ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ BÍCH
Quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên của người Việt
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY
VẬT LỊCH SỬ
Người hướng dẫn: GS.TS. NGUYỄN HỮU VUI
HÀ NỘI – 2003
1 MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
của nhiều tộc người. Nhưng sự đánh giá ý nghĩa, vai trò của nó trong từng
giai đoạn lịch sử và ở mỗi quốc gia lại rất khác nhau.
Ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng dân gian phổ
biến. Nó phản ánh rõ nét đặc trưng của văn hoá dân gian, thấm đượm đạo lý
“uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, hướng vào việc củng cố
và tăng cường ý thức cộng đồng. Nhưng bản thân hình thức tín ngưỡng này
cũng tiềm tàng những yếu tố dẫn đến hiện tượng mê tín dị đoan, những hủ
tục gây tổn hại về tiền của, sức khoẻ, tính mạng của nhân dân. Nó là vấn đề
phức tạp và nhạy cảm, dễ bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để gây
chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm tổn hại đến an ninh chính trị- xã hội và sự phát
triển của đất nước. Vừa qua, Nghị quyết Hội nghị TW Bẩy (khoá IX) về
công tác tôn giáo, đã xem việc “giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực
của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công
với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân” là một bộ phận quan trọng trong hệ quan
điểm chỉ đạo của Đảng trên lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng [17,52]. Vì vậy,
nhận thức đúng đắn về tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đặc biệt,
quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là
vấn đề mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhằm góp phần làm lành mạnh hoá
các hoạt động tín ngưỡng, hướng vào các giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc vận động “ Toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hoá” do Nhà nước phát động theo tinh thần Nghị quyết
3 TW Năm (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết trên, tôi đã chọn vấn đề
"Quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt”
làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học triết học, chuyên ngành CNDVBC và
3- MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
Mục đích : Bước đầu nghiên cứu và trình bày những quan niệm về
nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Thông qua việc
khảo sát thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay, từ
đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những yếu tố tích cực,
khắc phục những yếu tố tiêu cực của quan niệm về nhân sinh trong tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, góp phần xây dựng nền văn hoá mới
ở nước ta hiện nay.
Nhiệm vụ : Để hoàn thành được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ nguồn gốc và bản chất của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
người Việt. Trình bày những quan niệm về nhân sinh qua nội dung, nghi lễ
thờ cúng tổ tiên của người Việt.
- Từ thực trạng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay,
rút ra một cách khái quát mặt tích cực và mặt tiêu cực, đề xuất những giải
pháp chủ yếu để góp phần định hướng đúng đắn quan niệm về nhân sinh
trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay.
4- ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Quan niệm về nhân sinh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt.
Phạm vi nghiên cứu : Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
trong lịch sử và đánh giá thực trạng từ năm 1986 đến nay.
5- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và
Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo.
5 Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
CHƢƠNG I
TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƢỜI VIỆT VÀ KHÍA CẠNH
NHÂN SINH CỦA NÓ
1.1- TÍN NGƢỠNG, TÍN NGƢỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN
1.1.1- Tín ngưỡng
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có hàng ngàn các loại hình tín
ngưỡng khác nhau, rất phong phú, đa dạng. Song, để có một cách hiểu khoa
học về tín ngưỡng, cần phải xem xét một số quan điểm khác nhau trong giới
nghiên cứu để có thể đi đến khái quát được nét đặc trưng nhất của tín
ngưỡng.
Các quan điểm ngoài mác-xít về tín ngưỡng
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với đại biểu như Pla-tôn, Hê-ghen
đã xuất phát từ thực thể tinh thần, “ý niệm”, “ý niệm tuyệt đối” để lý giải các
hiện tượng tôn giáo, tín ngưỡng. Hê-ghen cho rằng, khởi nguyên của thế giới
là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới ”. Tính phong phú, đa dạng của
thế giới hiện thực là kết quả của sự vận động và sáng tạo của “ý niệm tuyệt
đối”. “Ý niệm tuyệt đối” tồn tại vĩnh viễn. Theo nhận xét của Lê-nin, “ý niệm
tuyệt đối” chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách nói khác về
Thượng đế mà thôi. Do đó, quan điểm của các nhà triết học duy tâm là sự
biện hộ cho tín ngưỡng, tôn giáo, họ xem tín ngưỡng, tôn giáo là sức mạnh
thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại sinh khí
cho con người.
7
8 nhắm mắt phục tùng cái Thượng đế do họ đã sinh ra với một tinh thần hoàn
toàn thụ động.
Khác với Hê-ghen, nói đến sự tha hoá của “ý niệm tuyệt đối”, Phoi- ơ-
bắc nói đến sự tha hoá của bản chất con người vào Thượng đế. Ông cho rằng,
bản chất tự nhiên của con người là muốn hướng tới cái chân, cái thiện, cái
đẹp, nghĩa là muốn hướng tới những giá trị đẹp nhất trong một hình tượng
đẹp nhất về con người, nhưng trong thực tế, những cái đó con người không
đạt được, nên đã gửi gắm tất cả ước muốn của mình vào hình tượng Thượng
đế.
Nhìn chung, các quan điểm trên về tín ngưỡng do điều kiện lịch sử và
do lợi ích giai cấp đã có những hạn chế, thiếu cơ sở khoa học. Quan điểm
duy tâm cho tín ngưỡng là những hiện tượng thần bí, siêu thực, chỉ có thể
cảm nhận và tin chứ không lý giải được. Các nhà triết học duy tâm đã sai
lầm, vì họ đã lấy ý thức, tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc lĩnh
vực tinh thần là tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm duy vật của Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc nhận thức của
tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh chống các quan điểm duy tâm, tôn
giáo trong quan niệm về con người, về Thượng đế. Song, trong cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, Phoi-ơ-bắc chỉ phê phán một thứ
tôn giáo cụ thể là đạo Cơ Đốc. Còn tôn giáo nói chung, theo ông, vẫn là điều
cần thiết đối với cuộc sống con người, chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi
được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người. Mặc dù sự
an ủi đó là giả dối, là không có thật, nhưng theo ông, không thể làm gì hơn,
mà đành phải chấp nhận. Phoi- ơ- bắc chưa chỉ ra được nguồn gốc xã hội,
chức năng “đền bù hư ảo” và những mặt tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng.
Vì vậy, ông đã rơi vào lập trường duy tâm trong việc lý giải vấn đề tôn giáo,
tín ngưỡng.
10 Song, C. Mác, Ph. Ăng- ghen không dừng lại xem xét tín ngưỡng với
hàm nghĩa tín ngưỡng tôn giáo, các ông còn sử dụng khái niệm “tín ngưỡng
triết học” và “tín ngưỡng chính trị”.
Trong quá trình sử dụng khái niệm “tín ngưỡng”, dần dần C.Mác, Ph.
Ăng-ghen đã phá vỡ cách dùng quen thuộc với hàm nghĩa “tín ngưỡng tôn
giáo”. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta”, C.Mác cho tự do tín
ngưỡng của giai cấp tư sản chẳng qua chỉ là các loại tự do tín ngưỡng tôn
giáo. Chính đảng của giai cấp công nhân muốn giải thoát con người ra khỏi
cái ma thuật của tín ngưỡng tôn giáo. Vì vậy, C.Mác, Ph. Ăng-ghen đã
khẳng định, tự do tín ngưỡng có nội dung rất rộng lớn. Người ta không chỉ có
tự do tín ngưỡng của tôn giáo này hay tôn giáo khác, mà còn có tự do tín
ngưỡng không tôn giáo, nghĩa là tự do tín ngưỡng vô thần.
Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là niềm tin của giai cấp vô
sản, là niềm tin khoa học, là vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản và quần
chúng nhân dân bị áp bức. Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, C.Mác,
Ph.Ăng-ghen cho rằng : “chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái
cần sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo.
Chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản là phong trào hiện thực, nó xoá bỏ trạng
thái hiện nay”[33, 51]. Theo C.Mác, vấn đề là ở chỗ phải tổ chức, giáo dục
giai cấp vô sản, làm cho họ có niềm tin vững chắc vào tương lai của xã hội
mới do chính họ tạo lên. Thực tế, đây chính là hình thức đi sâu vào lòng
người, trở thành lý tưởng và niềm tin của chủ nghĩa cộng sản.
Nếu các nhà triết học duy tâm lấy ý thức, tín ngưỡng tôn giáo để giải
thích lịch sử, coi tín ngưỡng, tôn giáo là phạm trù vượt qua lịch sử, lấy sự
thay đổi của tín ngưỡng, tôn giáo để phân định lịch sử nhân loại, thì các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác đã lấy lịch sử để giải thích tín ngưỡng và đi đến kết
chế độ và thế hệ trước.
2- Thể hiện đạo lý, sắc thái dân tộc, đóng góp vào việc bảo lưu truyền
thống văn hoá cộng đồng, dân tộc.
12 3- Có sự dung hoà, đan xen, hoà quyện với các tín ngưỡng, tôn giáo
khác, thậm chí với cả những hiện tượng tâm linh phản văn hoá[48,
42].
Các nhà nghiên cứu như Toan Ánh, Phan Kế Bính từ giác độ văn hoá
dân gian, xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với các lễ nghi thờ cúng thể
hiện qua lễ hội, phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Trần Đăng Sinh lại đi sâu phân tích khái niệm tín ngưỡng trên cơ sở
năm đặc trưng:
1) Xem xét tín ngưỡng gắn với đời sống tinh thần nói chung.
2) Xem xét tín ngưỡng như là kết quả của sự hình thành và phát triển
các quan hệ xã hội, có tác động trở lại các quan hệ đó.
3) Xem xét tín ngưỡng như là phương thức biểu hiện niềm tin của con
người vào cái thiêng liêng, biểu hiện sự bất lực của họ trước sức mạnh
thống trị của lực lượng tự nhiên và xã hội.
4) Xem xét tín ngưỡng như một hiện tượng lịch sử- văn hoá có qui luật
hình thành và vận động, biến đổi riêng.
5) Xem tín ngưỡng như là một bộ phận của ý thức xã hội trong quan
hệ với tôn giáo, văn hoá, ngôn ngữ, triết học, lịch sử, nghệ thuật,
khoa học. Sự tổng hợp, đan xen của năm đặc trưng trên tạo thành lát
cắt bởi điểm giao nhau nói lên đặc trưng chung nhất của tín
ngưỡng[45,32-33].
Tín ngưỡng, theo cách hiểu thông thường, là tín ngưỡng tôn giáo. Tuy
cơ sở niềm tin vào các phép lạ, thần linh, tổ tiên, còn tôn giáo có kết cấu
phức tạp. Các yếu tố lễ nghi được thực hiện trong tín ngưỡng mang tính đơn
giản; còn với tôn giáo nghi lễ được đặc biệt coi trọng, nó mang tính hệ thống.
Căn cứ vào quan điểm của các nhà kinh điển, các nhà nghiên cứu, căn
cứ vào đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng trên cơ sở phân biệt sự giống nhau
và khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo, có thể quan niệm : tín ngưỡng là
một bộ phận của ý thức xã hội, là sản phẩm của các quan hệ xã hội được
14 hình thành trong quá trình lịch sử, là niềm tin của con người đối với cái
thiêng liêng. Nó thể hiện tính chất phong phú, song cũng rất đặc thù trong
sinh hoạt văn hoá truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng và của mỗi
cá nhân .
Cùng với khái niệm tín ngưỡng, tác giả luận văn xem xét khái niệm
thờ cúng tổ tiên
1.1.2- Thờ cúng tổ tiên
Tổ tiên, theo Từ điển Tiếng Việt do Trung tâm từ điển học xuất bản,
là: “Tổng thể nói chung những người coi là thuộc thế hệ đầu tiên, qua đời đã
lâu, của một dòng họ hay một dân tộc trong mối quan hệ với các thế hệ về
sau này” [58,973].
Khái niệm tổ tiên có thể tiếp cận ở giác độ rộng, hẹp khác nhau. Theo
nghĩa hẹp, Trần Đăng Sinh cho tổ tiên là khái niệm chỉ những người có cùng
huyết thống, đã mất như kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ là những người có công
sinh thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng to lớn đến đời sống vật chất và tinh
thần của các thế hệ con cháu [45,33-34].
Tổ tiên trong xã hội nguyên thuỷ là tổ tiên tô tem giáo của thị tộc. Tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên tô tem giáo ra đời rất sớm. Các thị tộc mẫu hệ
thường tôn sùng một biểu tượng tô tem như tổ tiên của mình, đó có thể là
cúng thì được hiểu : Dâng lễ vật lên thần thánh hay linh hồn người chết theo
tín ngưỡng ” [58,921].
Thờ cúng tổ tiên là thể thống nhất của các yếu tố: ý thức về tổ tiên,
biểu tượng về tổ tiên và lễ nghi thờ cúng. Yếu tố ý thức về tổ tiên chính là sự
“thờ” của con cháu đối với tổ tiên. Thờ tổ tiên là tâm linh, là tình cảm tri ân
của con cháu hướng về cội nguồn tổ tiên. Con cháu thể hiện sự thành kính,
lòng biết ơn tổ tông, ông bà, cha mẹ đã sinh thành, gây dựng cuộc sống cho
mình. Đồng thời, đó cũng là lòng mong mỏi, niềm tin thiêng liêng vào sự che
chở, giúp đỡ của tổ tiên. Cơ sở của sự hình thành ý thức về tổ tiên là niềm tin
về linh hồn bất tử, tổ tiên tuy đã chết song linh hồn vẫn sống thường lui tới
gia đình ngự trên bàn thờ. Khi nghiên cứu về mối quan hệ huyền bí và mạnh
16 mẽ giữa người sống và người chết trong ý thức về tổ tiên, nhà sử học người
Pháp Edousd Chavaunes đã viết:
Người chết chỉ có thể yên ổn trong phần mộ của mình hay trên bàn thờ
gia đình, nếu con cháu dâng cúng lễ vật theo nghi thức, ngược lại,
người sống chỉ sung sướng khi được bao bọc bởi những ảnh hưởng tốt
lành của người chết đang che chở cho họ một cách bí ẩn” [11,184].
Ý thức về tổ tiên được hình thành và củng cố qua nghi lễ thờ cúng tổ
tiên và biểu tượng về tổ tiên. Biểu tượng về tổ tiên là những hình ảnh đẹp, là
những người tài giỏi - có công có đức được con cháu gán cho tổ tiên và luôn
tôn vinh, khắc hoạ trong tâm tưởng. Biểu tượng về tổ tiên có thể được thể
hiện bằng bài vị, tượng, ảnh và được trang trí, bày đặt một cách tôn kính,
trang trọng tại nơi thờ cúng.
Nghi lễ thờ cúng là hoạt động dưới hình thức hành lễ, được qui định
do quan niệm, phong tục tập quán của mỗi gia đình, dòng họ, mỗi cộng đồng,
dân tộc. Nghi lễ cúng là phương tiện để con người có thể giao tiếp với tổ
thống trị con người mạnh bấy nhiêu. Chính trình độ thấp của sự phát triển
sản xuất đã làm cho người nguyên thuỷ không có khả năng nắm bắt được bản
chất, qui luật vận động của giới tự nhiên. Họ cảm thấy đằng sau những hiện
tượng tự nhiên, có một sức mạnh huyền bí nào đó chi phối, mà họ không giải
thích nổi. Để chế ngự những sức mạnh huyền bí này, người nguyên thuỷ đã
tìm đến những phương tiện tưởng tượng hư ảo, ý tưởng về thần linh sống
trong sự vật, có thể tách khỏi sự vật và tác động đến đời sống con người.
Những biểu tượng về các thần linh, về tổ tiên tô tem bắt đầu xuất hiện.
Bên cạnh mối quan hệ với tự nhiên, con người trong quá trình tồn tại
và phát triển còn có các mối quan hệ với nhau. Khi xã hội diễn ra sự phân
chia giai cấp, tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp
cùng chế độ người bóc lột người cũng là một trong những nguồn gốc xã hội
chủ yếu của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Khi nghiên cứu về điều này, Lê nin
đã chỉ rõ: “ Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn
18 bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào một cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên
kia, cũng giống y như sự bất lực của những người dã man trong cuộc đấu
tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỉ, vào những
phép màu[71,46].
Tuy nhiên, khi lý giải sự bất lực của quần chúng bị bóc lột trong cuộc
đấu tranh để tự giải phóng là một trong những nguồn gốc xã hội của tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên là theo nghĩa tương đối. Chính bản thân giai cấp
thống trị cũng tìm đến tín ngưỡng này và cũng có nhu cầu thờ cúng tổ tiên.
Bởi vì, trong xã hội có giai cấp, tính chất tự phát của sự phát triển xã hội
không chỉ tác động vào giai cấp bị trị, mà còn tác động tới giai cấp thống trị .
Đó là sự bất lực của toàn xã hội. Nó bị hạn chế trong khuôn khổ, trình độ,
năng lực còn hạn chế của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
chủ quan. Hình thức phản ánh thế giới càng đa dạng, phong phú, thì con
người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ.
Nhưng mỗi hình thức mới của sự phản ánh thế giới hiện thực không những
tạo ra những khả năng mới để nhận thức thế giới sâu hơn, mà còn tạo ra khả
năng phản ánh xa rời thế giới hiện thực, phản ánh sai lầm nó. Phân tích đặc
điểm của quá trình nhận thức, Lê nin cho rằng, thực chất nguồn gốc nhận
thức của tôn giáo, của những quan niệm về thần chính là sự tuyệt đối hoá, sự
cường điệu một mặt của quá trình nhận thức của con người - mặt hình thức
chủ quan, làm mất đi nội dung khách quan, không còn cơ sở “thế gian”-
nghĩa là thành cái siêu nhiên, thần thánh. Lê nin viết:
Thượng đế siêu hình không phải là cái gì khác mà là sự tập hợp, là
toàn bộ những đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con
người, nhờ vào sức tưởng tượng, tức chính bằng phương pháp tách
rời như thế khỏi bản chất cảm tính, khỏi vật chất của giới tự nhiên,
lại đem giới tự nhiên biến thành một chủ thể hay là một thực thể độc
lập [68,34].
Như vậy, năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá của tư duy con người
là một tiền đề nhận thức quan trọng cho sự hình thành niềm tin vào linh hồn
20 và sự tồn tại của linh hồn, những biểu tượng về tổ tiên. Mặc dù sự khái quát
đó có thể là sai lầm, nhưng nếu thiếu nó thì tôn giáo, tín ngưỡng, tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên không thể xuất hiện.
Cùng với nhận thức, đặc điểm tâm lý, tình cảm của con người cũng là
một nguyên nhân quan trọng của sự hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt. Các nhà duy vật thời cổ đại đã cho rằng: “Sự sợ
hãi sinh ra thần thánh”. Trong cuộc đời của con người, cái chết luôn là nỗi
ám ảnh kinh hoàng. Nhưng theo qui luật sinh học, không ai có thể trốn tránh
Là một quốc gia ở vùng Đông Nam châu Á, Việt Nam có địa hình rừng
núi, đồng bằng, ven biển và hải đảo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm,
nắng lắm, mưa nhiều với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Chính đặc điểm địa lý
tự nhiên này đã tạo nên sắc thái riêng của nền văn minh lúa nước Việt Nam
với tập quán canh tác, đặc điểm cư trú, các thiết chế xã hội, thói quen tâm lý,
cách ứng xử và các hình thái tín ngưỡng, tôn giáo.
Theo các tư liệu về khảo cổ học thì cách đây trên dưới một vạn năm, ở
các tỉnh miền núi nước ta ( Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình ) đã xảy ra một
cuộc cách mạng về kinh tế do thời kỳ đồ đá mới mang lại. Đây là cuộc cách
mạng đã tạo ra sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản
xuất của người Việt cổ. Là giai đoạn đánh dấu thời kỳ sơ khai của một nền
nông nghiệp - cội nguồn của nền văn minh lúa nước sau này.
Giai đoạn đầu của thời kỳ đồ đá, nền kinh tế của người Hoà Bình chủ
yếu là săn bắt và hái lượm. Nhưng do nhu cầu của cuộc sống, cùng với
những kinh nghiệm được tích luỹ ngày càng nhiều, sự tiến bộ trong việc chế
tác công cụ lao động đã giúp người nguyên thuỷ Hoà Bình chuyển từ săn
bắt, hái lượm sang sản xuất, đi vào nền văn minh nông nghiệp. Tuy nhiên,
các hoạt động kinh tế cổ truyền như săn bắt, hái lượm vẫn được coi trọng và
duy trì.
Việc phát hiện ra đồ đồng, đồ sắt của người Việt cổ đã tạo ra một cuộc
cách mạng nữa trong lực lượng sản xuất, dẫn tới việc thay đổi quan trọng
22 trong cơ cấu kinh tế -xã hội lúc đó. Với công cụ lao động mới và kỹ năng sản
xuất đã phát triển cao hơn, cư dân người Việt cổ đã có điều kiện để mở rộng
địa bàn cư trú, rời bỏ miền núi cao, tiến xuống vùng trung du và đồng bằng,
vùng đầm lầy và vùng ngập nước. Do đất đai canh tác có độ mầu mỡ cao
hơn, năng suất lao động ngày càng tăng cao, đời sống kinh tế ngày càng ổn
Việt Nam có một cấu trúc chặt chẽ, là những đơn vị hành chính, kinh tế- xã
hội, quân sự, văn hoá hoàn chỉnh. Làng là nơi tập hợp của một hay nhiều họ,
lấy gia đình hạt nhân làm nền tảng. Về tổ chức xã hội, ngoài những tổ chức
và chức danh do nhà nước qui định, ở các làng xã còn có những tổ chức,
những hội tự nguyện khác, đáp ứng những nhu cầu khác nhau trong làng xã,
cộng đồng. Có những hội được thành lập trên nguyên tắc theo nghề nghiệp,
có hội theo lứa tuổi, có hội theo tín ngưỡng Đình, chùa, nhà thờ, từ
đường là những trung tâm thờ tự công cộng nhằm thoả mãn nhu cầu tín
ngưỡng, tâm linh của các thành viên trong làng. Trong lịch sử cũng như hiện
tại, làng xã Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng, là nơi tập hợp những
dòng họ, là cái nôi hình thành, di dưỡng và giữ gìn những giá trị văn hoá
truyền thống, trong đó có ý thức về cội nguồn, lòng biết ơn, thành kính đối
với tổ tiên.
Bên cạnh những yếu tố đã phân tích trên, các tín ngưỡng nội sinh và
các tôn giáo ngoại nhập đã có những ảnh hưởng và có tác động sâu sắc tới
quá trình hình thành và tồn tại của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người
Việt.
Tín ngưỡng, tôn giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, là sự
phản ánh tồn tại xã hội, chịu sự qui định của tồn tại xã hội. Nhưng nó cũng
có tính độc lập tương đối, nó có thể tác động trở lại tồn tại xã hội và tác động
lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội. Vì vậy, khi xem xét nguồn gốc
hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, bên cạnh việc đề cập
đến điều kiện địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế - xã hội, thì không thể không xem
xét những đặc điểm về văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt.
24 Trong quá trình dựng nước và giữ nước của mình, người Việt đã xây
dựng được một hệ thống những biểu tượng, tín ngưỡng, tôn giáo rất đa dạng