LUẬN VĂN:Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng
Bắc bộ hiện nay Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã từ lâu, ở mọi vùng quê trên đất nước Việt Nam thường diễn ra những ngày lễ
hội gắn với các truyền thuyết và sự tích về các Nữ thần.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian mang sắc thái nguyên thủy và có
chiều dài lịch sử hàng ngàn năm, nó phát triển theo sự phát triển đa dạng của tín ngưỡng
dân gian mà không theo một qui luật định sẵn nào. Tín ngưỡng thờ Mẫu được bảo tồn qua
lễ hội, qua niềm tin và qua đời sống tâm linh để tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của
người dân đất Việt.

Điều này càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là những
người quan tâm đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Công cuộc đổi mới đất nước hai mươi năm qua ở nước ta đã đạt được những thành
tựu quan trọng trong các lĩnh vực đời sống xã hội. ở lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng cũng có
những biến đổi căn bản, trên cả phương diện nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của
công tác tôn giáo.
Ngày nay, trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang diễn ra trên toàn thế giới.
Việt Nam cũng đang hòa nhập vào xu thế đó. Tuy nhiên, chúng ta gặp phải một thách thức
không nhỏ, khi mà bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế ngày càng rộng rãi như hiện nay. Vấn đề
giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc như thế nào là việc làm cần thiết, có lẽ chúng ta
không cần nhắc lại tác hại của việc đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Điều quan trọng là
phải tìm được những giải pháp giữ gìn và phát huy những yếu tố tích cực của bản sắc văn
hóa dân tộc trong bối cảnh hiện nay.
Tôn giáo, tín ngưỡng là một nhu cầu tâm linh của một bộ phận cư dân trong xã hội.
Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian Việt Nam thì tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín
ngưỡng dân gian khá phổ biến trong xã hội. Theo thống kê của Viện Hán Nôm năm 1991 thì:
“Trong số 1000 di tích được giới thiệu thì đã có 250 di tích thờ cúng các vị thần hay danh
nhân là nữ” [45, tr.24].
Tín ngưỡng thờ Mẫu gần gũi với thiên nhiên, đất trời, gắn với thân phận của người
phụ nữ Việt Nam … Người ta đến với Mẫu để tìm chỗ dựa về tinh thần, tìm được sự che
chở của người mẹ…dẫu biết rằng khi đến với tín ngưỡng này con người cầu xin từ những
cái vô hình, để hy vọng có thể nhận được những cái hữu hình.
Tôn giáo - tín ngưỡng - mê tín dị đoan, là ba khái niệm rất phức tạp, là vấn đề đang
được sự quan tâm của nhiều người, nhiều ngành khoa học khác nhau. Hiện nay, Đảng và
Nhà nước ta cho phép phục hồi một số lễ hội truyền thống, trong đó có cả tín ngưỡng thờ
Mẫu. Ngoài ra, nhu cầu trở về cội như một xu thế vừa tự phát lại vừa tự giác đã kéo theo
hiện tượng mà trước kia được liệt vào dạng “mê tín dị đoan”, nhưng nay lại đang diễn ra

viện dẫn hoặc phân tích trên các sách báo và các thần tích lưu tại các địa phương và các
phủ điện thờ) sơ bộ đã có 25 công trình với ba ngôn ngữ (Hán nôm, Việt, Pháp) viết về
Chúa Liễu - Mẫu Liễu Hạnh gồm: Sách Hán Nôm (Vân Cát Lê gia ngọc phả; Truyền kỳ
tân phả; Vân Cát thần nữ cổ lục …), sách Quốc ngữ và chữ Pháp (Nam Hải dị nhân của
Phan Kế Bính; Truyện thần nữ Vân Cát của Thiên Đình hay Nam Phong 1930; Sự tích
Liễu Hạnh công chúa của Trọng Hối 1959; Leculte des immortels…Nguyễn Văn Huyên
1944.
Về Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì: “Lê Gia ngọc phả vẫn là tài liệu trước nhất ghi chép
về Liễu Hạnh. Và có thể khẳng định là Đoàn Thị Điểm đã dựa vào truyền thuyết dân gian
để sáng tạo, hư cấu nhiều hơn” [24, tr.35].
Sau khi miền Nam được giải phóng (1975) cả nước được thống nhất, chúng ta có
nhiều điều kiện tập trung nghiên cứu. Vì thế, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
cuộc hội thảo và các bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam (không kể những bài viết
trong báo và tạp chí) cơ bản đó là:
- “Đạo Mẫu ở Việt Nam” năm 1996 hay cuốn “Đạo Mẫu và các hình thức Shaman
trong các tộc người ở Việt Nam và Châu á ” năm 2004 của tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ
biên). ở đây, tác giả đã đưa ra những luận chứng khẳng định tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt
Nam đã trở thành Đạo Mẫu. Quan điểm này hiện nay có nhiều nhà khoa học chưa đồng
tình.
- “Văn hóa tâm linh Nam bộ” của Nguyễn Đăng Duy (1997), tác giả có viết một
chương về tín ngưỡng thờ Mẫu, nhưng là thờ Mẫu ở Nam bộ.
- Cuốn “di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam ”, tác giả Lê
Quang Trứ (2000) có bài viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nhưng còn sơ sài, tác giả giới thiệu dàn
đều bốn loại hình tín ngưỡng chủ yếu tại Việt Nam.
- Cuốn “Lịch sử tín ngưỡng Đông Nam á ” xuất bản năm 2000, tái bản năm 2003
của TS Trương Sĩ Hùng (chủ biên), trong đó có bài viết: Thờ Mẫu Việt Nam một tín
ngưỡng điển hình ở Đông Nam á. Tác giả giới thiệu về lễ hội thờ Mẫu và bước đầu đưa ra

những năm gần đây về tín ngưỡng thờ Mẫu, tác giả luận văn mà chưa có điều kiện liệt kê
tất cả những danh mục viết về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam hiện đang có ở nhiều tác
phẩm và bài viết. Và cũng chưa có cơ hội được đọc hết các luận văn nghiên cứu về tín
ngưỡng thờ Mẫu và Mẫu Tam phủ - Tứ phủ của các tác giả Việt Nam dưới các góc độ
khác nhau.
Tác giả luận văn đã tiếp thu, kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu của
các nhà khoa học, các tác giả đi trước, kết hợp với những kiến thức do chính bản thân sưu
tầm, tích lũy chọn lọc trong quá trình học tập, công tác và khảo sát thực tế về tín ngưỡng
thờ Mẫu tại các trung tâm thờ Mẫu, chúng tôi muốn nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm về tín
ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng, đặc điểm và vai trò của tín ngưỡng thờ
Mẫu, nhằm đưa ra những giải pháp, kiến nghị phát huy những giá trị tích cực và khắc phục
những hạn chế trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
-Làm rõ khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng
bằng Bắc bộ.
- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá và rút ra một số nhận xét trong tín ngưỡng thờ
Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ.
- Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng thờ Mẫu tới đời sống xã hội Việt Nam hiện
nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã có từ rất lâu, nó đã bám rễ ăn sâu vào đời sống
tinh thần của người dân từ Bắc vào Nam. Vì thời gian và trình độ hạn chế với đề tài này,

những giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm phát huy những giá trị tích cực và hạn chế tiêu
cực đối với tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ với đặc
điểm của nó.
Luận văn giúp cho người đọc hiểu thêm về tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ
và nét sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc của người Việt
Nam.
Ngoài ra, luận văn còn là nguồn tài liệu tham khảo cho trường chính trị các tỉnh, các
Học viện khu vực và những người làm công tác quản lý văn hóa, nghiên cứu, giảng dạy về
tín ngưỡng, tôn giáo.
Thông qua nội dung luận văn, giúp cho các nhà quản lý hiểu thêm một phần nào đó
nhằm phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức trong thờ Mẫu. Đồng thời, hạn chế những
mặt tiêu cực của loại hình tín ngưỡng này.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3
chương, 9 tiết. Chương 1
Tín ngưỡng thờ mẫu ở đồng bằng bắc bộ

Tiếng Việt Tiếng Anh Tiếng Pháp
Tín ngưỡng Belief Croyance(niềm tin)
Tôn giáo Religion Religion
Việt Nam từ trước đến hiện nay, vấn đề tín ngưỡng cũng có nhiều quan điểm khác
nhau.
GS Đặng Nghiệm Vạn, với quan điểm là:
Thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa. Khi nói đến tự do tín ngưỡng,
người ngoại quốc có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, lelieve, croyance)
hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyance riligieuse). Nếu hiểu tín ngưỡng là
niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief,
believer theo nghĩa hẹp croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ
yếu nhất cấu thành của tôn giáo [50tr.76].
Các học giả như Toan ánh, Phan Kế Bính… Xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian
với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc
Việt Nam.
Có ý kiến khác thì cho rằng nội hàm cơ bản của tín ngưỡng là “Lòng tin, sự
ngưỡng vọng của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó - một lực lượng siêu
thực, hư ảo, vô hình” [30, tr.6].
Nguyễn Chính cho tín ngưỡng là tâm linh, vì tín ngưỡng và tâm linh là hạt nhân
của tín ngưỡng tôn giáo. Đây là niềm tin, sự trông cậy và yêu quý một thế lực siêu nhiên
mà với tri thức con người và kinh nghiệm chưa đủ để giải thích và lý giải được.
Có một quan điểm khác gần giống như GS. Đặng Nghiêm Vạn. Ông cho rằng: “tín
ngưỡng nếu hiểu theo nguyên nghĩa dịch từ chữ Croyance của tiếng Pháp, thì chỉ có nghĩa
là sự tin vào một điều gì đó, và thông thường hay được dùng để chỉ một niềm tin tôn
giáo(Croyance religieuse)” [38, tr.50]. Cũng theo tác giả này thì “tín ngưỡng ”, nếu xét về
mặt ngữ nghĩa, chỉ là một niềm tin tôn giáo; còn những dạng thức sinh hoạt tâm linh mà
chúng ta thường gọi là “tín ngưỡng”, tức là những dạng thức tôn giáo chưa đạt tới cấp độ
của một tôn giáo hiểu theo nghĩa cấu thành của nó thì các nhà tôn giáo học thường dùng - ở tôn giáo, niềm tin được đặc biệt đề cao, có thể đó là đức tin, nó đòi hỏi có cách
lý giải mang tính lôgic, hệ thống và được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh
quan, ý thức, tình cảm Còn tín ngưỡng, niềm tin không trở thành đức tin mà niềm tin ấy
mang tính huyền hoặc, mờ ảo, không rõ ràng mà dựa vào sự cảm nhận của chủ thể tín
ngưỡng. Nói cách khác, xét về mặt nào đó thì tín ngưỡng có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, bởi
vì tôn giáo nào cũng có tín ngưỡng, niềm tin, đức tin tôn giáo nhưng không phải mọi hình
thức tín ngưỡng đều là tôn giáo.
- Tôn giáo thường có một số yếu tố như: Đấng sáng tạo, kinh sách, giáo chủ, hệ
thống giáo lý, tổ chức giáo hội rất điển hình, có qui mô lớn và theo một hệ thống chặt chẽ. Vì
vậy, tôn giáo là một thực thể xã hội, nó có tác động lớn tới đời sống xã hội, còn tín ngưỡng thì
thiếu các yếu tố này hoặc chỉ là sự thể hiện mờ nhạt, mang tính sơ khai.
Tuy nhiên, giữa tín ngưỡng và tôn giáo cũng có điểm tương đồng sau:
- Tôn giáo và tín ngưỡng đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của chủ thể con
người vào một thực thể siêu nhiên nào đó như Thượng đế, Thần, Phật, Thánh…và đều bắt
nguồn từ những nguyên nhân xã hội, nhận thức và tâm lý trong quá trình hình thành và tồn
tại. Chủ thể của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là một người, một nhóm người và có
thể là một giai cấp trong xã hội.
- Bản chất của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là khẳng định sự tồn tại và sự
cứu giúp của thần thánh đối với con người. Cho nên, điều cốt lõi của tín ngưỡng và tôn
giáo là niềm tin vào cái siêu thực, đấng thiêng liêng.
- Cả tín ngưỡng và tôn giáo là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội,
chịu sự quy định của các tồn tại xã hội, đều có chức năng bù đắp hư ảo, xoa dịu nỗi đau
hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinh thần.
Vậy có thể quan niệm tín ngưỡng như sau: Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức
xã hội, là một yếu tố thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần, là hệ quả của các quan hệ xã hội,
được hình thành bởi quá trình lịch sử-văn hóa, là sự biểu hiện niềm tin dưới dạng tâm lý
xã hội vào cái thiêng liêng thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng của con người và cộng
đồng người trong xã hội.

mê tín dị đoan. điều này không đúng; ở một số tộc người thiểu số ở Việt Nam vào ngày
mùng 1 và mùng 2 tết họ tổ chức lên đồng để mừng ngày mới, đây cũng không phải là dị
đoan.
Hay trong Từ điển Tôn giáo do Mai Thanh Hải (Chủ biên) - Nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa - Hà Nội 2003 có viết: Mê tín là tin nhảm, tin xằng bậy, không thấy, không hiểu
mà nhắm mắt tin theo mù quáng, tin theo một cách mê muội ….làm hại đến đời sống vật
chất và tinh thần của mọi người.
Cần phân biệt và nhận thức đúng vấn đề: Mê tín, dị đoan và mê tín dị đoan.
Thực chất của tín ngưỡng và tôn giáo là mê tín vì đều tin vào những điều không có thực,
nhưng bản chất của tín ngưỡng và tôn giáo là không có dị đoan.
Dị đoan: Là những điều quái lạ huyền hoặc do tin vào những điều nhảm nhí mà có
gọi là dị đoan (dị là khác thường; đoan là lắm mối, nhiều rắc rối, lắm vấn đề).
Tín ngưỡng và mê tín dị đoan có quan hệ chặt chẽ với nhau và giữa chúng là một
ranh giới mỏng manh. Chúng ta nên coi tín ngưỡng chỉ là niềm tin và sự ngưỡng mộ của
một người nào đó vào một hiện tượng, một lực lượng nào đó … mà thông thường được chỉ
một niềm tin tôn giáo. Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng bao hàm cả tôn giáo; Theo nghĩa hẹp
tín ngưỡng là đức tin - là một bộ phận cấu thành của tôn giáo.
Dị đoan là hệ quả của mê tín, làm theo những điều quái dị không thật, không hợp lẽ
phải. Dị đoan là mức cao hơn của mê tín. Ví dụ: nghe theo lời “thánh phán” về đốt nhà,
uống nước tàn nhang, nước thải …dẫn đến thiệt hại về tài sản và sức khỏe. Cũng có thể từ
mê tín dị đoan dẫn đến hiện tượng tôn giáo mới, tôn giáo lạ, tà giáo.
Mê tín dị đoan là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên đến mức độ
mê muội, cuồng tín với những hành vi cực đoan, thái quá, phi nhân tính, phản văn hóa. Mê
tín dị đoan thường gây ra hậu quả tiêu cực đến đời sống xã hội. Hiện tượng mê tín dị đoan
thường gắn liền với các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo.
Trong các văn bản của đảng ta thì: Mê tín dị đoan là tin một cách mù quáng mê
muội vào những điều mơ hồ dẫn đến những hành vi gây hậu quả tiêu cực đến sức khỏe,

rằng: “Về phương diện điện thần của Đạo Mẫu ta thấy bước đầu đã được hệ thống hóa,
tiến từ đa thần của tín ngưỡng nguyên thủy đến thần điện của tôn giáo, mà Mẫu giữ vị trí
trung tâm như Đức Phật hay chúa Jêsu” [42,tr.22].
Có lý do để có quan điểm như vậy, bởi vì thờ Mẫu đã từng hình thành một cộng
đồng các tín đồ với các thứ bậc khác nhau. Từ trước những năm 1975 ở Miền Nam đã từng
hình thành một cộng đồng mang tính giáo hội, mang tên Tiên Thiên Thánh Mẫu Giáo, tập
hợp các tín đồ toàn Miền Nam (nhưng sau năm 1975 tổ chức này không còn nữa). Còn ở
Miền Bắc, tuy hình thức thờ Mẫu có từ rất sớm nhưng cũng chỉ hạn chế trong phạm vi các đền,
phủ (Phủ Dầy, Đền Sòng, Phủ Tây Hồ) dù những nơi đó đã trở thành trung tâm thờ Mẫu.
* Quan điểm thứ hai: Xem thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian.
Có ý kiến cho rằng tín ngưỡng Mẫu ở nước ta là một tín ngưỡng và tác giả này viết:
“Về mặt tâm linh, cũng như quy mô tín đồ nó đầy đủ yếu tố một tôn giáo, nhưng nó lại
thiếu hẳn một triết thuyết để đủ sức trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh [16, tr.276].
Khác với những quan điểm cho rằng thờ Mẫu có thể trở thành một tôn giáo sơ khai,
tác giả Nguyễn Hữu Thông lại có ý kiến là: Tín ngưỡng thờ Mẫu tuy là sản phẩm bản địa
chịu nhiều ảnh hưởng của các loại hình tôn giáo chính thống như Nho, Phật, Lão nhưng
các tôn giáo này đều đã bị dân gian hóa rồi mới bồi đắp vào tòa điện Mẫu. Và tác giả viết:
“ Hình tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không
phải là một tôn giáo chính thống. Xu thế biến Mẫu thành Tôn giáo chính thống như hiện
nay của một số cá nhân là việc làm trái qui luật, không đúng với tiến trình phát triển…"
[46, tr.53-54].
GS Đinh Gia Khánh cho rằng: “Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian,
một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát” [22, tr.8].
* Quan điểm thứ ba: Xem thờ Mẫu là tín ngưỡng, là tập tục truyền thống.
Theo TS Trương Sĩ Hùng thì: “ Trường hợp tục thờ Mẫu ở Việt Nam biểu hiện rất rõ,
phát triển đến mức gần như một tôn giáo của người Kinh” [22, tr.78].
Tác giả Mai Thanh Hải với quan niệm thờ Mẫu là tục lệ. Tác giả viết: “Tục thờ

Vậy có thể hiểu: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt nguồn từ tín
ngưỡng thờ nữ thần(nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu),là một bộ phận của ý thức
xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, để tôn vinh những người phụ nữ có công với
nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội
làm Thánh mẫu, Vương mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ
của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần.
1.1.2. Nguồn gốc hình thành và các loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng
Bắc bộ
1.1.2.1. Nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ
Tôn giáo, tín ngưỡng nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng cũng ra đời từ
nguồn gốc kinh tế-xã hội, nhận thức và tâm lý tình cảm.
Theo quan điểm Mác-xít thì tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng lịch sử xã hội,
là một bộ phận của ý thức xã hội. Cho nên, nó có quy luật hình thành, tồn tại và phát triển
riêng, được nảy sinh trên cơ sở kinh tế-xã hội nhất định, chịu sự quy định của tồn tại xã
hội.
Chúng ta đã biết cho đến thời trung kỳ đồ đá cũ mới bắt đầu xuất hiện nghi lễ mai
táng người chết của người Neandectan và lúc này mầm mống của tôn giáo cũng xuất hiện
và nó chỉ xuất hiện khi con người bắt đầu biết quan sát. Thời kỳ này, ý thức về tổ tiên là
một yếu tố của ý thức công xã nguyên thủy, phản ánh sự bất lực của con người trước sức
mạnh của tự nhiên. “Từ đó nảy sinh ra hàng loạt các hình thái đặc biệt của tôn giáo nguyên
thủy như sùng bái tự nhiên, ma thuật, chủ nghĩa tô tem” [4, tr.8].
Trong xã hội nguyên thủy, con người cũng biết tạc tượng bằng nhiều chất liệu khác
nhau như sừng, ngà voi… chủ đề của tượng cũng rất đa dạng từ những con vật thân thuộc
hàng ngày đến con người và “đặc biệt là tượng phụ nữ-tượng trưng cho sự bảo tồn và phát
triển của thị tộc và của giống nòi” [4, tr.10].
ở một giai đoạn lịch sử nhất định, sự nhận thức của con người về thế giới khách
quan là có giới hạn. Song ở thời kỳ lịch sử cụ thể thì khoảng cách giữa “biết” và “chưa

là phi lý, song lại có lý vì nó bắt nguồn từ ước muốn mang tính bản năng của con người.
Con người có nhu cầu là được tâm sự, giải tỏa những bức xúc trong đời sống tinh
thần và luôn có nhu cầu vươn tới một cuộc sống tốt đẹp. Vì thế, họ cần rất nhiều thứ ngoài
vật chất, lý trí, đạo lý truyền thống…đó là sự thiêng liêng, “bù đắp hư ảo”. Điều đó chỉ có
ở tín ngưỡng, tôn giáo.
Chúng ta phải nghiên cứu đến một khía cạnh tâm lý khác của con người đó là lòng
biết ơn đến công sinh thành, sự kính trọng, tình yêu thương… đó chính là điều mà chế độ
mẫu hệ tồn tại dai dẳng trong đời sống các dân tộc, hay bắt nguồn từ hình tượng tôn thờ
giới nữ, phản ánh vai trò của người mẹ, người mẹ là biểu tượng cho sự bảo tồn sinh sôi
giống nòi.
Trên đây là một số nguyên nhân để dẫn đến sự ra đời của một hình thức tín ngưỡng
nói chung, còn tín ngưỡng thờ Mẫu ở đồng bằng Bắc bộ thì ra đời trong một hoàn cảnh,
điều kiện mang đặc thù riêng.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa và: “ có thể là tín
ngưỡng sớm nhất của con người Việt trước khi du nhập tam giáo Phật, Nho và Đạo” [15,
tr.145].
Cho tới nay, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta chưa biết chính xác có từ khi nào,
nhưng có ý kiến cho rằng: “ Người ta tin mẹ thần linh này đã xuất hiện từ buổi hồng hoang
hay ít nhất là từ lúc người Việt khai thác đồng bằng Bắc bộ [40, tr.100].
Có thể nhận định tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt xuất hiện vào khoảng thế kỷ
thứ III hoặc thứ II trước công nguyên. Bởi vì Phật giáo là tôn giáo nước ngoài đưa vào
Việt Nam sớm nhất, có tác giả đã viết: “có tài liệu nói đạo Phật vào ta khoảng thế kỷ thứ
III trước công nguyên, dưới thời vua A-Dục” [14, tr.141].
Ngoài ra, theo TS. Trần Đăng Sinh thì: “Đến thế kỷ thứ III, II trước công nguyên
đỉnh tam giác châu thổ sông Hồng (vùng Đông Anh- Hà Nội và Từ Sơn - Bắc Ninh) đã là
địa bàn chung sống của người Âu Việt và Lạc Việt ” [36, tr.63].
Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời ở Việt Nam còn xuất phát từ nền văn minh nông

ngành nghề.
đồng bằng Bắc bộ là một trong những vùng văn hóa độc đáo và đặc sắc trong sự
phong phú và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Nó được kiến tạo bởi hệ thống sông
Hồng và sông Thái Bình bao gồm phần bằng, phần trũng của các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải
Dương, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc
Giang, Quảng Ninh và Vĩnh phúc.
Người Việt xưa kia sống nhờ vào thiên nhiên rất nhiều, nhưng cũng phải chống
chọi nhiều với thiên nhiên. Do đó, con người luôn cầu mong sự phù hộ, giúp đỡ của các
“Mẹ” thiên nhiên và các Mẫu có nguồn gốc nhiên thần cũng lần lượt ra đời.
Với Mẫu Thoải (mẹ của lực lượng sáng tạo ra mọi sông nước) có rất nhiều dị bản
huyền tích về Mẫu Thoải khác nhau. Nhưng tựu chung đó là “Mẫu” trị vì sông nước, xuất
thân từ dòng dõi Long Vương - Thần Long.
Các huyền thoại, sự tích về Mẫu Thoải đến nay chưa được rõ ràng vì mỗi nơi hiểu
theo một cách. Tuy nhiên, lại có những điểm chung cơ bản. Mẫu Thoải có nguồn gốc thủy
thần, ít nhiều gắn với Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương, Kinh Xuyên là những nhân vật
nửa huyền thoại, nửa lịch sử là thủy tổ tộc người Việt chúng ta. Hiện nay, tại Tuyên Quang
người dân đã: “Suy tôn bà là Mẫu Thoải (Mẹ nước), lập đền thờ ở Tuyên Quang gọi là đền
Giùm, nay thuộc Yên Sơn, trên hữu ngạn sông Lô” [35, tr.122].
Mẫu Thượng Ngàn cũng có nhiều dị bản và truyền thuyết khác nhau, nhưng tựu
chung lại thì Mẫu Thượng Ngàn là con hay cháu Vua Hùng và đã được hiển thánh làm vị
thần bảo hộ cho núi rừng, bản làng. Mẫu Thượng Ngàn là hóa thân của Thánh Mẫu trông
coi miền rừng núi, địa bàn chính sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, đền thờ Mẫu
Thượng Ngàn có ở khắp nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính là suối Mỡ (Bắc Giang) và
Bắc Lệ (Lạng Sơn).
Như vậy, các Mẫu được nhập vào một số nhân vật ít nhiều gắn bó với các nhân vật
nửa lịch sử, nửa huyền thoại của lịch sử dân tộc buổi đầu dựng nước và giữ nước, để các
Mẫu có tiểu sử. Mẫu Thượng Thiên-cai quản lực lượng sáng tạo ra miền trời, chủ của mọi

Đăng Duy cho rằng: “Những ngôi đền, miếu thờ mẫu này thường ở ngã ba sông hoặc dọc
ven sông, trên con đường di chuyển dần xuống trung du đồng bằng” [7, tr.133].
Mẫu Địa ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay, có những quan điểm và cách giải thích khác
nhau. Nhưng theo quan niệm trong dân gian, quan điểm của một số nhà nghiên cứu và tác
giả luận văn thì: Mẫu Địa - Mẫu Đệ tứ, “do quyền năng của Mẫu địa cực kỳ to lớn bao
trùm, bàng bạc khắp tất cả núi rừng sông biển, nên sự tồn tại của cõi Thượng Ngàn, Thủy
Phủ thì đã hàm chứa luôn cả phủ địa” [46, tr.111].
Mẫu Địa có những quyền năng to lớn. Đất là nguồn sinh nở bất tận, nó gắn liền với
nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đối với con người từ xa xưa cho đến tận ngày nay,
đất sản xuất ra các hình thái sinh sống và cũng chính đất là nơi gửi người chết vào khi an
nghỉ …Chính vì thế Mẫu Địa đương nhiên tồn tại trong vũ trụ.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh thường được đồng nhất với Mẫu địa- địa Tiên Thánh Mẫu vì
cốt lõi ban đầu, những yếu tố cơ bản của địa Tiên Thánh Mẫu là người trần lấy vợ tiên.
Trong tâm thức người dân Việt Nam, Mẫu Liễu Hạnh là:
“Mẫu Thượng Thiên” - Mẹ ở trên trời giáng xuống,
“ Mẫu nghi thiên hạ” - Mẹ của muôn dân,
“Tứ bất tử” trong tín ngưỡng dân gian (Mẫu Liễu Hạnh, Phù Đổng Thiên Vương,
Chử Đổng Tử và Thánh Tản Viên).
Khi Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện, không rõ từ khi nào đã trở thành một vị thần chủ đạo
của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ. “Phủ” trong tín ngưỡng thờ Mẫu mang ý nghĩa rộng và
bao quát, nó ứng với các miền khác nhau trong vũ trụ. Tuy là ra đời sau nhưng Mẫu Liễu
Hạnh lại thường được đặt vào vị trí trang trọng nhất trên ban thờ Mẫu Tứ phủ.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện đã có nhiều truyền thuyết khác nhau, bà có thể vừa
là Thiên thần (Tiên) vừa là Nhân thần đối với đời sống trần gian, với cha mẹ, chồng con,
chu du khắp nơi, trừ ác, ban lộc…Mẫu Liễu Hạnh có thể biến thành Mẫu Thiên, có lúc lại
đồng nhất với Mẫu Địa và Mẫu Thoải.
Có nhiều truyền thuyết khác nhau về Mẫu Liễu Hạnh nhưng đa phần cho rằng: Mẫu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status