iv
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TIẾP CẬN SỰ DUNG HỢP PHẬT
GIÁO VỚI TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN NGƢỜI VIỆT 8
1.1. Khái niệm tín ngƣỡng và bản chất thờ cúng tổ tiên của ngƣời
Việt 8
1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng 8
1.1.2. Bản chất tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 20
1.2. Sự tiếp nhận Phật giáo của ngƣời Việt và quan niệm về tổ tiên
trong Phật giáo 29
1.2.1. Sự tiếp nhận Phật giáo của người Việt 29
1.2.2. Quan niệm tổ tiên trong Phật giáo 38
Chƣơng 2: SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƢỠNG
THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƢỜI VIỆT (Qua khảo sát một số chùa
ở Hà Nội) 46
2.1. Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên
trong đời sống tinh thần của ngƣời Việt 46
2.1.1. Biểu hiện trong thực hành tín ngưỡng 46
2.1.2. Biểu hiện trong thực hành nghi lễ thờ cúng 57
2.2. Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên
trong cách thức bài trí ngôi chùa 68
2.2.1. Biểu hiện trong kiến trúc 68
2.2.2. Biểu hiện trong cách thức bài trí thờ tự 78
2.3. Một số kiến nghị nhằm phát huy giá trị văn hóa hội nhập giữa
Phật giáo với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của ngƣời Việt 88
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
2
mơ của người lao động, Phật giáo đã thấm sâu vào trong dân chúng, tồn tại
và phát triển qua nhiều đời, nhiều thế hệ và được đông đảo nhân dân Việt
Nam hưởng ứng. Phật giáo được Việt hóa đã có sức sống vô cùng mạnh mẽ
trong đời sống tinh thần của nhân dân, tạo nên sự dung hợp với truyền
thống văn hóa dân tộc trên mọi khía cạnh: lễ hội, tín ngưỡng, phong tục,
tập quán
Bước vào hội nhập, phát triển kinh tế thị trường, cùng với chính sách
tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước, các tôn giáo đều có sự khởi sắc mạnh
mẽ, nhất là đạo Phật. Số lượng các tín đồ không ngừng tăng cao, các hoạt
động tôn giáo tín ngưỡng “rầm rộ”, sôi nổi và đa dạng
Phật giáo đã và đang đồng hành cùng dân tộc, xây dựng một xã hội
văn minh, bình đẳng, bắc ái…. Kết hợp với những yếu tố văn hóa truyền
thống (cụ thể là Tục thờ cúng tổ tiên), Phật giáo đã góp phần nâng cao, làm
phong phú, đa dạng thêm kho tàng văn hóa truyền thống tốt đẹp của người
Việt nói riêng, và dân tộc Việt Nam nói chung.
Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường đã làm cho một số hoạt
động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng Phật giáo bị lệch lạc, “biến
tướng”.
Những lý do trên cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu đề tài
“Sự dung hợp Phật giáo với tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của ngƣời
Việt” (qua khảo sát tại một số chùa ở Hà Nội), để có thể giúp các cơ quan
chức năng, các nhà quản lý văn hóa tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá
trị đạo đức, mối quan hệ tốt đẹp giữa Phật giáo và Tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên tạo nên, trong bối cảnh hội nhập để xây dựng đất nước. Đồng thời, rút
ra những bài học kinh nghiệm trong vấn đề quản lý tôn giáo tín ngưỡng nói
chung và trước những biến tướng về hoạt động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
thờ Phật nói riêng.
3
tục”; Toan Ánh (1996) “Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam”; Vũ
Ngọc Khánh (1996) “Tín ngưỡng làng xã”; Trần Đăng Sinh (2002) “Những
khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên”; Trương Thìn (2010)
“Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa miếu phủ”…
Đây là những công trình nghiên cứu công phu, tập hợp tất cả các vấn
đề về phong tục tập quán cũng như tục thờ cúng tổ tiên của người Việt dưới
nhiều góc độ khác nhau. Qua đó khẳng định rằng, mỗi dân tộc có một nền
văn hóa với bản sắc riêng. Những yếu tố cơ bản cấu thành nên bản sắc của
một nền văn hóa riêng đó là phong tục, tập quán và nghi lễ dân gian truyền
thống. Sự lưu giữ trường tồn phong tục tập quán trong một nền văn hóa nói
lên sức sống của dân tộc. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến
vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Thứ ba, xoay quanh vấn đề nghiên cứu mối quan hệ các tôn giáo với
tín ngưỡng Việt Nam có các công trình: Trần Quốc Vượng (2003) “Văn
hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”; Tạ Chí Đại Trường (1989) “Thần,
Người đất Việt”; Léopld Cadiere (1997, Bản dịch) “Về văn hóa và tín
ngưỡng truyền thống người Việt”…
Dung hợp tôn giáo ngoại nhập với tín ngưỡng bản địa trong quá khứ,
hiện tại hay tương lai, chính là chất keo gắn kết, tạo sự giao lưu, hòa hợp
với dân tộc, góp phần cơ bản làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, những vẫn
không hề mất đi căn tính đức tin tôn giáo. Vì vậy, đây là những công trình
nghiên cứu đáng lưu ý để chúng tôi tri ân, kế thừa trong bài viết của mình.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu lớn nêu trên còn phải kể đến
một số bài viết nghiên cứu khoa học đăng tải trên các kỷ yếu, các tạp chí
như: Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Cộng sản, tạp chí Triết học, Tạp
chí nghiên cứu Lý luận…, tiêu biểu là “Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng
5
chặng đường 20 năm (1991 - 2011)” và “Những vấn đề tôn giáo hiện nay”
của Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân
trong quá trình dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu một số biểu hiện sự dung hợp Phật giáo với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt (qua khảo sát ở một số ngôi chùa
tại Hà Nội, trong đó tập trung khảo sát, nghiên cứu sâu ở các chùa Tảo
Sách, Bồ Đề, Pháp Vân), trên một số biểu hiện cụ thể như đời sống văn hóa
tín ngưỡng; nghi lễ thờ cúng….
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng các nguyên lý, quan
điểm mác xít như: quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử.
Luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu
trong và ngoài nước về Phật giáo, Phật giáo Việt Nam và tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp
tôn giáo học, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, thống
kê, lô gíc cụ thể…
7
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt (qua khảo sát một số chùa ở Hà Nội) trên một
số lĩnh vực biểu hiện như: đời sống văn hóa tín ngưỡng; nghi lễ thờ cúng
trong gia đình và ở Chùa. Luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm phát huy
giá trị truyền thống văn hóa dân tộc trong quá trình dung hợp giữa Phật
phổ biến trong mọi xã hội. Tín ngưỡng được biểu hiện dưới nhiều hình
thức khác nhau, rất đa dạng và phong phú. Chính vì vậy mà các nhà nghiên
cứu đã nhận xét, phân tích dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Trước hết, từ góc độ của xã hội học, các nhà xã hội học phương Tây
hiện đại như Spencer, Durkhiem… đã xem xã hội như một hiện thực siêu
hình được nuôi dưỡng bằng ý thức tập thể. Mà ý thức tập thể được tạo dựng
bởi những niềm tin, những tình cảm của mỗi thành viên. Trong xã hội, các
thành viên của một tập thể có chung một tín ngưỡng. Tín ngưỡng là một
yếu tố tạo nên sự cố kết và thống nhất của một tập thể, của nhóm xã hội.
Đó là niềm tin vào cái thế tục và cái thiêng liêng. Cái thế tục và cái thiêng
liêng là tính chất chung của mọi tín ngưỡng, tôn giáo. Durkhiem cho rằng
tín ngưỡng là những trạng thái tư tưởng nằm ở các biểu tượng và được thể
hiện thông qua các nghi lễ thờ cúng: “Trên cơ sở của tất cả các hệ thống tín
ngưỡng và các hình thức thờ cúng đó, nhất thiết phải có một số biểu trưng
cơ bản và các thái độ mang tính nghi lễ, bất chấp sự đa dạng về hình thức
khoác lên chúng ở đâu chúng cũng đều có cùng một ý nghĩa khách quan
như nhau và cùng thực hiện những chức năng như nhau”[35;62].
Từ góc độ dân tộc học, Wschmidt đã xem xét tín ngưỡng chẳng qua
chỉ là hình thức tôn giáo nguyên sơ - tiền tôn giáo, là niềm tin vào một vị
9
chúa vĩ đại và vĩnh hằng, nhân từ và sáng tạo đang ngự trị trên trời. Tín
ngưỡng là hiện tượng phổ biến có ở giai đoạn khởi đầu của mọi dân tộc”
[90;30].
Từ góc độ triết học, ngay trong thời cổ đại, các nhà triết học duy tâm
khách quan như Platôn, Hêghen… đã xuất phát từ thực thể tinh thần như “ý
niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo. Vì
vậy, họ cho rằng tín ngưỡng tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần
tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí cho con người.
Các nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng, tín ngưỡng tôn giáo
hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Tín
ngưỡng là niềm tin của con người vào sự tồn tại và sự cứu giúp của một
thực thể siêu nhiên nào đó được thể hiện qua hệ thống nghi lễ.
Một số học giả Việt Nam cũng đưa ra quan điểm của mình về tín
ngưỡng như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt thì tín ngưỡng có nghĩa là lòng tin và sự
ngưỡng mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa: “tín ngưỡng là tin theo một
tôn giáo nào đó”[84;960]. Một trong những quan điểm cụ thể và sát hợp
nhất cho rằng: “tín ngưỡng là một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng
thiêng, một sức mạnh thiêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con
người suy tôn, gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được mà
chưa nhận thức được. Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá của con người
được hình thành tự phát trong mối quan hệ của con người với chính mình
với người khác và với giới tự nhiên”[61;7]. Theo Từ điển tôn giáo, tín
ngưỡng được hiểu: “Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng
vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí; lực lượng siêu nhiên đó có thể mang
hình thức biểu tượng là “trời”, “phật”, “chúa”, “thánh”, “thần”, hay một sức
11
mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của
người ta, được con người tin là có thật và tôn thờ”[22;634-635].
Trong Hán - Việt từ điển, Đào Duy Anh cũng giải thích khái niệm tín
ngưỡng tương tự. Khi ông cho rằng, tín ngưỡng là lòng ngưỡng mộ, sùng
kính đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa.
Đặng Nghiêm Vạn lại xem tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn
giáo, qui định sức mạnh của tôn giáo với cộng đồng: “Khi bàn đến niềm tin
hay đức tin tôn giáo ở Việt Nam, ta đụng đến một thuật ngữ thường dùng là
tín ngưỡng. Tín ngưỡng chỉ niềm tin tôn giáo…. Những thể loại tôn giáo
tuy đơn giản về nội dung, nghi lễ, nhưng mang tính cộng đồng”[86;23].
Nguyễn Đăng Duy lại cho rằng “tín ngưỡng là một cách từ thực tế
niệm tôn giáo, nhưng lại có ý kiến ngược lại khi cho rằng tín ngưỡng là bộ
phận cấu thành của tôn giáo. Có ý kiến: “ý thức tôn giáo xuất hiện đầu tiên
dưới dạng tín ngưỡng nguyên thủy”[xem 47] và nó chỉ trở thành tôn giáo
khi nó đã phát triển đến một mức độ nào đó. Nhưng, có người lại quan
niệm, không phải mọi tín ngưỡng đều sẽ phát triển thành tôn giáo.
- Lại có quan điểm cho rằng, tôn giáo là cấp độ cao hơn tín ngưỡng:
“tín ngưỡng có thể xem là đồng nghĩa với các khái niệm: tôn giáo nguyên
thuỷ, tôn giáo sơ khai, tôn giáo tự nhiên”[61;7]. Theo quan niệm của Đảng
và Nhà nước ta, Nghị quyết số 25 cho rằng: “tín ngưỡng, tôn giáo đang
và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Ở
đây, Đảng ta đã đề cập đến vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo với ý nghĩa là hai
khái niệm được tách biệt độc lập và có mối quan hệ biện chứng với nhau,
tín ngưỡng phần nào được hiểu là cấp độ thấp hơn so với tôn giáo. Dưới
góc độ đặc điểm xã hội phương Đông và tư duy nông nghiệp phương Đông,
13
thuật ngữ tín ngưỡng và tôn giáo được hiểu theo tinh thần của Đảng và Nhà
nước ta là phù hợp. Nói về vấn đề này linh mục L.Cadiere, đã đưa ra một
nhận xét đáng lưu ý: “Các dân tộc Viễn Đông đặc biệt là người Việt, rất có
ý thức tôn giáo”.
* Từ tôn giáo có nhiều cấp độ, có nhiều sắc thái. Nếu ta hiểu tôn
giáo là niềm tin vào một Hữu thể tuyệt đối, vô cùng lớn lao, vô cùng hoàn
thiện, trí ta không ngừng kết hợp với Hữu thể ấy hiện diện khắp nơi; Tâm
ta kết hợp với Đấng toàn hảo ấy đang cai quản và gìn giữ mọi điều. Cuối
cùng vì lòng biết ơn về sự toàn thiện tột cùng, thể hiện ra bằng sự tôn thờ
một cách xứng đáng với Đấng tối cao đó; thời ta phải nói người Việt Nam
không có tôn giáo. Khái niệm về Đấng tối cao tuột khỏi họ; họ sống không
có Chúa. Nhưng nếu ta quan niệm tôn giáo là một niềm tin và thực hành
ảnh hưởng đến cách ứng xử theo lẽ phải của cuộc đời; đến một thế giới siêu
nhiên; thời ta phải nhận thấy người Việt Nam có cái đức tính đó ở mức cao
tín ngưỡng thờ thần, thánh, tín ngưỡng hồn linh giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu,
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên… Có thể nói trong tất cả các dạng thức tín
ngưỡng đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được coi là dạng thức có sức sống
bền bỉ, mạnh mẽ, hình thành rất sớm và có quá trình phát triển, hoàn thiện
dần dần theo từng bước thăng trầm của lịch sử nhân loại.
* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là khái niệm mang nghĩa phổ quát thể
hiện đạo hiếu của con người và được hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa
trong lịch sử nhân loại và đã tồn tại ở nhiều châu lục. Cho đến nay, tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần
của nhiều tộc người. Tuy vậy, đánh giá vai trò, ý nghĩa của nó trong từng
15
giai đoạn lịch sử và ở mỗi quốc gia lại không giống nhau. Ngay cả khái
niệm về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng đang có nhiều ý kiến tranh luận.
Có người gọi là tục thờ cúng tổ tiên, người khác lại gọi là sự thờ
cúng tổ tiên. Không ít người gọi là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ở miền
Nam thường gọi là đạo Ông Bà. Nguyễn Đình Chiểu có viết:
“Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”.
Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, gọi đạo cũng được, nhưng “đạo”
ở đây không có nghĩa như một tôn giáo, như đạo Ki tô, đạo Phật, đạo
Islam… mà phải hiểu nó như là đạo lý làm con, đạo làm người, đạo hiếu
nghĩa… những đạo ấy không thể là tôn giáo. Bởi vì đã là tôn giáo phải có
những tiêu chí của nó, chẳng hạn có giáo lý, có hàng ngũ giáo sĩ, có nơi hành
lễ, có giáo hội…
Còn X.A. Tocarev - một nhà dân tộc học nổi tiếng người Nga lại
khẳng định: “Sự thờ cúng tổ tiên là một hình thức tôn giáo, từ lâu đã được
thừa nhận trong khoa học. Vì thế, không cần phải chứng minh sự tồn tại
của nó với tư cách là một hình thức tôn giáo riêng biệt”[73;32].
cúng tổ tiên của họ.
Đối với người Hy Lạp rất coi trọng người quá cố. Con cháu thường
đem lễ vật đến cúng trước phần mộ của bố mẹ và tin rằng linh hồn người
mất còn phảng phất nơi phần mộ mà phận sự của con cháu là phải cúng tế.
Nếu không cúng để cho linh hồn thân nhân phiêu dạt trở thành quỉ đói thì
con cháu sẽ là kẻ phạm tội.
Người La Mã coi việc thờ cúng tổ tiên là phận sự thứ nhất của mỗi
gia đình. Vì thế, không kể giàu sang hay nghèo hèn, quan chức hay thứ
dân, khi gia đình có người mất họ đều tổ chức ma chay rất long trọng.
17
Không ít người tưởng rằng, thờ cũng tổ tiên chỉ hành thành và phát
triển ở châu Á. Thực tế, ở châu Phi, tục thờ cúng tổ tiên đã xuất hiện và
thịnh hành từ xa xưa. Trước kia, nơi này, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một
trong những khu vực điển hình nhất thế giới.
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã xuất hiện từ xa xưa ở nhiều
châu lục và khu vực khác nhau. Tuy vậy, vị trí, vai trò và ý nghĩa của nó ở
từng quốc gia, khu vực lại không giống nhau. Ví như, ở nhiều nước châu
Âu, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã nhạt phai và phải lùi về quá khứ kể từ
khi có sự xuất hiện của Ki tô giáo. Những nơi khác, khi ra đời của nhất
thần giáo thì tín ngưỡng này cũng bị lụi tàn dần. Riêng ở nhiều nước châu
Á, nơi còn tồn tại của đa thần giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn được
duy trì và ngày nay lại đang có cơ hội phát triển.
Bởi, ngoài nhu cầu tâm linh của con người được đáp ứng qua các
hình thức tín ngưỡng, tôn giáo, tục thờ cúng tổ tiên là biểu hiện của đạo lý
làm người, là nhu cầu hướng về cội nguồn của gia đình và dân tộc. Thờ
cúng tổ tiên là sự tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Tuy nhiên,
hình thức thờ cúng tổ tiên mỗi dân tộc khác nhau, mỗi giai đoạn lịch sử
cũng khác nhau. Nghĩa là hình thức của nó đa dạng, muôn vẻ với nhiều
biến thể để đáp ứng nhu cầu tinh thần đa chiều của những con người cụ thể.
đầu, trong đó có vai trò quan trọng của quan niệm về sự tồn tại của linh hồn
con người sau khi thể xác đã mất. Ý niệm này có mối quan hệ chặt chẽ với
nghi thức mai táng, giỗ tết… mà sau này đã trở thành những thành tố cơ bản
nằm trong phức hợp những biểu tượng đặc trưng của tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên. Nếu không có lòng tin về sự tồn tại của linh hồn những người đã khuất
ở thế giới bên kia thì không thể giải thích được những nghi thức khi thực
hiện thờ cúng tổ tiên. Sự thờ cúng này là nhằm thiết lập, gìn giữ mối quan hệ
19
gần gũi về huyết thống giữa người đang sống và người đã chết, giữa con
cháu ở nơi dương thế với tổ tiên ở cõi âm, giữa thế giới hiện hữu với thế giới
vô hình làm cho người chết “mát lòng nơi chín suối” và người sống “hạnh
phúc cõi trần gian”.
Từ chỗ coi tổ tiên là động vật, thực vật đến việc thừa nhận tổ tiên
đích thực của mình là cả một quá trình tiến hóa lâu dài trong lịch sử nhân
loại, trong đó không ít trường hợp ở một số vùng tổ tiên vừa là vật, vừa là
người như một giai đoạn trung gian quá độ của bước chuyển biến từ chế độ
thị tộc bộ lạc xã hội có giai cấp, từ mẫu quyền sang phụ quyền.
Tuy vậy, lòng tin vào linh hồn tổ tiên tô tem vẫn chưa đủ để dẫn đến
thờ cúng tổ tiên - nếu thiếu chế độ thị tộc phụ quyền mà ở đó người đứng
đầu gia đình, dòng họ có địa vị và uy tín lớn.
Tóm lại, thờ cúng tổ tiên là sản phẩm của sự kết hợp giữa ba yếu tố
cơ bản: ý niệm về linh hồn bất tử của người chết, tổ tiên Tô tem và tổ tiên
thật che chở cho gia đình thị tộc phụ quyền.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là hình thức tín ngưỡng phổ biến trên thế
giới. Đối với nhiều dân tộc, do chế độ phụ hệ qui định người cha chiếm vị trí
quan trọng, nên tổ tiên trong gia đình là những người đã mất do người đàn
ông gia trưởng thờ phụng. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ một nhóm
người có cùng huyết thống, thờ cúng một ông tổ của mình để tỏ lòng hiếu
thảo, thương nhớ người đã khuất, hoặc những cộng đồng người có quan hệ
Theo quan niệm của họ, cuộc sống ở thế giới hiện hữu là tạm bợ, có giới
hạn… chỉ có cuộc sống ở “thế giới bên kia” mới là vĩnh hằng, bất biến. Quan
niệm “sống gửi, thác về” khiến cho người Việt coi trọng ngày chết hơn ngày
sinh, quan tâm đến giỗ kỵ hơn là sinh nhật. Trong ngôn ngữ giao tiếp hàng
ngày, người ta thường tránh những từ chỉ cái chết về thể xác và thay vào đó
21
bằng những từ thể hiện sự bất tử của linh hồn như: “về cõi vĩnh hằng”,
“khuất núi”, “quy tiên”…
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam tuy giản dị nhưng
rất sâu đậm. Ban thờ tổ tiên thường ở gian giữa, được trang trí, bày đặt rất
đa dạng. Ban thờ là khoảng không gian thiêng, nơi kiêng kỵ và cung kính
nhất trong gia đình. Ngay từ khi xây ngôi nhà mới, người ta đã chú ý dành
một gian ở trung tâm để đặt bàn thờ, giường thờ hoặc hương án (gồm bát
nhang, bài vị, lư hương…), người ta coi đó là nơi linh hồn ông bà, tổ tiên
thường xuyên lui tới. Con cháu để hương tàn, khói lạnh là có lỗi với tổ tiên.
Trải qua nhiều thế hệ, để cho hậu thế không quên cội nguồn, người ta
lập các chi họ, viết gia phả, xây dựng nhà thờ họ. Đối tượng thờ phụng là
ông bà, tổ tiên, những người ruột thịt cùng huyết thống đã có công sinh
thành và nuôi dưỡng con cháu. Việc thờ cúng tổ tiên thường diễn ra sau
năm đời, nhưng đối với vị thủy tổ của một dòng họ, ông tổ làng hoặc quốc
tổ như Hùng Vương thì con cháu là hậu sinh đời đời hương khói phụng thờ.
Ngày thờ cúng tổ tiên là những ngày mất của bố mẹ, ông bà, tổ tiên
mà người ta thường gọi là ngày kỵ hoặc ngày giỗ. Ngoài ra, khi có chuyện
vui, việc buồn trong gia đình theo phong tục thờ cúng, người Việt cũng
thường có nén hương, nải quả để kính cáo với gia tiên. Thờ cúng tổ tiên
còn được tổ chức vào những ngày có các sự kiện quan trọng trong gia đình
như: cưới hỏi, xây nhà, tậu trâu, mua ruộng, đi xa, thi cử…
Người Việt Nam luôn tin tưởng tổ tiên của mình rất linh thiêng. Dù
đã đi vào cõi vĩnh hằng, âm dương cách biệt, song, họ quan niệm ông bà, tổ
đã mặc. Họ dâng cúng các thức ăn và hoa trái theo mùa”[25;46]. Qua đó
cho thấy, dưới ảnh hưởng của Nho giáo, người Việt đề cao gia đình, gia
23
tộc, xem chữ hiếu là nền tảng đạo lý và coi nam giới là trụ cột trong gia
đình, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được nâng lên một tầm mới.
Thế kỷ thứ XV, Nho giáo chiếm vị trí chủ đạo, nhà Lê đã thể chế hóa
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, làm cho tín ngưỡng này chặt chẽ hơn trước.
Triều Lê đã ra luật buộc con cháu phải thờ cúng tổ tiên đến năm đời, qui
định cả ruộng đất hương hỏa, ruộng đèn nhang. Điều đó đã tạo cơ sở kinh
tế để con cháu duy trì việc thờ cúng tổ tiên.
Đến thời Nguyễn, qua sách “Thọ mai gia lễ”, việc thờ cúng tổ tiên
được ghi rất tỉ mỉ về nghi thức, lễ tục: “Tất cả nghi lễ đã có sẵn của Thánh
hiền để lại nêu lên tấm lòng hiếu thảo của con cháu báo đáp công ơn cha
mẹ, ông bà, tổ tiên của mình cho hợp với lòng hiếu thảo của tạo hóa, không
bao giờ đoạn tuyệt chúng sinh, cũng như con người không bao giờ bỏ quên
cội rễ, mặc dù thời gian biến chuyển, cho mấy năm đi nữa thì Trời mưa ắt
trời lại nắng”[72;6]. Giai đoạn này, phổ biến hiện tượng chép tộc phả, tộc
ước, diễn ca phả, xây nhà thờ họ…ở các nơi dân dã và xây những lăng tẩm,
phần mộ ở chốn cung đình.
Cho đến ngày nay, mỗi gia đình, dòng họ người Việt, dù giàu hay
nghèo, đều có bàn thờ tổ tiên của mình, có thể là một từ đường tráng lệ hay
một cái kệ thờ đơn giản treo trường. Trên đó, đặt bài vị của tất cả những
người đã khuất cho đến đời thứ năm. Những người khác, các vị tổ tiên xa
hơn, được ghi tên trên cùng một bài vị và được cúng chung vào những ngày
lễ, Tết trong năm. Ngoài những ngày giỗ, kỵ, việc cúng tổ tiên của người
Việt còn được tiến hành vào các ngày Thanh minh (tháng Ba âm lịch) và
ngày Rằm tháng Bảy. Thanh minh là dịp để con cháu tảo mộ, lo chăm sóc
phần mộ của người đã khuất. Tuy nhiên, vào ngày này cũng diễn ra lễ hội
của những người đang sống nên nó không mang màu sắc u ám, tang tóc.