Tục thờ cúng tổ tiên của người việt ở đồng bằng bắc bộ việt nam - Pdf 49


.......................................................................... 08

3. Khung C ánh M ôi Trư ờng T ự Nhiên c ủ a Hông B ằn g B ắ c B ộ

.........09

B . Ẳnh Hương c ủ a Văn Hóa c ủ a Người V iệt ở Hồng B ằn g B ắ c Bộ
Bôn Tục T hờ Cúng T ể T iên

................................................................................10

1. K hái Q uát Vê Văn Hóa c ủ a Người V iệt Ỡ Hồng B ằn g B ắ c Bộ
T rung B ô ì c ả n h Văn Hóa Hông Nam Á
2. C ách T ể Chức sả n X u ấ t V à Hời số n g
3. C ách T ể Chức G ia Hình v à X ã Hội

....................................................10
.............................................

...............................

4. C ách T ể Chức Sinh H oạt Văn Hóa Tinh T h ần

12
.14

...................................... 16

CHƯƠNG H A I: T Ụ C TH Ờ CÚN G T ổ T IÊ N CỦA NGƯỜI V IỆ T
Ở ĐỒNG BẰ N G B Ắ C BỘ

................ ............................................................................ ...23

2.2. C ách B à i T r í B àn T h ờ T ổ T iên

............................................................23

B . Nghỉ Thức Thờ Cúng T ố T iên c ủ a Người V iệt Ớ Đồng B ằn g B ắ c Bộ ..25
1. Những Thời G ian Thờ Cúng T ổ T iên
1.1. Thời G ian T heo Điển C h ế

.........................................................25

...................................................................... 26

1.2. Thời G ian T heo Tín Ngưỡng Dân Gian V à C á c Tôn G iáo K h ác26
2. C ác L oại Giỗ

....................

28

2.1. Ngày Giỗ Đầu

...............................................................................................28

2.2. Ngày Giỗ H ết

................................................................................................ 28

2.3. Ngày T iên Thường

3.5. Thực Phẩm

................................................

35

..................................................................................................... 36

HƯƠNG B A : TÂ M TH Ứ C DÂN GIAN DÔ I V Ớ I T Ụ C TH Ờ CÚNG
T ổ T IÊ N

.....................................................................................

38

A. Ảnh Hưởng c ủ a Tín Ngưỡng Nguyên Thủy Đối v ơ i T ục T h ờ Cúng
T ổ T iên

........................................................................................................................ 38

1. Quan Hệ c ủ a T ục T h ờ Cúng T ổ T ỉên v ơ i C á c T ụ c L ệ K h ác
B . Ảnh Hưởng c ủ a C ác G iáo Lý Đôi v ơ i Tục T h ờ Cúng T ổ T iên

.......39
.......... 42

1. Ảnh Hương c ủ a P h ật G iáo

............................................................................ 42


thị tộc... thể hiện môi quan hệ tâm linh giữa những người đang sông và những
người đã khuất. Đó là sợi dây bền vững xuât phát từ tình cảm cộng đồng, nôi
quá khứ với hiện tại và tương lai, tạo nên tính liên tục trong sự đứt đoạn của các
cộng đồng tộc người từ gia đình - họ hàng - làng nước... Vì thế, thờ cúng tổ tiên
là một tín ngưỡng phổ biến trong nhiều dân tộc trên th ế giới từ châu Phi, châu
Mỹ đến châu Á, châu  u1. Nhìn chung tục thờ cúng tổ tiên bao giờ và ở nơi nào
cũng có hai mặt: tình cảm và ý thức.
Nhiều nhà khoa học cho rằng thờ cúng tổ tiên thực sự phát triển ở giai
đoạn thị tộc phụ quyền. Tuy nhiên mỗi cộng đồng tộc người có cách thể hiện
riêng tùy theo quan niệm về nhân sinh và vũ trụ của mỗi nền văn hóa. Ví như
mộ táng người trong chum của chủ nhân nền văn hóa Sa Huỳnh là vật chứng hữu
thể mang một thông điệp rằng sau khi chết con người sẽ tái sinh, chôn người
trong chum là để đưa con người trỏ lại thành bào thai nằm trong bụng mẹ.
Ở nước ta, với niềm tin rằng tổ tiên ông bà sẽ phù hộ độ trì cho con
cháu, và về phần mình con cháu phải tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ tới những
người đã sinh ra mình, hầu hết các dân tộc đều có tục thờ cung tổ tiên. Nhưng
điển hình nhất là người V iệt (Kinh). Trên cơ tầng Đông Nam Á, cha ông ta đã
tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở hai phương diện: một là mô
phỏng dòng họ phụ hệ (các tộc danh họ ở V iệt Nam đều có nguồn gốc

1 Xem Lê Sĩ Giáo (chủ biên), Dân tộc học đại cương, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 1995, tr. 188-190.

1


Tục thờ cúng t ổ tiên của người Việt ỗ Đồng bằng B ắ c Bộ

-

Việt Nam

2 Cũng có một hai biệt lệ nhỏ. Một biệt lệ là trường hựp một sô" người muôn mang tộc danh Mạc, sau đổi
lại thành Lều. Thê kỷ X V I là một thê kỷ nội chiến, bây giờ, hai họ Mạc và Lê đánh nhau. Mạc thua,
rút về phía biên giđi Trung - Việt. Khi nhà Mạc thua hẳn, một sô" người bỏ tộc danh cũ (Mạc), lây tộc
danh của một tộc thiểu sô" trong vùng (Lều). Lều không phải là tộc danh Hán.
2


Tục thờ cúng t ổ tiên của người Việt ở Đồng hằng 3 ắ c 3 ộ

-

Việt Nam

dân ta đã xây dựng nhiều phong trào có tính chất quần chúng: từ phong trào xây
dựng lại gia đình - dòng họ, phong trào hội trường vổi truyền thông tôn sư trọng
đạo, đến phong trào phục hồi các lễ hội văn hóa truyền thông... Trong tình hình
đó, việc thờ cung tổ tiên được phục hồi nhanh chóng và rộng khắp trên cả nước.
Nhìn từ góc độ văn hóa, tục thờ cúng tổ tiên của người V iệt mang
nhiều ý nghĩa tích cực. Nó thể hiện tình cảm trân trọng và biết ơn đôi với tổ tiên,
những người có công đôi với cộng đồng, những tổ phụ của các ngành nghề, các
anh hùng dân tộc... Tục lệ này còn là môi dây chặt chẽ liên kết cá nhân với cộng
đồng, tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm nên sức sông của dân tộc trong lịch sử
dựng nước và giữ nước.

B. LỊCH s ử NGHIÊN c ứ u CỦA VÂN ĐE

Thờ cúng tổ tiên là tục lệ hết sức quan trọng đôi với người Việt. Trước
đây vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý và đề cập đến. Do tính chất
quan trọng, nên từ lâu nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu không chỉ của các
học giả trong nước mà còn của các học giả nước ngoài, đặc biệt là người Pháp.3

nghiên cứu tên tuổi như Gs. Trần Quốc Vượng, Gs. Vũ Ngọc Khánh, Gs. Lê
Trung Vũ... qua đó tham khảo một sô' ý kiên quan trọng đáng chú ý về vân đề
này.

5


Tục thờ cúng t ổ tiên của người Việt ở Đồng bằng B ắ c Bộ

-

Việt Nam

E. KẾT CÂU CỦA LUẬN VĂN

Luận văn “Tục thờ cúng tể tiên của người V iệt ở Đồng bằng B ắc Bộ V iệt N am ” ngoài phần mở đầu và kết luận thì phần nội dung chính được kết câu
làm 3 chương như sau:

Chương

1: KHÁI QUÁT CHUNG vệ M ÔI TRƯỜNG T ự

NHIÊN VÀ VẢN HÓA

CỦA NGƯỜI V IỆ T Ở ĐỒNG BANG b á c b ộ
A. Khái quát về môi trường tự nhiên của Đồng bằng B ắ c Bộ
B. Ảnh hưởng của văn hóa của người V iệt ở Đồng bằng B ắc Bộ đến
tục thờ cúng tổ tiên

Chương 2 : TỤ C THỜ CÚNG T ổ TIÊN CỦA NGƯỜI V IỆ T Ở Đ ồN G BANG

Hymalaya và Thiên Sơn. Hai dãy núi này được xem như hai mái nhà của khu
vực. Hầu hết các con sông lớn của khu vực đều bắt nguồn từ hai dãy núi này và
lưu vực của các con sông đó đã trở thành những đồng bằng mầu mỡ đầy phù sa.
v ề cảnh quan địa mạo vùng này có nét đặc biệt, đó là sự chênh lệch
khá lớn giữa bình nguyên và núi rừng, đồng thời là sự chênh lệch khá nhỏ giữa
bình nguyên và mặt biển. Chính sự kiến tạo địa lý này cộng với đặc điểm khí
hậu gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều đã làm cho khu vực này sớm trở thành quê
hương của cây lũa nước, từ đó sáng tạo ra nền văn hóa, văn minh lúa nước.
Đời sông tinh thần của cư dân nông nghiệp lứa nước Đông Nam Á có
những nét đặc trưng như: có tính châ't tương đôi đồng nhâ't về nhân văn cộng
đồng, nó được biểu hiện qua cơ câu tổ chức làng xóm, xã thôn với những qui
định chung, tập tục chung được biểu hiện ở ý thức bảo tồn tín ngưỡng cổ xưa,

7


Tục thờ cúng t ổ tiên của người Việt ở Đồng bằng 3 ắ c 3 ộ - Việt Nam

những nguyên lý triết học cổ xưa mà khởi nguyên của chúng là những tín ngưỡng
bái vật giáo nguyên thủy, quan niệm hợp nhât giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ,
những môi giao hòa giữa vật với tâm.
Ở vị trí ngã tư đường từ Đông sang Tây và nằm kề hai nền văn minh
sớm được thiết chê chặt chẽ là Trung Hoa và Ấn Độ nên Đông Nam Á ảnh
hưởng và tiếp nhận văn hóa từ ngoài vào rất nhiều, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng
trong quá trình tiếp nhận văn hóa ngoại lai, Đông Nam Á luôn lựa chọn, thích
nghi một cách chủ động và do có bản lĩnh nên vẫn giữ gìn được bản sắc của
mình. Chính điều đó đã tạo cho Đông Nam Á một bức tranh văn hóa phong phú
đa dạng và rất đặc sắc.

2. Bốì Cảnh Riêng Ở Việt Nam

Đồng bằng B ắc Bộ là một châu thổ được hình thành do sự bồi đắp phù
sa của sông Hồng và sông Thái Bình trong một vịnh biển mà bờ là một vùng đồi
núi. Bản thân vịnh biển này cũng là một vùng đồi núi, sau bị sụt vũng dưới mực
nước biển. Vì thế một mặt trong lòng đồng hằng vẫn tồn tại những đồi núi sót
lại, vôn là đỉnh của những hệ thông núi đã sụt võng, mặt khác ranh giới đồng
hằng rất ngoằn ngoèo, vừa men theo những chân núi đồi đồng bằng, vừa ăn sâu
vào đồi núi theo các thung lũng sông.
Điều này đã được khoa học địa chất chứng minh: trước và trong thời
kỳ cổ sinh đại, lãnh thể phía B ắ c V iệt Nam cũng như các vùng đảo hiện nay của
Đông Nam Á là một bộ phận lãnh địa gồm những dãy núi xen kẽ giữa các trũng
biển. Những chuyển động uôn nếp lớn như Calêđôni (3 0 0 triệu năm về trước)
hoặc Hácxinni (250 triệu năm về trước) đã hình thành nên trầm tích của các loại
đá khác nhau, trong đó quan trọng nhât là tầng đá vôi hữu cơ thuần nhất Đồng
Văn, Sa Phin, Sa Chảy.5
Điều nổi bật nhât của địa hình châu thổ sông Hồng là đê, đê sông, đê
biển, do con người xác lập từ trước công nguyên - một địa hình nhân tạo. Con đê
có mặt tiêu cực và tích cực của nó. Nhà địa lý người Pháp p. Gourou cho rằng
con đê là nguyên nhân làm cho “ch âu th ổ B ắ c B ộ đ ã ch ết trong tuổi vị thành niên
củ a nó ”.
Vùng đồng bằng này sau khi được chinh phục đã trở thành lãnh thổ
chính của V iệt Nam. Từ trước đó rất lâu cũng đã có nhiều người sinh sông. Mật
độ dân cư ở đây tập trung đông đúc. Thành phần dân tộc tương đốì thuần nhâ't:
hầu hêt là người V iệt (Kinh). Khí hậu ở đây rất đặc biệt so với các vùng khác.
Có bôn mùa với ranh giới rõ rệt. Mùa đông có nhiệt độ thấp hơn 18°c khiến cho
mùa vụ lua ở vùng này râ't nghiêm ngặt và cây được ít vụ mùa hơn các vùng châu
thổ khác. M ột điều bất lợi khác là khí hậu vùng này có tính chất thất thường.
Gió mùa Đông B ắc từ X ibia xa xôi và đến vùng này sau khi qua miền Nam
Trung Hoa vì thê nên lạnh, khô hanh, nhưng có một luồng gió nữa sau khi qua
Nam Trung Hoa, ra biển Đông sang vùng châu thổ B ắ c B ộ trở nên lạnh và ẩm rất
khó chịu.

mang một phần cội nguồn ban đầu đó. Đ ể hiểu được nguồn gốc, bản sắc văn hóa
dân tộc, thậm chí một hiện tượng như thờ cúng tổ tiên mà chúng tôi đang khảo
sát, không thể không đặt nó trong bốĩ cảnh đồng văn Đông Nam Á. Ngay cả
những nước lớn như Trung Hoa hay Ân Độ, thời tiền sử cũng đã thâu hóa một
phần rất quan trọng văn hóa Đông Nam Á để câu thành nền văn hóa dân tộc của
họ, đặc biệt là quá trình hình thành văn hóa Trung Hoa. Do đó chỉ có thể nghiên
cứu sâu sắc nền văn hóa Đông Nam Á chúng ta mới biết mình là ai, từ đâu tới và
phân biệt được đâu là yếu tô' bản địa, đâu là yếu tô' ngoại lai và quá trình tiếp
biến, giao lưu văn hóa ở trong khu vực và những ảnh hưởng của các nền vãn hóa
lớn.
Do điều kiện tự nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa với hệ sinh thái phổ quát,
cư dân Đông Nam Á từ nền kinh tê' tước đoạt chuyển sang kinh tế sản xuất đã
sáng tạo nên cái nôi trồng trọt cổ nhất của loài người với hai giai đoạn là nông
nghiệp trồng củ tiền côc loại và trồng lúa nước. Ớ đây dù việc thuần dưỡng động
vật diễn ra khá sớm nhưng điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho chăn nuôi nên
vắng bóng văn hóa du mục. Theo tài liệu khảo cổ học thì văn hóa Hòa Bình
cách đây 20 vạn năm ở Đông Nam Á đã xuât hiện nông nghiệp làm vườn trồng
rau củ và đến cách mạng đá mới thì đã xây dựng được nghề nông nghiệp trồng
lúa nước vùng thung lũng chân núi. Từ đó cây lúa phát triển theo hai hướng:
xuống đồng bằng châu thể - ta có cây lúa nước, trở lên vùng núi - ta có cây lúa
nương. V ị trí văn hóa trồng rau củ mờ dần trong đời sông (còn được bảo lưu
trong nghi lễ) của cư dân Đông Nam Á lục địa, nhưng vẫn còn vai trò quan trọng
trong đời sông của cư dân Đông Nam Á hải đảo... Cây lúa đem lại cho con người
một cuộc sông định cư ổn định, năng suất cao nhờ thâm canh với một cuộc sông
văn hóa tinh thần râ't phong phú, đa dạng và được chuyển tải qua lại trên sông
nước.
Quá trình hội tụ văn hóa tộc người được đẩy mạnh và tập trung ở vùng
châu thổ trong sự kết hợp giữa văn hóa Đông Sơn với văn hóa Đông Hải mở đầu
lỉ


trộm, cướp...) đều cần phải tập hợp sức mạnh của cả làng lại mới có hiệu quả.
Đ ể thắt chặt cộng đồng mà chủ yếu dựa trên quan hệ láng giềng, với
lôi sông “bán anh em xa, mua láng giềng g ầ n ” khá lỏng lẻo, người ta đã áp dụng
quan hệ thân tộc bằng cách dùng các danh từ chỉ quan hệ trong gia đình làm các

12


Tục thờ cúng t ổ tiên cùa người Việt ở Đồng bằng B ắ c Bộ - Việt Nam

đại từ nhân xưng trong xã hội. Vì thế ra ngoài làng ngoài xã, thậm chí trong
phạm vi cả nước người ta vẫn xưng hô với nhau bằng các từ như: ông, bà, cô,
chú, dì, cháu, anh, em ...
Như vậy làng của người V iệt Nam được hình thành không phải dựa
trên khuôn mẫu của người Trung Hoa. Làng của người Trung Hoa lập nên do
quan hệ máu mủ, là nơi định cư của một dòng họ, hiện tượng này có thể thây qua
các tên gọi như Ngô xá (xá là nơi ỏ, Ngô xá là nơi ở của dòng họ Ngô), Lâm xá,
Cao xá... Còn người V iệt Nam sông tập hợp lại thành làng chủ yếu là do thiên
tính của con người muôn sông quây quần tụ họp và thiên tính này chính là thiên
tính sinh tồn.
Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng bao trùm nhât, quan
trọng nhất của làng xã.
Biểu tượng truyền thông của tính cộng đồng là ngôi đình - cây đa bến nước. Trong đó ngôi đình là biểu tượng khái quát nhất, tập trung nhât của
làng về mọi phương diện. Làng nào cũng có một cái đình, đó là trung tâm hành
chính, trung tâm văn hóa và trung tâm tôn giáo. T h ế đất, hướng đình quyết định
vận mệnh của làng. Đình là nơi thờ Thành hoàng, vị thần bảo trợ cho dân làng.
Một tác giả người Pháp khi nghiên cứu về tín ngưỡng V iệt Nam đã viết: “Sự thờ
phụng tổ tiên tượng trưng cho gia đình và việc nôi dõi tổ tông, sự thờ phụng
Thành hoàng tượng trưng cho làng xã và sự trường tồn của thôn x ó m ”.6
Tính tự trị của người V iệt Nam được thể hiện qua biểu tượng truyền

rõ ràng hơn. Tuy nhiên do có một s ố đặc trưng riêng của mình và tiếp thu có bản
lĩnh nên ảnh hưởng ấy được V iệt Nam sửa đổi cho phù hợp, hoặc sáng tạo trên cơ
sở truyền thông bản địa và trên cơ sở đặc thù nền văn hóa thiên nhiên của V iệt
Nam.
Vì thế, có thể nói cơ câu tổ chức gia đình người V iệt đã chịu ảnh
hưởng nhất định nhưng hoàn toàn không phải là một bản sao của mô hình cơ cấu
tổ chức gia đình Trung Hoa.
Chỉ xét riêng về điều kiện và phương thức canh tác, ta cũng thây giữa
V iệt Nam và Trung Hoa có sự khác biệt lớn (đó là phương thức tiểu canh và
phương thức quảng canh như đã nói ở trên), từ đó sẽ dân dân sư khác biệt về tính
chât tổ chức sản xuất và tổ chức gia đình.
Như ta đã biết, gia đình chính là đơn vị sản xuất kinh t ế xã hội nhỏ
nhất. Điều này có nghĩa là mô hình đại gia đình không thể phù hợp với nền kinh
tế nông nghiệp lúa nước tiểu canh của V iệt Nam. Vì thế mô hình đại gia đình
phụ hệ tộc trưởng với hai yếu t ố tôn pháp và quyền trưởng nam của Trung Hoa
khó áp đặt vào V iệt Nam.
Tuy nhiên mô hình cơ cấu này có điểm ưu việt là nó có tính qui củ
chặt chẽ và rõ ràng gần như một pháp chế. Nét ưu việt này đã được truyền thông
V iệt Nam tiếp nhận, thâu hóa để tạo ra đặc thù phụ hệ gia trưởng cho cơ câu gia
đình của mình.
Ta có thể thấy nét đặc thù này khi so sánh hình thức thờ cúng tổ tiên
của người Trung Hoa và người V iệt Nam. Hình thức thờ cúng tổ tiên ở Trung

14


Tục thờ cúng t ổ tiên cùa người Việt ở Đồng bằng B ắ c Bộ - Việt Nam

Hoa chủ yếu và hầu như chỉ được tiến hành trong phạm vi dòng họ tại từ đường
họ theo sự điều hành của tộc trưởng (hầu như rất khó tìm thây bàn thờ tổ tiên

thức canh tác lúa tiểu nông khiến phụ nữ có thể tham gia vào tất cả các công
đoạn của quá trình sản xuất. Ngoài việc trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, cụ

15


Tục thờ cúng t ổ tiên cùa người Việt ở Đồng bằng B ắ c Bộ - Việt Nam

thể là sản phẩm nông nghiệp, người phụ nữ V iệt Nam còn có chức năng nội trợ
và chăm sóc con cái như tât cả phụ nữ khác trên thế giới. B ên cạnh đó người
phụ nữ V iệt Nam còn có năng lực đặc biệt trong hoạt động thương mại, và với
một cơ câu nông nghiệp tự cấp, tự túc như truyền thông V iệt Nam thì hoạt động
thương mại mang tính châ't tiểu thương sẽ có vai trò vô cùng quan trọng. T ắt cả
những điều đó đã tạo cho người phụ nữ V iệt Nam một địa vị cao trong gia đình
và trong xã hội nói chung.
Vđi nét đặc trưng về cách tổ chức gia đình và xã hội k ể trên, ta thây
gia đình người V iệt có tính châ\ và cơ câu như một chỉnh thể hòa đồng tương đối
dân chủ và có môi quan hệ duy tình chặt chẽ trên cơ sỏ huyết thông hơn là một
chỉnh thể của bộ máy quy củ nếu ta so sánh nó với gia đình Trung Hoa. Điều này
cắt nghĩa tại sao tục thờ cúng tổ tiên ở V iệt Nam chưa bao giờ (và có lẽ sẽ không
bao giờ) chỉ là độc quyền gia trưởng hoặc trưởng nam trong gia đình người Việt.

4. Cách T ổ Chức Sinh H oạt Văn Hóa Tinh Thần
Hầu như quanh năm suô't tháng cư dân nông nghiệp tắm mình trong
không khí lễ hội văn hóa dân gian. Những ngày hội làng, bên cạnh những hình
thức, nghi lễ (có cả một hệ thông nghi lễ thờ cúng tể tiên, nghi lễ nông nghiệp...)
là cả một chuỗi hoạt động văn hóa văn nghệ. Ở đây tôi chỉ trình bày ba hệ thông
tín ngưỡng trong hoạt động văn hóa tinh thần mang tính châ't tâm linh, đó là: tín
ngưỡng đa thần, tín ngưỡng phồn thực và sùng bái con người.7
Do người V iệt Nam sông bằng canh tác nông nghiệp lúa nước nên sự

Cũng theo lôi triết lý của cư dân nông nghiệp lúa nước là: để duy trì sự
sông cần có mùa màng tươi tốt; để phát triển sự sông cần cho con người sinh sôi.
Hai hình thức sản xuât lúa gạo để duy trì sự sông và sản xuất con người để kê tục
dòng giông này có bản ch ắ t giông nhau, đó là sự kết hợp giữa hai yếu tô khác
loại là Trời và Đất; Cha và M ẹ.
Từ cách tư duy này đã dẫn đến triết lý âm dương và kết quả là tín
ngưỡng phồn thực. Ở V iệt Nam tín ngưỡng phồn thực đã từng tồn tại suô't chiều
dài lịch sử và có hai dạng biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục nam nữ và thờ hành vi
giao phôi. Ngày nay người ta tìm thấy nhiều hiện vật có hình tượng cơ quan sinh
dục nam nữ có niên đại hàng ngàn năm trCN ở Văn Điển (Hà Nội), Sa Pa... Hay
ở hội làng Đồng Kị (Hà B ắc) có tục rước sinh thực khí vào ngày mùng 6 tháng
giêng hàng năm.
Tục thờ hành vi giao phối tạo nên một dạng tín ngưỡng phồn thực độc
đáo, đặc biệt phổ biến ở Đông Nam Á; nó cũng được thể hiện trên các hiện vật
được tìm thây hay trong một sô' sinh hoạt ở các lễ hội dân gian như tục tắt đèn,
điệu múa tùng dí...
Vai trò của tín ngưỡng phồn thực trong đời sông tâm linh của người
V iệt Nam lớn đến mức chiếc trông đồng - biểu tượng sức mạnh và quyền lực của
người xưa - đồng thời cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực, mà
ngày nay người ta còn thấy nó được bảo lưu qua cách đánh trông và các hoa văn
trên mặt trông của người Mường.

TR tBH G

đại học mở ĩ M cm

THƯ VIỆN


Tục thờ cúng t ổ tiên của người Việt ở Đồng bằng 3 ắ c 3Ộ


CHƯƠNG HAI
TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT ổ
DỒNG BẰNG BẮC BỘ

A. QUAN N IỆM CỦA NGƯỜI V IỆ T V Ề T ổ TIÊN

Khái niệm về tổ tiên của người V iệt rất phong phú, theo quan niệm
sâu sắc nhưng cũng mang tính sinh hoạt đời thường là “chim có tổ, người có
tông”. Thủy tổ là người mở đầu cho một dòng họ. Viễn tổ là lớp người cách
chúng ta một thời gian dài không xác định chắc chắn được. Những vị sông cách
chúng ta bôn, năm đời gọi là Cao tể.
Không phải chỉ những bậc xa xôi mới là tổ, ngay ông bà, cha mẹ
chúng ta cũng là tổ: Tằng tể là ồng nội, Hiển tổ là cha.
Tục thờ cúng tổ tiên của người V iệt ảnh hưởng từ Trung Hoa nhưng có
mang nét khu biệt: vai trò người phụ nữ ở đây được tôn trọng, chỉ một ít gia phả
không ghi chép đầy đủ tên tuổi người phụ nữ, còn nói chung người V iệt Nam
luôn nhớ đến cả ông và bà. T ổ khảo là vị tổ đàn ông, T ổ tỷ là vị tổ đàn bà.
Những bà là chị em của các tổ thì được gọi là T ổ cô. Những ông là anh em thì
được gọi là T ổ bá, T ổ thúc.
Quan niệm về tổ tiên của người V iệt không bó gọn trong phạm vi gia
đình. Những người sáng tạo hay phát huy các ngành nghề cũng được gọi là tổ.
Cả dân tộc V iệt Nam có chung một tổ:
“...Hồng Bàng là tể nước ta,
Nước ta khi ấy gọi là Vãn L a n g ...”

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status