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng,
C. Mác và Ph. Ăng-ghen cho rằng: "Chủ nghĩa cộng sản không phải là một
trạng thái cần sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải
thiếu sự tinh chắt, sàng lọc, khái quát, hệ thống và thiếu cơ sở lý luận chặt
chẽ. Do đó, nó mang tính dân gian, đời thường. Còn tôn giáo thường được
hình thành và tồn tại trên cơ sở lý luận chặt chẽ, có cơ sở thế giới quan là
chủ nghĩa duy tâm. Khi nghiên cứu nguồn gốc ra đời của đạo Cơ Đốc C.
Mác, Ph. Ăng-ghen cho rằng, đạo Cơ Đốc "đã lặng lẽ ra đời từ sự hỗn hợp
của thần học Đông phương đã được khái quát, nhất là thần học Do Thái,
với triết học Hy Lạp đã được thông tục hóa, nhất là triết học khắc kỷ" [51, tr.
23
446]. Các tôn giáo thường giải thích thế giới xuất phát từ một thực thể tinh
thần khách quan, có trước, sáng tạo ra và chi phối thế giới, như thượng đế,
thánh, thần... Hệ thống kinh sách của các tôn giáo rất đồ sộ với những
quan niệm về bản thể, nhân sinh, những luận giải, chứng minh cho sự đúng
đắn của đức tin tôn giáo. Những quan niệm ấy được diễn đạt qua các hệ
thống khái niệm cơ bản như: linh hồn, thượng đế, thiên đường, địa ngục...
3. Tín ngưỡng có kết cấu đơn giản, nó hình thành và tồn tại dựa
trên cơ sở niềm tin vào các phép lạ, đấng siêu nhiên, vào thế giới vô hình
như thần linh, tổ tiên, âm ty, địa ngục, ma, quỉ... Niềm tin ấy mang tính
huyễn hoặc, mờ ảo, không rõ ràng, chưa đạt đến trình độ khái quát cao,
mang tính đơn giản, dựa vào sự cảm nhận của chủ thể. Nó thường không
cần nhiều đến sự lý giải một cách lôgíc và gắn liền với các tập tục, thói
quen, truyền thống của cộng đồng người. Còn tôn giáo thì có kết cấu phức
tạp với các yếu tố thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức, tâm lý, tình cảm,
niềm tin, đức tin.... Ở tôn giáo, niềm tin đặc biệt được đề cao, song cũng
đòi hỏi sự lý giải mang tính hệ thống, lôgíc, được xây dựng và củng cố
trên cơ sở thế giới quan tôn giáo. Các chức sắc trong tổ chức tôn giáo
thường tuyên truyền, củng cố và khẳng định niềm tin tôn giáo thông qua
các hoạt động tôn giáo được tiến hành định kỳ.
đoan. Trong xã hội, những người do trình độ nhận thức hạn chế, suy đoán
tùy tiện, hay tin vào các phép lạ như lên đồng, bói toán, yểm tà, trừ ma...
thường dễ mắc phải mê tín dị đoan, bị những người xấu lợi dụng, làm tổn
hại tiền bạc, sức khỏe thậm chí nguy hại cả tới tính mạng.
Mê tín và mê tín dị đoan là những hiện tượng phản khoa học, phản
văn hóa. Trong lịch sử, các giai cấp, dân tộc thường vì lợi ích của giai cấp,
dân tộc mình mà gán cho tín ngưỡng của dân tộc khác cái mũ "dị giáo" và
lấy cớ đó để thôn tính, đàn áp. Những người theo chủ nghĩa tín ngưỡng
thường phủ nhận chân lý khách quan, khẳng định niềm tin tôn giáo. Trong
xã hội hiện đại, chủ nghĩa tín ngưỡng có những biểu hiện rất tinh vi, điều
đó đã được Lê-nin chỉ rõ, rằng chủ nghĩa tín ngưỡng hiện đại không hoàn
25
toàn phủ nhận khoa học, nó chỉ phủ nhận sự "kỳ vọng quá đáng" của khoa
học, chính xác là "sự kỳ vọng về chân lý khách quan" [62, tr. 507].
Trong thực tế, các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín và mê
tín dị đoan thường tồn tại đan xen lẫn nhau. Chúng đều có bản chất chúng
là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, là sự phản ánh hư ảo hiện thực; sự
khác nhau giữa chúng rất khó phân biệt.
Căn cứ vào những đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng trên cơ sở phân
biệt sự giống và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo, tác giả luận án đi
sâu phân tích khái niệm tín ngưỡng trên cơ sở của năm đặc trưng sau:
1. Xem xét tín ngưỡng gắn với đời sống tinh thần nói chung.
2. Xem xét tín ngưỡng như là kết quả của sự hình thành và phát
triển các quan hệ xã hội, có tác động trở lại các quan hệ đó.
3. Xem xét tín ngưỡng như là phương thức biểu hiện niềm tin của
con người vào cái thiêng liêng, biểu hiện sự bất lực của họ trước sức mạnh
thống trị của lực lượng tự nhiên và xã hội.
hệ. Tổ tiên tô-tem giáo trong thời kỳ thị tộc mẫu hệ là những vật trong
thiên nhiên được thần thánh hóa, được coi là tô-tem (vật tổ) của thị tộc, là
các vật thiêng và các thần che chở của gia đình thị tộc. Thời kỳ thị tộc phụ
hệ, tổ tiên là những người đứng đầu thị tộc đầy quyền uy. Khi họ mất, thì
những biểu tượng về họ là: ý niệm về linh hồn người chết; tổ tiên - tô-tem;
thần che chở của gia đình thị tộc. Đó là những yếu tố chính tạo nên biểu
tượng về tổ tiên được thờ cúng.
Ở đây, ý niệm về linh hồn người chết khiến cho người ta tưởng
nhớ tới tổ tiên người thật của gia đình và thị tộc với đầy đủ tính xác định
về nhân hình và cá tính. Ý niệm về tổ tiên tô-tem gây một sắc thái xa lạ,
mơ hồ song vẫn gần gũi, còn ý niệm về thần che chở cho gia đình và thị
tộc mang lại cảm giác được ban ơn, che chở đối với thành viên thị tộc.
27
Theo Tô-ca-rép, ở châu Phi, người Giaga phân tổ tiên được thờ
cúng thành ba loại:
- Người mới chết - Là đối tượng được thờ cúng rất nghiêm ngặt vì
người ta còn nhớ rất rõ những người này.
- Người chết trước nữa - Đây là đối tượng không được hiến tế vì bị
lãng quên và coi là thần bí.
- Người chết đã lâu - Cũng là đối tượng không được thờ cúng vì bị
quên hẳn không còn ý niệm nữa [89, tr. 317].
Tổ tiên trong xã hội có giai cấp được thể hiện đầy đủ hơn. Họ thường
là những người đàn ông giữ vị trí chủ gia đình, gia tộc, đã mất, có quyền thừa
kế và di chúc tài sản theo quan niệm của chế độ phụ quyền. C. Mác, khi
nghiên cứu "quyền thừa kế" trong gia đình ở La Mã thời cổ đại, cho rằng:
Người chủ gia đình La Mã có quyền lực tuyệt đối đối với
toàn bộ những cái thuộc phạm vi kinh tế gia đình... Thông qua
ánh tư tưởng, nguyện vọng và tình cảm của nhân dân trong cuộc đấu tranh
chống thiên tai, địch họa bảo vệ cuộc sống cộng đồng. Họ vẫn được tôn
thờ, kính trọng như các tổ tiên nhân thần trong các không gian tôn giáo.
Các Thành Hoàng làng ở Việt Nam có nguồn gốc siêu nhiên cũng được
xem như là ông Tổ của cộng đồng làng.
Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức
hợp những yếu tố: ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và lễ nghi thờ
cúng trong không gian thờ cúng.
Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tâm linh, tình cảm hướng
về cội nguồn của con cháu. Thờ tổ tiên là sự thể hiện lòng thành kính, biết
ơn, tưởng nhớ tổ tiên. Đồng thời cũng là sự thể hiện niềm tin vào sự che
chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Cơ sở của sự hình thành ý thức về tổ tiên
29
là niềm tin về linh hồn bất tử, tổ tiên tuy đã chết, song linh hồn vẫn sống
thường lui tới gia đình ngự trên bàn thờ.
Người Ghê-rê-nô ở châu Phi, khi hoạn nạn thường mang vật tế tới
mộ tổ tiên khấn rằng: Chúng tôi là con cháu tới đây mong cha dạy bảo
phải làm gì và cho chúng tôi phúc lành...
Người Xlavơ thờ tổ tiên, thể hiện ở tình cảm biết ơn, mong tổ tiên
về ăn uống với con cháu và mong tổ tiên giúp cho việc làm ăn của gia đình
thuận lợi, lúa mì tươi tốt, gia súc sinh sôi nảy nở mang lại nhiều của cải...
Người Trung Quốc, ý thức về tổ tiên khá sâu đậm, đặc biệt là tổ
tiên của dòng họ. Họ quan niệm rằng: Người chết chỉ có thể yên ổn trong
phần mộ của mình hay trên bàn thờ gia đình nếu con cháu dâng cúng lễ
vật theo nghi thức, ngược lại người sống chỉ sung sướng khi được bao bọc
bởi những ảnh hưởng tốt lành của người chết đang che chở họ một cách bí
ẩn. Người Trung Quốc thờ cúng tổ tiên cũng là để kính báo tổ tiên mỗi khi