Văn hoá tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người việt - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
====== ĐẶNG THỊ THU

VĂN HÓA TÂM LINH TRONG TÍN NGƯỠNG
THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học HÀ NỘI – 2014

Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu Lớp K36E - VNH
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới
ThS, GVC, Vũ Ngọc Doanh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình
giúp tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các Thầy, Cô giáo trong khoa
Ngữ Văn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Khóa luận được hoàn thành, song không tránh khỏi những hạn chế,
thiếu sót, tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía Thầy, Cô và
các bạn để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 23 tháng 05 năm 2014
Tác giả khóa luận Đặng Thị Thu
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2

DANH MỤC VIẾT TẮT

Nxb
Nhà xuất bản
Nxb VHTT
Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin
Nxb TPHCM
Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh


Đặng Thị Thu Lớp K36E - VNH
2.3. Văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cộng đồng làng
xã 22
2.4. Văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dòng họ 29
2.5. Văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của gia đình 36
2.5.1. Sự khác biệt giữa thờ cúng tổ tiên và thờ thần 36
2.5.2. Những ý niệm thiêng liêng về thờ cúng tổ tiên 37
2.6. Ý nghĩa của văn hóa tâm linh trong thờ cúng tổ tiên 40
2.6.1. Thờ cúng tổ tiên là điều kiện duy trì những không gian thiêng liêng,
những môi trường văn hóa truyền thống 41
2.6.2. Thờ cúng tổ tiên dấy lên lòng hiếu thảo nhân nghĩa 42
2.6.3. Thờ cúng tổ tiên là duy trì ý thức hướng về cội nguồn 43
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 1 Lớp K36E - VNH
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh
vực đời sống tinh thần được hình thành trong lịch sử văn hoá. Trên thế giới có
hàng nghìn loại hình tín ngưỡng khác nhau nhưng hiếm thấy có loại hình nào
lại chứa đựng đạo lý sâu sắc như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Thờ cúng tổ tiên là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ
quát của người Việt Nam, nó đã trở thành một tập tục truyền thống có vị trí
quan trọng trong đời sống tinh thần của dân tộc và có vai trò thiết yếu trong
đời sống xã hội, tín ngưỡng ấy đã tạo thành một thành tố quan trọng của nền

thì chưa có hoặc nếu có thì cũng chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó.
Tuy nhiên công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là cơ sở là nền
tảng để cho người viết và thế hệ mai sau học hỏi, tự hào với truyền thống văn
hóa thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có lịch sử hình thành lâu đời và có ảnh
hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa xã hội ở nước ta. Cùng với tín ngưỡng
thờ cúng tổ tiên, các hình thức nghi lễ thờ cúng và các dạng tín ngưỡng khác
có liên quan cũng được phát triển và góp phần tạo nên tính đa dạng của văn
hóa Việt Nam. Nên mục đích khi làm khóa luận này tác giả muốn tìm hiểu về
nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên qua đó thấy được ý nghĩa
nhân văn sâu sắc nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa tâm linh trong
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiêm cứu
Phân tích nguồn gốc, đặc điểm và ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên.
Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa
của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 3 Lớp K36E - VNH
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa tâm linh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở miền Bắc Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp khảo sát
Phương pháp phân tích
Phương pháp tra cứu

lớn mạnh và phát triển. Văn hoá là một sức sống bên trong, được tạo ra từ lao
động sinh hoạt và phát triển trong cái nôi địa hình sinh thái và môi trường của
bản thân mình. Văn hoá thể hiện rõ rệt bản chất sâu xa của con người.
Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hoá ở nước ta được
nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó. Nghị quyết thứ 4 của ban chấp
hành trung ương Đảng khoá VII khẳng định văn hoá là nền tảng tinh thần của
xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là
sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với
xã hội và với thiên nhiên. Nó vừa là động lực thúc đẩy vừa là mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của chúng ta.
Nói tới văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị về vật chất và tinh thần,
thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ
của một dân tộc và dấu ấn của mỗi con người. Văn hoá sáng tạo nên sự khác
biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác. Giá trị của một nền văn hoá được bồi
đắp qua nhiều thế kỷ có tính tiếp nối truyền thống như những lớp phù sa ít có
tính đột biến trong phát triển. Vì văn hoá liên quan đến mọi mặt đời sống của
con người nên nó mang một ngoại diên rất rộng, nó là bất cứ một cái gì con
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 5 Lớp K36E - VNH
người làm ra, đều có chứa thuộc tính văn hoá, đều được nhân hoá. Vậy “Văn
hoá” là gì?
Từ “Văn hoá” có rất nhiều nghĩa. Trong tiếng việt “Văn hoá” được
dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức trình độ văn hoá, nối sống (nếp
sống văn hoá), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai
đoạn (Văn hoá Đông Sơn). Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất
cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối
sống, lao động.
Tuy nhiên, ngày nay với cách hiểu rộng này trên thế giới cũng có hàng
trăm định nghĩa khác nhau. Để định nghĩa được một khái niệm trước hết ta
cần xác định được đặc trưng cơ bản của văn hoá (tính hệ thống, tính giá trị,

nhân). Trong tâm thức của người Việt Nam với phương pháp tư duy âm
dương, con người đã phân chia thế giới thành hai: thực và ảo, vật chất và tinh
thần, trong đó cái mà họ quan tâm nhất là đời sống tâm linh. Loài người từ xa
xưa đã cảm nhận rằng, con người có hai phần: phần xác và phần hồn được kết
hợp theo nguyên lý âm dương. Mọi sự kiện trong đời sống đều biểu hiện linh
cảm của chúng ta. Tinh thần hướng tới đâu đều mang màu sắc của trí tuệ, của
tâm lý. Văn hoá tâm linh thường được biểu hiện sinh động ở những nơi cuộc
sống tinh thần rộn ràng trong tâm can, trong môi trường. Bất cứ cá nhân sinh
thể nào cũng có tư tưởng “uống nước nhớ nguồn” bởi sau những thời kỳ sôi
nổi của thể chất, sau những thành công mỹ mãn trên thế giới và sau quá trình
tăng trưởng tột bậc… thì con người ta lại phản phất những tâm tư thuở còn
thơ, những hoài vọng cổ xưa thanh thản, nhẹ nhàng hay le lói những khát
ngưỡng huyền chân. Người ta làm những cuộc hành hương về cố nhân để
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 7 Lớp K36E - VNH
chứng tỏ lòng thành của mình, để biểu lộ tấm lòng của mình với tiên nhân:
“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Sau những thăng trầm của cuộc đời, con người ta không lường trước
được những gì phù trợ hay cản trợ, có lúc quật ngã hay nâng đỡ bản thân mặc
dù những nhen nhóm để cầu “may hơn khôn”. Cái gì phù trợ hay quật ngã nếu
không phải là chính những hành vi nhân quả của mình trong hiện tại lẫn
những nghiệp lục trong quá khứ, tiền kiếp trỗi dậy nhằm “trung hoà” hay “hoá
giải”, nhưng sự tương phản đối xung mà lai khứ ngăn sông, cấm chợ. Trong
cuộc sống có những sự vượt quá khả năng tư duy thông thường, những điều
khác thường mà không dễ gì giải thích nổi với nhận thức của trí não. Trong
giấc ngủ, cả trong cảm thức hàng ngày có nhiều hiện tượng mờ ảo không tiên
liệu được những sự “ứng nghiệm” lại rất rõ. Thậm chí có những điều cấm
đoán kiêng kỵ, có những môi trường thâm nghiêm u hiển và có những vùng
không thể chạm tới. Tâm linh huyền ảo được thêu dệt lên từ những sự việc,
hiện tượng đó. Những biểu hiện trên được con người nhận thức, tỏ thái độ (e

Trong quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm tổ tiên cũng có sự biến
đổi, phát triển. Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi huyết thống - gia đình, họ
tộc mà đã mở rộng ra phạm vi cộng đồng, xã hội. Sự hình thành và phát
triển của các quốc gia, dân tộc thường gắn liền với tên tuổi của những người
có công tạo dựng, giữ gìn cuộc sống của cộng đồng. Họ là những anh hùng,
danh nhân mà khi sống được tôn sùng, kính nể, khi mất được tưởng nhớ, thờ
phụng trong các không gian tôn giáo. Ở Việt Nam, họ là những tổ sư, tổ nghề,
Thành hoàng làng, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá
Thờ cúng tổ tiên là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức
hợp của ý thức về tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và nghi lễ thờ phụng.
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 9 Lớp K36E - VNH
Thờ là yếu tố thuộc ý thức về tổ tiên, là tình cảm biết ơn tưởng nhớ
hướng về cội nguồn, quá khứ, biểu hiện lòng thành đồng thời thể hiện niềm
tin vào sự che chở, bảo hộ, trợ giúp của tổ tiên. Cơ sở của sự hình thành ý
thức về tổ tiên là niềm tin về linh hồn tổ tiên còn sống, có thể che chở, phù hộ
độ trì cho con cháu.
Cúng là yếu tố mang tính nghi lễ, là sự thực hành một loạt động tác
(khấn, vái, quì, lạy) của người gia trưởng, tộc trưởng. Đó là hoạt động dưới
dạng hành lễ và được qui định bởi quan niệm, phong tục, tập quán của mỗi
cộng đồng, dân tộc.
Thờ và cúng là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh thể riêng
biệt - đó là sự thờ phụng tổ tiên.
1.5. Nguồn gốc của tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên
Nguồn gốc của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trước hết phải đề cập đến
chế độ mẫu quyền. Khi bước vào chế độ mẫu quyền vai trò của người phụ nữ
trở nên quan trọng trong hoạt động kinh tế và sinh hoạt của gia đình. Con cái
mang họ mẹ và quyền thừa kế tài sản của gia đình thuộc về con gái, cụ thể là
người con gái út. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên bắt nguồn từ đây.
Không chỉ chịu ảnh hưởng của chế độ mẫu quyền, tín ngưỡng thờ cúng

động văn hoá tâm linh, hoặc do nhà nước Trung ương tổ chức, hoặc do làng,
xã tổ chức theo những lễ nghi trang trọng, uy linh, với sự tham gia một cách
thành kính, tự nguyện của nhân dân. Đó là Lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, Lễ tế
Trời, Đất, tế Thần, Thánh, tế Tổ tiên nhằm mục đích cầu cho quốc thái dân
an, cho con cháu hạnh phúc. Trong phạm vi một dòng tộc, một gia đình cũng
có các sinh hoạt văn hoá tâm linh. Đó là việc thờ cúng tổ tiên, sửa sang đền
miếu, xây đắp mồ mả vào các dịp tết Nguyên Đán, các ngày giỗ tổ, ông, bà,
cha, mẹ. Thông qua những hoạt động văn hoá tâm linh đó con người ta tự tu
tâm, tích đức để trở nên tốt đẹp hơn, đoàn kết hơn, hướng thiện hơn, bớt đi cái
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 11 Lớp K36E - VNH
ác, cái xấu trong lòng. Ý nghĩa tích cực của các hoạt động văn hoá tâm linh
được người Việt khai thác rất có hiệu quả vào việc giáo dục các thế hệ con
cháu, cấu kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc, truyền thống. Hoạt động văn hoá
tâm linh đã trở thành một nhu cầu văn hoá lành mạnh, đầy tính nhân văn của
người Việt Nam. Hãy lấy tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam làm ví dụ.
Thờ cúng tổ tiên là một nét đẹp trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam.
Hầu như gia đình Việt Nam nào cũng có bàn thờ tổ tiên. Trong tâm thức của
người Việt Nam, ông bà, cha mẹ, những người ruột thịt thân yêu của họ dù có
“khuất bóng” nhưng không “mất”. Họ vẫn “sống” trong tình cảm tôn kính,
yêu thương, nhớ nhung, gần gũi của người hiện tại. Trong không gian thiêng
và thời gian thiêng đó, từ sâu thẳm trong tâm hồn của con người, quá khứ và
hiện tại bỗng giao hoà, giao cảm vào nhau rất gần gũi, rất hiện hữu, không có
cảm giác cách biệt. Chính sự rung cảm thiêng liêng đó đã góp phần tu chỉnh ý
thức và hành vi của người đang sống sao cho tốt hơn, hoàn thiện hơn, tâm,
đức trong sáng hơn, có tính nhân bản, nhân đạo, nhân văn hơn. Đó cũng là
một động lực tinh thần đặc biệt để họ sống, phấn đấu, vươn lên những giá trị
cao đẹp của cái Chân - Thiện - Mỹ mà tổ tiên họ, cha ông họ mong muốn.
vào lời truyền hễ ai đi lễ chùa Hương mười hai năm liền sẽ được “đại phúc”;
“đại lộc”. Con số mười hai là con số vừa tròn một giáp, con số vừa tròn để
“chung nhi phục thủy”, phát triển đến cùng rồi lại về điểm bắt đầu, ít người
quan tâm tới ý nghĩa triết học của nó, nhưng nó tạo một niềm tin ít ai thực
hiện được. Bởi thế họ càng đi chùa Hương được nhiều lần thì niềm tin thiêng
liêng càng được đáp ứng, đời sống tâm linh càng thôi thúc họ. Và như vậy đã
tương đối rõ, đời sống tâm linh chẳng ở đâu xa lạ mà ở ngay trong niềm tin
của mỗi con người và nó chẳng phải lúc nào cũng bộc lộ ra được. Người
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 13 Lớp K36E - VNH
không theo tôn giáo thì không phải lúc nào cũng thường trực đời sống tâm
linh. Đời sống tâm linh của người đó chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh thiêng, thời
gian thiêng xuất hiện. Ví như khi mùa xuân đến thì thời gian thiêng đến với
người ham đi lễ chùa Hương, đời sống ấy trong họ lúc này được tái hiện.
2.1.2. Văn hóa tâm linh trong đời sống gia đình
Ngày xưa dân ta có câu “Sống về mồ về mả, ai sống về cả bát cơm” có
nghĩa là cái cần cho sự tồn tại của cuộc sống con người trong gia đình không
phải chỉ có bát cơm mà còn có cả mồ mả, bát hương thờ cúng ông bà tổ tiên.
Mồ mả, bát hương là những biểu tượng thiêng liêng, có sức mạnh truyền lệnh,
tập hợp to lớn trong mỗi gia đình, gia tộc xưa và nay. Điển hình là mục nhắn
tin tìm mồ liệt sỹ trong những buổi phát thanh truyền hình quân đội nhân dân,
không gì khác ngoài việc bù đắp vào sự mất mát của những người đang sống,
là hình ảnh thiêng liêng của người thân ruột thịt mất đi còn đọng lại ở biểu
tượng nấm mồ. Như ông Lý Cao Tường, sinh năm 1173, con hoàng tử Lý Cao
Tông (1176 - 1210) để tránh hiểm họa tôn thất nhà Lý, khi chính quyền phong
kiến chuyển sang họ Trần, năm 1226 ông lánh nạn sang cư trú tại Hàn Quốc,
chỉ mang theo thần chủ thờ cúng tổ tiên làm biểu tượng thiêng liêng về gia tộc
quê hương làm điểm tựa lập nghiệp phát triển, sát cánh cùng nhân dân Triều
Tiên đánh lại quân Nguyên xâm lược Triều Tiên khi ấy. Con cháu nhiều
người đỗ đạt cao, đời đời lập nghiệp vinh hiển trên đất nước Hàn Quốc. Năm

2.1.4. Văn hóa tâm linh với Tổ quốc giang sơn
Trước đây trong quan niệm phong kiến, đất nước gồm chín châu, đắp
chín đàn thờ tại tôn miếu nhà Lê ở Lam Sơn - Thanh Hóa. Đúc cửu đỉnh, trên
đó trạm khắc đầy đủ hình sông núi của ba miền đất nước, đặt thờ ở thái miếu
nhà Nguyễn, hiện vẫn còn trong kinh thành Huế. Ngày nay trong mỗi cuộc lễ
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 15 Lớp K36E - VNH
nghi, cuộc hội nghị, ta kiến lập bàn thờ Tổ quốc. Gần đây trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ ta thường nói bằng cả sức mạnh bốn ngàn năm lịch sử, sức
mạnh truyền thống của cả dân tộc. Đó chẳng phải là vô hình trừu tượng mà là
hình ảnh từ Hữu Nghị đến mũi Cà Mau, là núi cao biển rộng sông dài, cây đa
bến nước sân đình - những hình ảnh về quê hương làng xóm; là những mảnh
đất Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa oai hùng còn đó. “Bóng mẹ già ngồi đêm
đêm và áo chúng con ra đi trên khắp chiến trường”. Rồi đến hình ảnh Bác Hồ
gần gũi thân thương vĩ đại, những tượng đài, nấm mồ trong nghĩa trang lịch
sử còn nhắc nhở. Hay hình ảnh lá cờ Tổ quốc thân thương vẫy gọi… Những
hình ảnh biểu tượng tuyệt vời ấy bị bôi nhọ, xúc phạm, làm đau đớn trái tim
mỗi con người. Từ tất cả những hình ảnh đó mà Phan Đình Giót lấy thân
mình lấp lỗ châu mai của giặc, Bế Văn Đàn lấy thân làm súng, Nguyễn Viết
Xuân nhằm hẳn quân thù mà bắn, Nguyễn Văn Trỗi hiên ngang trước họng
súng kẻ thù. Qua đó mà ngày xưa, ngày nay “chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước
ta đi”. Nhưng trong cuộc sống hiện đại này, do ảnh hưởng của kinh tế thị
trường nên đã dần làm mất đi những biểu tưởng thiêng liêng trong ý thức con
người hôm nay và các thế hệ tiếp theo.
2.1.5. Văn hóa tâm linh trong văn học nghệ thuật
Một Hà Nội trầm tư man mác buồn, những mái phố cổ màu xám rêu
phong như đã tự ám nhiễm vào tâm linh các bức vẽ về phố cổ của họa sỹ Bùi
Xuân Phái. Đó là sự cảm nhận về Hà Nội mà họa sỹ ý thức được, thể hiện
thành công trong tác phẩm khiến cho chúng ta rung động, cảm thụ được cái
thiêng liêng về Hà Nội cổ kính. Như vậy tâm linh trong sáng tác văn học nghệ

giáo không hoàn toàn là tâm linh. Không có niềm tin thiêng liêng về Chúa của
các tín đồ thì Gia tô giáo cũng không thể phát triển. Không có niềm tin thiêng
liêng về Phật của những phật tử thì Phật giáo không thể mở rộng. Từ ý trên
đây có thể thấy lâu nay tín ngưỡng tôn giáo đi liền với nhau vì không có tín
Khoa Ngữ Văn Trường ĐHSP Hà Nội 2
Đặng Thị Thu 17 Lớp K36E - VNH
ngưỡng (tin tưởng và ngưỡng mộ) thì không có tôn giáo. Một người không có
tín ngưỡng vào Chúa thì ở con người đó không có Gia tô giáo, tôn giáo không
tồn tại trong họ. Vậy tín ngưỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng
liêng) cũng có nghĩa tâm linh không phải là tôn giáo, tâm linh chỉ là khả năng
dẫn đến tôn giáo.
Ở người Việt lâu nay còn có một khía cạnh nữa là thờ thần, thờ mẫu,
thờ tổ tiên thì gọi là tín ngưỡng. Ở đạo Phật, đạo Gia tô thì gọi là theo tôn
giáo. Điều này ngoài việc một bên các tôn giáo có tín điều giáo lý và một bên
không, còn có ý nghĩa khác là thờ thần, thờ mẫu, thờ tổ tiên nhằm tỏ lòng biết
ơn đối tượng được tôn thờ và cầu mong đối tượng tôn thờ phù hộ cho bình
yên, khỏe mạnh, ăn nên làm ra. Có nghĩa là những tín ngưỡng này hướng vào
sự thịnh vượng của cuộc sống còn Phật giáo, Gia tô giáo hướng tới sự giải
thoát cho cái chết. Như thế lại thấy tín ngưỡng và tôn giáo đều phát tín hiệu
thiêng liêng nhưng mục đích lại khác nhau. Lại thấy tâm linh như đồng nghĩa
với tín ngưỡng, hướng tới thiện mỹ cho cuộc đời này.
2.2. Văn hóa tâm linh trong tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên của quốc gia
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước. Tín ngưỡng thờ
cúng Hùng Vương là biểu trưng cho triết lý nhân văn “con người có tổ có
tông” của văn hóa Việt Nam. Đây là hiện tượng rất độc đáo trên thế giới khi
cả một quốc gia, một dân tộc tự coi mình có chung nguồn gốc.
Đồng bào cả nước có câu:
“Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”
Có lẽ chưa có một quốc gia nào trên thế giới có tín ngưỡng thờ Tổ với

Việt Nam, được bắt đầu từ đó. Ý thức hệ này vô cùng quan trọng, nó kết tinh

Trích đoạn Thờ cúng tổ tiên dấy lên lòng hiếu thảo nhân nghĩa Thờ cúng tổ tiên là duy trì ý thức hướng về cội nguồn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status