Lịch sử văn hóa Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hay Đạo Ông bà có lịch sử hình thành
và phát triển lâu đời ở nước ta. Cơ sở hình thành tín ngưỡng này là niềm tin
rằng chết là về với tổ tiên nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường
xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu .Tín ngưỡng này có mặt ở nhiều
dân tộc Đông Nam Á nhưng theo quan sát của nhiều nhà dân tộc học thì nó
phổ biến và phát triển hơn cả ở người Việt, nó gần như trở thành một thứ
tôn giáo, ngay cả những gia đình không tin thần thánh cũng đặt bàn thờ tổ
tiên trong nhà.
Cùng với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các hình thức nghi lễ thờ cúng và
các dạng sinh hoạt tín ngưỡng khác có liên quan cũng được phát triển và góp
phần tạo nên tính đa dạng của văn hóa Việt Nam. Chính vì thế, nghiên cứu
tín ngưỡng dân gian nói chung, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng trên tất
cả các mặt biểu hiện của nó không chỉ phác họa nên đời sống tín ngưỡng mà
còn bổ sung tư liệu cho việc nhận thức về bản chất và sắc thái đa dạng của
đời sống tâm linh người Việt.
Từ những ý nghĩa trên, chúng em đã được chọn đề tài “Tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ở Việt Nam” với mong muốn góp phần làm sáng tỏ vấn đề liên
quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong dòng chảy tín ngưỡng dân gian
của Viêt Nam. Đồng thời, bổ sung thêm một số kiến thức cho sinh viên
ngành du lịch
Mặc dù chúng em đã nổ lực và cố gắng để hoàn thiện bài tiểu luận này,
nhưng cũng khó tránh khỏi những thiếu sót về nội dung và hình thức .Do
vậy chúng em rất mong nhận được sự đóng góp của Cô và tất cả các bạn để
bài tiểu luận này được hoàn thiện hơn nữa.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm 3
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
1
Dưới góc độ tâm lý học, cho rằng tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý - xã
hội biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô
hình, về lực lượng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lượng này đối với
cuộc sống của con người thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng; quá trình hình
thành và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng
nên nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng người đó.
Nếu tín ngưỡng được hiểu như vậy thì tín ngưỡng có các đặc điểm sau:
- Tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý, là niềm tin của con người.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
2
Lịch sử văn hóa Việt Nam
- Đối tượng của tín ngưỡng là một lực lượng vô hình mà con người tạo ra
bằng trí tưởng tượng của mình, có tính linh thiêng, huyền bí.
- Tín ngưỡng ảnh hưởng chi phối hành động, ứng xử của cá nhân và cộng
đồng và được hiện thực hoá thành hiện tượng tâm lý xã hội.
Một vấn đề được đặt ra, vậy tôn giáo và tín ngưỡng là đồng nhất hay khác
nhau ?
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ănghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng
qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc con người - của những lực
lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng
siêu trần thế”.
Dưới góc độ văn hoá học, Nguyễn Hồng Dương định nghĩa: “Tôn giáo
thuộc lĩnh vực tinh thần của văn hoá được hình thành trong lịch sử. Một mặt
nó phản ánh quan niệm và cách ứng xử về chuẩn mực luân lý, đạo đức, lối
sống theo cung cách của nền văn hoá mà nó chụi sự tác động” (Tôn giáo
trong mối quan hệ văn hóa và phát triển, tr. 35). Như vậy, tác giả cho rằng,
tôn giáo là một hiện tượng văn hoá tinh thần phản ánh sự nhận thức của con
người về thế giới xung quanh, về cuộc sống xã hội biểu hiện thông qua
những hành vi ứng xử của họ. Nhận thức và hành vi của cộng đồng tôn giáo
cộng đồng, xã hội. Ở Việt Nam, hầu hết mọi người đều thờ cúng tổ tiên kể
cả những tín đồ của các tôn giáo khác nhau. Mọi người quan niệm tín
ngưỡng này vừa như là một phong tục truyền thống, vừa như một đạo lý làm
người, lại vừa như một hình thức sinh hoạt tâm linh.
Như vậy, tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá do con người quan hệ
với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mà hình thành. Tín ngưỡng là niềm tin
về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người
chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và ngưỡng mộ
của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân. Tín ngưỡng dân gian khá
phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như:
- Tôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…),
các loại cây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…)
- Tôn sùng vật tổ (vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ,
thành hoàng, tổ tiên, ông bà)
- Tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao
- Tôn sùng Mẫu: các nữ thần, tứ mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ
(thượng ngàn), thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana
- Tôn sùng các anh hùng dân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn
với dân với nước: Thánh Gióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Bà
Trưng, Lý Ông Trọng…
2. Khái niệm thờ cúng tổ tiên
Tổ tiên là khái niệm dùng để chỉ những người có cùng huyết thống
nhưng đã mất như cụ, kỵ, ông, bà, cha, mẹ - những người đã có công sinh
thành và nuôi dưỡng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống vật chất và tinh thần
của thế hệ những người đang sống.
Tổ tiên trong xã hội nguyên thuỷ có nguồn gốc là tổ tiên tôtem giáo của
thị tộc bộ lạc. Tổ tiên tôtem giáo thời kỳ thị tộc mẫu hệ là những vật trong tự
nhiên, có mối quan hệ mật thiết với con người và khi được thần thánh,
thiêng liêng hoá thì được coi là tôtem (vật tổ) của thị tộc, bộ lạc. Thời kỳ thị
đồng, dân tộc. Thờ và cúng là hai yếu tố có tác động qua lại và tạo nên chỉnh
thể riêng biệt - đó là sự thờ phụng tổ tiên . Sự “thờ”, “tôn thờ” là nội dung,
còn hoạt động cúng” là hình thức biểu đạt của nội dung thờ cúng.Ý thức tôn
thờ, thành kính, biết ơn, tưởng nhớ, hy vọng sự trợ giúp của tổ tiên là nội
dung cốt lõi, là cái chủ yếu khiến sự thờ phụng tổ tiên thành tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên. Nếu không có “nhờ” mà chỉ có “cúng” thì sự thờ phụng tổ tiên
không có “hồn thiêng”, không có sức hấp dẫn nội tại dễ thành nhạt nhẽo và
do vậy, không thể là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Sự “cúng” tuy chỉ là hình
thức biểu đạt, song nó tôn vẻ linh thiêng, huyền bí, mờ ảo và tạo nên sức hấp
dẫn. Nó chính là chất kết dính, tạo nên màu sắc thoả mãn niềm tin của chủ
thể thờ cúng.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là quan niệm về sự tồn tại
của linh hồn và mối quan hệ giữa người sống và người chết (cùng chung
huyết thống)bằng con đường hồn về chứng kiến, theo dõi hành vi của con
cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ .Trong tín ngưỡng này đạo lý
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
5
Lịch sử văn hóa Việt Nam
là nội dung nổi trội .Có thể nói, thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng dân gian
của dân tộc có nguồn gốc từ xa xưa và mang đạo lý nhân ái uống nước nhớ
nguồn trong tiến trình lịch sử, nó đã được các hệ tư tưởng tôn giáo khác bổ
sung , hoàn chỉnh để thể chế hóa thành một thứ đạo:Đạo tổ tiên-Đạo ông bà.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một loại hình của tín ngưỡng nói chung
và là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức hợp của ý thức về
tổ tiên, biểu tượng về tổ tiên và nghi lễ thờ phụng.
II.Nguồn gốc, cơ sở hình thành và bản chất của tín ngưỡng thờ cung tổ
tiên
1.Nguồn gốc và cơ sở hình thành
1. 1 Cơ sở kinh tế - xã hội.
Có thể nói rằng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng huyết thống chỉ
Về nhận thức:
Trong nhận thức dân gian, người Việt quan niệm rằng, con người có 2 phần:
phần xác và phần hồn. Hai phần này vừa gắn bó, vừa tách biệt, chúng gắn bó
với nhau. Khi con người còn sống, hồn nhập vào xác điều khiển hành vi của
con người. Khi con người chết, phần hồn rời khỏi xác, thể xác của họ hoà
vào cát bụi, phần hồn vần tồn tại và chuyển sang sống ở một thế giới khác
(cõi âm). Ở Cõi Âm (được mô phỏng từ Cõi Dương) mọi linh hồn đều có các
nhu cầu như cuộc sống nơi trần thế. Theo quan niệm dân gian, chết cũng là
một dạng “sống“ trong một môi trường khác.Người ta cho rằng nếu người
chết không được cung cấp thức ăn đầy đủ sẽ trở thành “ ma đói“ lang thang,
quấy nhiễu người sống. Các am chúng sinh lập ở cuối làng, hay Lễ Vu Lan
dành cho “thập chúng sinh“ là những biểu hiện mong muốn chia sẽ, an ủi
những linh hồn bơ vơ, thiếu đói không có người cúng tế.Một hiện tượng khá
bí ẩn nhưng rất được nhiều người tin tưởng, đó là âm phủ, người chết phù
trợ cho người sống.
Âm phủ là gì?
Theo học thuyết Âm dương ngũ hành, âm là đất, đối với dương là trời. Âm
còn mang ý nghĩa là tối, lạnh, trái với dương là sáng, nóng. Phủ nghĩa
là nhà rất to, thường là nhà quan lại. Vì từ đời cổ xưa đã có tục lệ chôn
người chết xuống đất nên người ta mới tưởng tượng rằng, dưới đất phải có
một ngôi nhà rất lớn để cho người chết ở.
Tại sao có âm phủ?
Con người sống trên mặt đất, dưới vòm trời, xung quanh là nước (sông, hồ,
ao, biển…), bởi vậy người xưa mới chia thế giới thành bốn cõi, gọi là “Tứ
phủ công đồng”: Thiên phủ (cõi trời), Địa phủ (cõi đất), Thủy phủ (cõi
nước), Nhân phủ (cõi người). Trừ cõi người, ba cõi kia thường xuyên có
những hiện tượng bí hiểm, ghê gớm không hiểu nổi (vì chưa có khoa học)
như: mưa nắng, sấm chớp, gió bão, lũ lụt, động đất, sóng thần… Cho nên,
người ta mới nghĩ rằng, các hiện tượng đó là do những đấng thần linh cai
quản ba cõi sáng tác ra để ban phúc hoặc giáng hoạ cho loài người. Các vị
Hy Lạp, barus nghĩa là “nặng” vì đó là trọng tâm của trái đất. Barysphère
chứa đựng những thứ gì thì chưa biết nhưng chắc chắn không có Diêm
Vương và quỷ sứ. Nếu dưới lòng đất chỉ có nước ngầm, dầu khí, quặng mỏ…
thì sau khi người chết, hồn sẽ đi đâu, ở đâu? Nhiều người chết gây ảnh
hưởng mạnh mẽ về tâm lý đối với người sống xung quanh, khiến cho những
người này bị “ám thị” nhìn thấy những ảo ảnh hoặc nghe thấy những âm
thanh mà họ tưởng là hồn người chết hiện về. Một ông bác sĩ quả quyết với
tôi rằng, sau khi bà cụ thân sinh an táng được ba ngày thì cả hai vợ chồng
ông ta đêm ngủ đều nghe rõ tiếng cụ gọi. Thời chiến tranh, một đơn vị bộ
đội đóng quân gần chùa, có viên thượng uý chết trong vườn chùa, ngay
trước cửa nhà tôi ở hiện nay. Khi đó chùa chưa có sư, tối đến, các tín đồ
trong làng thay phiên nhau ngủ canh chùa. Họ kể rằng, anh ta thường xuyên
hiện hồn về, thậm chí có lần còn túm cổ, nâng đầu họ.Có những nhà ngoại
cảm miêu tả đúng đặc điểm nhận dạng và tính nết người chết mặc dù họ
không hề quen biết người chết. Do đó, có giả thuyết cho rằng, hồn chính là
một dạng “năng lượng sinh học”, na ná như sóng điện từ của radio, TV, và
nhà ngoại cảm đã bắt đúng tần số của nó. Vấn đề này còn đang tranh cãi.
Các yếu tố tâm lý khác
- Sự sợ hãi:
Trong cuộc sống con người còn gặp nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh,
sa cơ, lỡ vận, bệnh tật hiểm nghèo …luôn đe doạ sự bình an của con người.
Con người còn thiếu tự tin vào chính bản thân khi phải đối mặt giải quyết
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
8
Lịch sử văn hóa Việt Nam
với các vấn đề trên trong cuộc sống của chính bản thân họ. Họ luôn mong
muốn có sự giúp đỡ của các thế lực khác nhau, trong đó họ cần đến sức
mạnh của ông bà tổ tiên ở “thế giới bên kia” che chở, nâng đỡ. Từ quan
niệm dân gian về linh hồn, người ta cho rằng, nếu không cúng tế linh hồn
ông bà tổ tiên đầy đủ thì những linh hồn này trở thành ma đói và sẽ mang lại
khởi xuớng): Trong quan niệm của Lão Tử và Trang Tử, bản chất của “Đạo”
là nguồn gốc của vạn vật trên thế giới, là quy luật vận động của tự nhiên và
được hai ông diễn tả nó như một thứ huyền bí, một nguyên lý tối cao vô
hình. Trong Đạo giáo đã xây dựng nhiều nhân vật thần tiên có dáng dấp của
con người. Thần tiên của Đạo giáo chính là những cá nhân đã được tôn vinh
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
9
Lịch sử văn hóa Việt Nam
thành những nhân vật trường sinh bất tử, ở nơi bồng lai tiên cảnh, sống cảnh
an nhàn tiên cảnh, lại rất thần thông quảng đại có thể cưỡi mây, đạp gió, làm
được những việc phi thường mà con người trần tục không thể làm được.
Viễn cảnh thần tiên ấy đã trở thành niềm mơ ước, khát vọng của rất nhiều
người đang sống ở một thế giới mà Phật giáo cho là “biển khổ”.Nếu như
Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về giá trị đạo đức, về trật tự kỷ cương xã
hội cho tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, thì Đạo giáo góp phần
củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những
người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, ma chay,
tang lễ, mồ mả và đốt vàng mã.
- Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn
đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam, trước
hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, về kiếp luân hồi và nghiệp báo,…
Phật giáo cho rằng, sống chết là quy luật tất yếu của thế gian giống như mặt
trời lặn rồi lại mọc, mọc rồi lại lặn mà thôi. Sống và chết chỉ có nghĩa là thay
đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Chết là bắt đầu của một chu kỳ
sống mới, một kiếp sống mới. Theo Đạo Phật, không có kiếp sống đầu và
kiếp sống cuối cùng. Sau khi chết, linh hồn con người sẽ được tái sinh, đầu
thai vào một kiếp khác. Kiếp đó là hạnh phúc hay đau khổ, tuỳ thuộc vào
bản thân họ đã sống thiện hay ác trong quá khứ.Những tư tưởng cơ bản của
Phật giáo có ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ
tiên của người Việt, nhưng không vì thế mà nó là sự sao chép y nguyên tư
chết luôn có mặt bên cạnh người sống, bằng cặp mắt vô hình luôn để tâm
theo dõi mọi hành vi của người sống để từ đó có thể dìu dắt, phù hộ theo
đúng đạo lý ông bà dân tộc và cộng đồng xã hội. Tổ tiên khi còn sống thì
“khôn”, đến lúc chết thì “thiêng”, vẫn ngự trên bàn thờ, vừa gần gũi vừa xa
lạ, linh thiêng. Và từ đó người sống phần nào có thể cảm nhận được tương
lai và định mệnh của mình. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hình thành và tồn tại
giúp con người vượt qua cái trần tục, đời thường, thúc đẩy sự tìm tòi, hướng
về những điều ở phía phía trước, giải phóng phần nào tinh thần của con
người khi đang bế tắc. Mặt khác tạo cho con người ta cảm giác yên tâm,
được che chở. Bởi họ tin vào sức mạnh siêu nhiên, những người đã mất sẽ
“phù hộ” và giúp họ có được điều mình mong muốn.
Việc thờ cúng tổ tiên của dân tộc Việt Nam, là một tập tục tín ngưỡng lâu
đời tồn tại trong cộng đồng ở khắp các vùng Bắc,Trung, Nam. Tuy chưa
được quy định thành văn nhưng việc thờ cúng tổ tiên đã trở thành loại giáo
lý có giá trị đạo đức xã hội làm nền tảng của mọi loại hình giáo dục khác
trong đó có giáo dục tín ngưỡng tôn giáo.Ý thức về tổ tiên mang giá trị nhân
văn sâu sắc, nó phát khởi mối thiện tâm trong mỗi con người trong cộng
đồng xã hội. Thờ cúng là cách để tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên. Việc thờ
cúng tổ tiên rõ ràng có giá trị giáo dục về luân lý (ngũ luân), trước hết đó là
lòng hiếu đễ, là căn bản của đạo đức trong mối quan hệ gia đình, dòng tộc và
xã hội. Lòng hiếu đễ khiến ta sùng kính những người đã ban cho ta đời sống
và lương tri. Điều này khiến ta có ý thức bảo tồn và lưu truyền để tưởng nhớ
mãi mãi.
Mặt khác, bản chất việc thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người
sống cũng như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ trợ nhau. Con
cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên thì che chở, dẫn dắt hậu thế
nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữa cõi dương và cõi âm.
- Niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã góp phần gắn kết các thành
viên trong gia đình, tộc họ cùng chung huyết thống. Đó là sợi dây vô hình
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
riêng của người Việt. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ gói gọn trong
phạm vi gia đình mà còn mở rộng ra cả cộng đồng. Có thể nói đến ví dụ tiêu
biểu là ngày giỗ Tổ Hùng Vương và ngày mùng 10 tháng 3 (âm lịch) hàng
năm. Ngày này trở thành ngày hội tụ con cháu khắp mọi miền đất nước
hướng về đất Tổ. Có thể nói ngày giỗ tổ Hùng Vương là sự phát triển cao có
tính chất trìu tượng hóa ý thức về cội nguồn, bắt rễ sâu xa tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên ở làng xã, trong gia đình và gia tộc.Triết lý cội nguồn trên phạm
vi quốc gia ấy cũng đã đóng góp một phần quan trọng trong việc củng cố về
mặt lý luận cho sự liên kết các quan hệ máu mủ thân tộc. Nhà và nước, nước
và nhà, nước mất thì nhà tan, nước giàu thì dân mạnh.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có nội dung bình dị và giàu tính thực tiễn,
không cực đoan như nhiều tôn giáo khác. Bởi thế nó dễ dàng được thế tục
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
12
Lịch sử văn hóa Việt Nam
hóa trở thành nếp sống, phong tục, bám rễ sâu trong tiềm thức của mỗi
người. Bằng việc thờ cúng tổ tiên, thế hệ trước nêu gương cho thế hệ sau
không chỉ vì trách nhiệm đối với các bậc sinh thành mà còn để giáo dục dạy
dỗ con cháu lưu truyền nòi giống. Giáo sư Đào Duy Anh cho rằng:“Tế tự tổ
tiên là lấy sự duy trì chủng tộc làm mục đích”. Trong khi tế lễ, lời khấn vái
của họ cũng thật giản dị, rất thực tiễn: lời cầu xin che chở, phù trợ cho cuộc
sống hàng ngày của họ được bình yên, suôn sẻ. Không biết sự cầu xin ấy
hiệu quả như thế nào, nhưng trước hết, con người cảm thấy thanh thản về
mặt tâm linh, điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc sống.
Với những mong muốn bình dị và niềm tin nguyên thủy chất phát, thờ tổ tiên
được coi là thứ tín ngưỡng “vừa tầm” với mọi lớp người cả về mặt nội dung
đạo lý và nghi thức thực hiện. Do đó, khả năng phổ biến trong không gian và
thời gian của tín ngưỡng này cũng là một điều dễ hiểu.
Các tôn giáo ngoại lai, để tồn tại được ở Việt Nam, đã buộc phải dung hòa
với thứ tín ngưỡng bản địa cắm rễ sâu trong tâm thức người Việt – thờ cúng
gian giữa. Chính phía trong của gian giữa bao giờ cũng được dành làm nơi
thờ, còn phía ngoài là nơi tiếp khách quý. Đấy là trung tâm của nội
thất, chỗ trang trọng nhất, các sinh hoạt khác có diễn ra ở gian bên cũng
đều hướng về đấy. Gian giữa lại luôn có cửa lớn ra vào, mở cửa là nhìn
thấy trời đất lưu thông, âm dương hoà đồng để rồi cảm hoá lẽ đời.
Bàn thờ tổ tiên của người Việt cũng phần lớn hướng nam, hàm ý con cháu
tôn vinh tổ tiên là những bậc hiền tài theo tinh thần "Thánh nhân nam
diện nhi thính thiên hạ" Tuỳ quy mô ngôi nhà, và cũng tuỳ mức sống chủ
nhà mà bàn thờ có kích thước và hình thức khác nhau. Những gia đình
bần bách, nhà tranh vách đất với những đồ đạc trong nhà cũng đơn sơ, thì
bàn thờ thường chỉ là vạt phên tre giữa hai cột trong của gian giữa,
bên trong có bát hương nhỏ, đến ngày Tết có thể được dán tờ tranh chủ ở
giữa vẽ những thứ như ở một bàn thờ nhà khá giả, hai bên dán câu đối
đỏ, cũng tạo ra một cảnh sắc sang trọng và sáng sủa để khỏi tủi vong
linh ông bà. ở những gia đình thuộc loại "thường thường bậc trung" trở
lên, thì nơi ở là nhà ngói tường gạch. Ăn nhập với khung nhà bằng gỗ
xoan sáng vàng hay gỗ lim đanh chắc, là những đồ gỗ, giường phản có thể
có sập gụ tủ chè sang trọng, thì bàn thờ được đóng đàng hoàng. Phần
trong cùng là gác lửng đóng nối giữa hai cột trong, ngoài kê thêm sập
thờ, nhang án, phía trên có treo hoành phi và hai bên treo câu đối sơn
then thếp vàng. Trên bàn thờ có thể có khám, ngai hay ít ra cũng đặt bài
vị được chạm khá cầu kỳ và sơn thếp cẩn thận. Trước bài vị được đặt
bình hương sứ to để khi thắp những nén hương vừa gợi ra bầu trời sao,
vừa dâng truyền ý nguyện con cháu lên những đấng anh linh ở thinh
không, phía ngoài còn bát nước trắng và đĩa trầu cau. Có thể có thêm đỉnh
trầm bằng đồng, bên cạnh có một hoặc hai chiếc độc bình vừa biểu hiện
tâm không lòng thành vừa để cắm hoa trong ngày Tết và giỗ chạp. Hoa cắm
thờ thường là hoa huệ biểu hiện trí tuệ với sự thanh cao cả ở hương và
sắc, ngày Tết hay cắm cành đào rực hoa, vừa biểu hiện sắc xuân với bầu
trời rạng rỡ, vừa theo quan niệm xưa là để trừ ma quỷ. Lại còn cây đèn
tiên là thờ chung, không cần thiết phải có chân dung, thường có bài vị tượng
trưng vẽ cây thông già. Chân dung chỉ cần thiết ở bàn thờ tang.
Bàn thờ tổ tiên là một bộ phận trong không gian gia đình, nó tham gia vào
nội thất với tính chất trang nghiêm, lịch sự và thẩm mỹ. Mỗi gia đình tuỳ
không gian cho phép, tuỳ tương quan với tiện nghi sinh hoạt khác, có thể
làm những bàn thờ thích hợp và đồ tế khí phù hợp, làm sao cái đẹp ở đây
phải đảm bảo văn hoá ở cả chiều sâu tâm linh và mặt bằng hình sắc.
Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay
còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác
nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất.
Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát
hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với
nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm “cành vàng lá ngọc”
(một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán
lãi gấp 5 hoặc gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm
hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt
xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả
(tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý
nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
15
Lịch sử văn hóa Việt Nam
thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con
cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới…
Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại nơi cao ráo, sạch sẽ và trang trọng nhất
trong nhà (gian giữa đối với nhà một tầng, tầng trên cùng đối với nhà tầng).
Trên bàn thờ thì bày bát hương, chân đèn, bài vị hay hình ảnh người quá cố,
chỗ thắp nến. Đồ cúng cơ bản không thể thiếu hương, hoa, chén nước lã.
Ngoài ra có thể có thêm thức ăn, trà rượu, và có khi có cả đồ vàng mã (quần
áo đồ dùng làm bằng giấy), tiền âm phủ… Sau khi tàn một nửa tuần hương,
Lịch sử văn hóa Việt Nam
Ngày mai là ngày 23 tháng Chạp , là ngày tiễn ông Táo lên Trời báo cáo tình
hình làm ăn trong năm của Gia chủ , cũng là ngày mà người ta có thể rút bớt
chân nhang và lau dọn bàn thờ . Có nhiều bài viết về cách bố trí bàn thờ gia
tiên trong nhà , nhưng theo thiển ý của dienbatn thì chưa được chính xác .
Nay nhân tiện cuối năm , dienbatn xin chia sẻ những kinh nghiệm bố trí bàn
thờ Gia tiên trong nhà cùng các bạn , nếu bạn nào chưa làm đúng thì sẽ có cơ
hội sửa chữa lại .
CÁC BAN THỜ TRONG NHÀ :
Thông thường trong nhà người ta có các bàn thờ : Bàn thờ Phật , bàn thờ
Thần linh và gia tiên , bàn thờ ông Địa – Thần Tài , bàn thiêng ngoài trời thờ
9 phương Trời , 10 phương Phật , ngoài ra tuỳ gia chủ có thêm các ban thờ
Mẫu , ông Hoàng , bà Chúa , các cô , các cậu hay thờ 5 Ông … dienbatn xin
nêu các đặc điểm riêng của một số ban thờ như sau :
1/ Ban thờ Phật : Thường được lắp đặt nơi cao nhất trong phòng thờ của gia
đình , trên bàn thờ có ảnh của vị Phật mà mình muốn thờ ( Thông thường
người thường chỉ thờ ảnh Phật , các Thày hay Sư mới thờ tượng ) . Chính
giữa có bát nhang hay lư trầm . Bên cạnh có bình bông và đĩa trái cây , 3
chung nước , cặp đèn cầy hay đèn điện . Tuyệt đối không được đặt đồ lễ mặn
và giấy tiền vàng bạc trên bàn thờ Phật . Khi cúng Phật , phải tuyệt đối dùng
đồ chay .
2/ Bàn thờ Thần linh : Thường được đặt chung với bàn thờ Gia tiên . Bát
nhang thờ Thần linh đặt chính giữa và cao hơn hai bát nhang còn lại . Đằng
sau bát nhang có bài vị thờ Thần . Thường chỉ có một chữ Thần ( 神 ) hay
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
17
Lịch sử văn hóa Việt Nam
chữ Thần Tiên Linh ứng ( 神 仙 佀 應 ) . Thần linh ở đây bao gồm : Quan
đương Niên hành Khiển hàng năm , Thành Tào Phán Quan , Ngũ phương
Ngũ Thổ Long Thần , Tiền hậu Địa chủ Tài Thần , Thần hoàng bản xứ ,
Tào Phán quan .
12/ HỢI : QUAN LƯU VƯƠNG hành khiển . Ngũ ôn chi Thần , Nguyễn
Tào Phán quan .
CHÚ THÍCH : 12 vị Đại Vương hành khiển cái quản 12 năm , mỗi vị đều có
một vị Phán quan gíup việc .
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
18
Lịch sử văn hóa Việt Nam
3/ Bát nhang thờ Cửu Huyền Thất Tổ : ( 九玄七祖 ) : Cửu Huyền Thất
Tổ ở đây là nói tắt . Đúng ra là Cửu Huyền Thất Tổ nội ngoại tôn thân – Tức
là tứ thân phụ mẫu nhiều đời nhiều kiếp của cả bên nội và bên ngoại . Không
nên chia ra làm bàn thờ bên nội và bàn thờ bên ngoại . Bát ngang này thờ tất
cả các Đời của 4 dòng họ nội ngoại chứ không hẳn chỉ có 9 đời như người ta
thường hiểu sai . Thậm chí có nhiều bát nhang Linh thiêng có thể nối nhịp
cầu với vài chục đời , thậm chí hàng trăm đời trước . Bát nhang Cửu Huyền
Thất Tổ nội ngoại tôn thân được đặt ở phía tay phải người đứng lễ , hay tay
trái từ trong bàn thờ nhìn ra . Phía sau thường đặt bài vị hay ảnh thờ . Phía
trước cũng có 3 chén nước trên cùng một cái khay bằng sứ dài . Bên cạnh
người ta đặt một bình bông tùy ý , thường là bông có mầu sắc vàng , đỏ …
4/ Bát nhang Bà Cô – Ông Mãnh Tổ ( 婆 祖 翁 猛 姑 ) : Bát nhang Bà Cô
– Ông Mãnh Tổ dùng để thờ những người chết trẻ , chưa vợ , chưa chồng
nhiều đời nhiều kiếp của cả bên nội và bên ngoại . Thông thường trong số đó
thường có một vài Bà Cô Tổ hay Ông Mãnh Tổ của một vài đời rất linh
thiêng , thường theo phù hộ cho con cháu . Trong những buổi gọi hồn ,
thường các vị này xin ra đầu tiên rất linh thiêng . bát nhang của Bà Cô – Ông
Mãnh Tổ được đặt ở phía bên tay trái người cúng hay bên tay phải từ trong
bàn thờ nhìn ra . Phía trước cũng có 3 chén nước trên cùng một cái khay
bằng sứ dài . Bên cạnh người ta đặt một bình bông nhưng ở đây bắt buộc là
bông có màu trắng , tượng trưng cho sự tinh khiết của họ vì họ chưa có lập
gia đình .
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
20
Lịch sử văn hóa Việt Nam
Mâm cơm cúng :
Khi cúng thường có các đồ lễ như : Trầu , cau , rượu , thuốc lá , giấy tiền
vàng bạc thật và giả , đèn , nến , đĩa muối gạo . Có thêm 3 chung trà , 3
chung rượu , 3 chung nước để tượng trưng cho Tam tài :
Thiên : Có Nhật – Nguyệt – Tinh tú .
Địa : Có Thủy – Hỏa – Phong .
Nhân : Có Tinh – Khí – Thần .
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
21
Lịch sử văn hóa Việt Nam
Có 9 ngọn nến , 2 ngọn đặt trước tượng trưng cho Nhật – Nguyệt , 7 ngọn để
ở hàng sau tượng trưng cho Thất tinh là chòm sao bắc Đẩu – Quê hương ,
cội rễ của loài người .Trong các lần cúng nên có sớ để tâu trình ( các bạn có
thể in các lá sớ dienbatn đã viết trong Blog này để sử dụng )
Theo tục lệ, cho dầu làm tiệc lớn mấy đi chăng nữa, bữa cúng cũng
phải có chén cơm xới đầy có ngọn, úp lồng một cái chén khác lên trên gọi là
chén cơm lồng cùng trứng gà luộc đã bóc vỏ dẹt ra trên đĩa với một ít hột
muối. Vì thế mới có tên cúng giỗ là "cúng cơm". Những khách khứa cùng bà
con thân thích, trước khi ngồi vào bàn, ván ăn giỗ phải làm lễ dâng cúng với
những lễ vật mình đem tới và lạy trước bàn thờ xong đã.
Trên bàn thờ đèn nhang đã được thắp từ trước khi các thức ăn được
bày lên. Gia trưởng phục sức chỉnh tề, có khi mặc áo thụng, chú trọng xem
xét và rà soát lại các lễ vật có đầy đủ rồi mới bước vào chiếc chiếu trải trước
bàn thờ, lễ bốn lạy, quỳ xuống, hai tay chắp lại vòng ngang trán. Một trong
hai người chấp sự, thường là em hay con cháu gia trưởng, đứng hai bên bàn
thờ, lấy ba nén hương châm lửa thắp, đưa cho gia trưởng vái một vái dài rồi
trao lại đem cắm lên bát hương. Người chấp sự thứ hai mở nút bình rượu, rót
8. Tham thần cúc cung bái (Chủ tế và bồi tế cùng lạy bốn lạy nhịp
xướng theo nhịp xướng của người xướng tế: hưng là đứng dậy, bái là lạy
theo lối phủ phục toàn thân).
9. Hành sơ hiến lễ. Chánh tế viên nghệ hương án tiền (Làm lễ sơ hiến,
vị chánh tế bước ra ngoài, vòng lên chiếu thứ nhất trước hương án).
10. Quỵ (Vị chánh tế quỳ xuống).
11. Tiến tước (Hai chấp sự đem rượu đến quỳ cạnh chủ tế cho chủ tế
rót. Chủ tế vái rồi đưa cho chấp sự để lên bàn thờ).
12. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu, lạy hai lạy).
13. Bình thân, phục vị (Chủ tế đi ra, vòng xuống đứng lại ở chiếu thứ
ba).
14. Nghệ độc chúc sở tại hương án tiền (Chủ tế bước lên chiếu thứ
nhất).
15. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống).
16. Chuyển chúc (Hai chấp sự lên bàn thờ đem chúc xuống quỳ bên
cạnh chánh tế).
17. Tuyên đọc (Người đọc chúc quỳ bên cạnh tuyên đọc).
18. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy hai lạy).
19. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
20. Hành Á hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ hai như lần
sơ hiến).
21. Phủ phục, hưng bái (Khấu đầu lạy hai lạy).
22. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
23. Hành Chung hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ ba).
24. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ).
25. Nghệ tộ sở (Chủ tế lên chiếu lần thứ hai chờ lễ tộ sở).
26. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống).
27. Tứ phúc tộ (Chấp sự lên bàn thờ lấy khay rượu thịt được thần hay
gia tiên ban cho chủ tế).
28. Thụ tộ (Chấp sự đưa khay cho chủ tế. Chủ tế đón nhận, uống một
co hai tay vẫn lên chắp trước ngực và co đầu gối bên phải lên, đặt bàn chân
phải lên chiếu để sửa soạn đứng dậy, đem hai bàn tay vẫn chắp xuống tì vào
đầu gối bên phải mà đứng lên, chân trái đang quỳ tự nhiên theo cử động chót
này cùng đứng thẳng lên.
Người lạy, trước khi khấn đã lễ bốn lạy, và sau khi khấn từ tư thế quỳ đứng
lên, đã qua như lễ được một nữa lạy, cho nên người ta thường nói là lạy "bốn
lạy rưỡi" là vậy.
Người chịu trách nhiệm cúng
Theo phong tục , con trai trưởng là người có trách nhiệm tổ chức và
cúng.nếu con trai trưởng không còn thì việc cúng giỗ do cháu đích tôn tổ
chức(chỉ khi trưởng nam không may tuyệt tự, không có con trai nối dõi thì
mới đến con thứ). Tuy nhiên, không vì thế mà những người con thứ, cháu
thứ, cháu ngoại bỏ ngày giỗ của ông bà , cha mẹ.Đến ngày giỗ, họ phải tề
tựu ở nhà con trai trưởngvà cũng phải mang đồ lễ cúng tới để gửi lễ.
Cách thức tang ma
Sinh và tử là hai sự kiện quan trọng trong đời của một con người. Đối với
các dân tộc có tục tôn thờ người quá cố ở vùng Đông Á và Đông Nam Á, lễ
tang được xem rất trọng. Riêng đối với người Việt, tang lễ của người cao
niên có địa vị trọng yếu trong gia đình, tang lễ ông bà, cha mẹ lại càng quan
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
24
Lịch sử văn hóa Việt Nam
trọng hơn.
Theo quan niệm phương Đông ngày xưa: sự tử như sự sanh, sự vong như sự
tồn. Sự ở đây là thờ kính. Kính người chết giống như kính người sống. Dù
nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng khi người đã mất rồi, người ta vẫn bày biện
cúng kiến, thờ phượng tưởng chừng như người đó vẫn còn sống đâu đây
ngay trong nhà. Thờ cúng không phải để cho người chết về hưởng, mà chính
là bày tỏ sự tưởng nhớ của người sống đối với người chết. Câu thơ của cụ
Nguyễn Đình Chiểu điếu liệt sĩ Phan Công Tòng (Bến Tre): lòng đây tưởng
mất thì giờ tìm mua.
Sau khi liệm xong, đến giờ tốt, chuyển thi hài vào quan tài, đóng nắp kĩ
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
25