HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
DẪN NHẬP 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1. Một số khái niệm liên quan 6
1.1.1. Khái niệm văn hóa 6
1.1.2. Khái niệm tín ngưỡng 7
1.1.3. Khái niệm văn hóa tín ngưỡng 9
1.2. Khái quát về văn hóa Châu Á 10
1.3. Tính chất nông nghiệp – nông thôn trong văn hóa Châu Á 12
1.4. Đạo Mẫu - nguồn gốc nghi lễ hầu đồng ở Việt Nam 14
2.1.1. Hầu đồng là gì? 19
2.1.2. Quá trình phát triển của hiện tượng nghi lễ lên đồng 21
2.2. Tính chất nông nghiệp – nông thôn qua những nhân tố đặc trưng trong
nghi lễ hầu đồng 22
2.2.1. Ông đồng, Bà đồng 23
2.2.2. Hát văn 26
2.2.3. Lễ vật 30
2.3. Vì đâu con người tìm đến nghi lễ hầu đồng? 36
CHƯƠNG 3. XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI CỦA HIỆN TƯỢNG NGHI LỄ HẦU
ĐỒNG TRONG VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM 41
bước chân vào môi trường đại học cũng từng rất e dè, “sợ” những gì có liên quan
đến việc lên đồng hay còn gọi là hầu đồng, hầu bóng. Sau một thời gian sinh sống
và học tập tại thành phố Huế, trước sự chứng kiến không ít người quen tìm đến
nghi lễ hầu đồng không phải vì mê tín hay bị dụ dỗ mà như một sự giải tỏa tâm trí,
để lạc quan, tin tưởng hơn vào cuộc sống, vào tương lai tốt đẹp trước mắt, để cầu
an, cầu cuộc sống ấm no hạnh phúc. Hầu hết họ đều bộc bạch: “thần thánh rất
thiêng, thấu hiểu mọi tâm tư nguyện vọng của con người”. Bản thân học viên giờ
đây cũng thống nhất với quan điểm rằng, nếu tìm hiểu, nghiên cứu về bản sắc nông
nghiệp – nông thôn của bất kì một nền văn hóa nào mà bỏ qua các loại hình văn
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
2
hóa tín ngưỡng dân gian là một thiếu sót lớn. Và tất nhiên, việc xem xét, nghiên
cứu văn hóa tín ngưỡng dân gian mà không đứng trên góc độ tâm linh thì sẽ chẳng
bao giờ thấu hiểu trọn vẹn. Hơn nữa, ngay chính đời sống tâm linh cũng đã là một
khía cạnh của đời sống văn hóa tinh thần nhân loại thì không lẽ gì chúng ta đang
có trong tay một tài sản vô giá như nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng thờ Mẫu lại
thờ ơ, hờ hững để nó lụi tàn dần.
Cho đến nay, những bí ẩn chất chứa trong nghi lễ hầu đồng vẫn chưa một
ngành khoa học nào lý giải được. sức mạnh tiềm tàng đã giúp nghi lễ hầu đồng
cùng với tín ngưỡng thờ mẫu tồn tại, phát triển như bây giờ quả là một điều kì diệu.
mặc dù đã thay đổi quan điểm với hiện tượng hầu đồng nhưng đứng trước một sản
phẩm văn hóa tín ngưỡng dân gian đang được đệ trình lên unesco công nhận di sản
văn hóa phi vật thì việc chỉ biết về nó thôi là quá giới hạn, nhất là khi bản thân
nghi lễ hầu đồng này mang đậm tính chất dân gian, truyền thống, gắn với bản sắc
nông nghiệp nông thôn vốn là nét văn hóa đặc trưng của người việt nói riêng và
châu á nói chung. đó là lý do vì sao học viên chọn đề tài “Bước đầu khám phá tính
và Phạm Văn Giao với công trình giới thiệu các nơi thờ tự tiêu biểu trong nước và
lễ thức hầu bóng trong tục thờ Mẫu
2
…
Rất nhiều các hội thảo khoa học về tục thờ Mẫu cũng đã được Trung tâm
nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng (thuộc Liên hiệp các hội UNESCO Việt
Nam) phối hợp với các địa phương tổ chức trong những năm gần đây như: Năm
2009, “Lễ hội đền Cờn và tục thờ tứ vị nương nương” ở Nghệ An, hội thảo “Phủ
Quảng cung Vỉ Nhuế trong tục thờ Mẫu Việt Nam” ở Nam Định; Năm 2010, hội
thảo “Quốc Mẫu Tây Thiên trong tục thờ Mẫu Việt Nam” ở Vĩnh Phúc.
Ngoài ra, những khía cạnh trong tín ngưỡng thờ mẫu cũng đang trở thành
đề tài được nhiều học viên, nghiên cứu sinh trong và ngoài nước quan tâm dành
thời gian nghiên cứu.
Nhìn chung, công tác nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu và các khía cạnh
liên quan đến nghi lễ hầu đồng đang ngày một khởi sắc, góp phần trong việc làm
rõ những nét văn hóa đặc sắc của đạo Mẫu trong xã hội đang ngày một hiện đại và
“Tây hóa”. Tuy nhiên, hầu hết các đề tài trước đó đều tập trung nghiên cứu về Đạo
Mẫu hoặc đi xa hơn là khai thác vào tính huyền bí của nghi lễ hầu đồng… mà chưa 1
Bùi Văn Tam, 2007, Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh, Nxb Văn hóa dân tộc.
2
Hồ Văn Thọ- Phạm Văn Giao, 2010, Hầu bóng lễ thức dân gian trong thờ Mẫu- thần Tứ phủ ở miền Bắc,
Nxb Thanh niên.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
4
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
5
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu góp phần gìn giữ và quảng bá những giá trị
dân gian Việt Nam, những giá trị mang tính thuần Việt được thể hiện qua một loại
hình văn hóa tín ngưỡng dân gian đó là tín ngưỡng Thờ Mẫu (trường hợp nghiên
cứu nghi lễ hầu đồng), trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trước sức ảnh hưởng mạnh
mẽ của các nền văn hóa, loại hình văn hóa hiện đại bên ngoài như hiện nay.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm khá rộng và đa nghĩa. Hiện tại, có rất nhiều khái niệm
về văn hóa nhưng thật khó để có thể thống nhất đâu là khái niệm xuyên suốt và bao quát
nhất. Bởi việc đưa ra khái niệm văn hóa là tùy thuộc vào mục đích và lĩnh vực nghiên
cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Do đó khi đề cập đến khái niệm văn hóa,
chúng ta chỉ có thể dựa trên đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình mà lựa chọn
một khái niệm gần nhất, thích hợp nhất mà thôi.
Theo E.B. Tylor (1871), “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người
học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và
một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành
viên của xã hội”
3
7
Tuy nhiên trong phạm vi bài tiểu luận này, với những nội dung và phạm vi nhất
định, tôi lựa chọn khái niệm văn hóa của UNESSCO đưa ra năm 1994 làm tiền đề cơ
sở lý luận. Theo UNESCO, văn hóa theo nghĩa rộng là “một phức hệ- tổng hợp các đặc
trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của
một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ
bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con
người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”
6
. Theo cách hiểu này,
văn hóa trở nên gần gũi với cuộc sống con người nhất là con người từ những xóm làng,
vùng quê - những nơi vốn là cội nguồn của các phong tục tập quán làm nên văn hóa
truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
1.1.2. Khái niệm tín ngưỡng
Tín ngưỡng có nhiều quan niệm, nhiều cách nhìn nhận vấn đề khác nhau. Và hẳn
có rất nhiều người khi nhắc đến tín ngưỡng sẽ nghĩ ngay đến tôn giáo, cho rằng chúng
là một bởi những khía cạnh tương đối gần gũi nhau của chúng. Tuy nhiên, đây thực chất
là hai khái niệm không thể đánh đồng. Bản thân một tôn giáo cần phải hội tụ đủ các yếu
tố như: Một hệ thống giáo lí; Một vị giáo chủ đứng đầu (Chúa Trời, đức Phật Thích Ca,
Lão Tử…); Một hệ thống thể chế, nghi lễ thờ tự và nơi thờ tự; Một hệ thống tổ chức
gồm giáo luật nghiêm chỉnh, giáo hội với các tín đồ
7
. Còn tín ngưỡng, trong một cách
hiểu đơn giản nhất, đó là, dưới sự ảnh hưởng của một đối tượng hay thế lực siêu nhiên
nào đó, con người đặt niềm tin, sự ngưỡng mộ của mình vào đó và đồng thời đời sống
tinh thần của con người cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ niềm tin và đấng siêu nhiên ấy.
Đặc biệt, tín ngưỡng dân gian luôn xuất phát và gắn liền với đời sống lao động, đời sống
sinh hoạt của người dân. Chính vì lẽ đó mà tín ngưỡng xuất hiện khá nhiều trong văn
hóa của các quốc gia phương Đông với đời sống sản xuất nông nghiệp và tính chất sùng
theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường… tín ngưỡng
trở thành tôn giáo”
10
. Như vậy, tín ngưỡng cũng sẽ thuộc vào tôn giáo và ở mức độ
thấp hơn so với tôn giáo.
Với những đặc thù riêng theo từng không gian văn hóa, chủ thể văn hóa và thời
gian văn hóa khác nhau, tín ngưỡng chính là một hiện tượng văn hóa mang tính lịch sử,
một phạm trù lịch sử. Trong đó, “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào
cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào
“cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có
nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây, niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”.
Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản
tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã
hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ”
11
.
Trong hệ thống tín ngưỡng tôn giáo ở Châu Á, nổi bật lên kho tàng tín ngưỡng
dân gian vô cùng phong phú và đặc sắc. Các tín ngưỡng thờ đa thần, thờ cúng các đáng 8
Nguyễn Như Ý (chủ biên), 2004, Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, tr.1646.
9
Đào Duy Anh, 1957, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thuận Hóa - Huế, tr.283.
10
Trần Ngọc Thêm, 1998, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr.262.
11
Ngô Đức Thịnh (chủ biên), 2001, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, tr.16.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
hiện văn hóa khác. Ông nhận định: “Văn hoá tín ngưỡng chính là sự gắn kết từ một hình 12
Nguyễn Thị Bích Hà, Tín ngưỡng và giải mã tín ngưỡng trong văn học dân gian người Việt, Trường ĐHSPHN
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
10
thức tín ngưỡng nào đó, rồi tích hợp các giá trị văn hoá khác như: di tích, lễ hội, truyền
thuyết, diễn xướng nghệ thuật… có liên quan”
13
.
Trong từng môi trường tự nhiên và xã hội, văn hóa tín ngưỡng thể hiện qua những
phương cách ứng xử gắn liền với các giá trị của đời sống vật chất và tinh thần theo cách
mà con người quan hệ với thế giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội. Như vậy, văn
hóa tín ngưỡng sẽ được tiếp cận từ những giá trị văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể
thông qua các cơ sở thờ tự, nghi thức thờ cúng, các giai thoại dân gian, địa danh và lễ
hội có liên quan đến các hình thái tín ngưỡng của người Việt: tín ngưỡng sùng bái tự
nhiên; tín ngưỡng sùng bái con người; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Mẫu của
người Việt…
14
1.2. Khái quát về văn hóa Châu Á
Châu Á là nơi có điều kiện tự nhiên hết sức đa dạng và phong phú, được gắn liền
với truyền thống văn hóa phương Đông nói chung khi hình thành nên các nền văn minh
lớn của nhân loại như: Trung Hoa, Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập… và các tôn giáo Phật
của xã hội, nhà nước từ đó ra đời. Nếu như có đánh giá “Phương Đông bước vào xã hội
chiếm hữu nô lệ - xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử phát triển của nhân loại”
15
thì
các quốc gia Châu Á là những điển hình chiếm số đông trong đó.
Về văn hóa, cũng như trong khái niệm phương Đông, Châu Á được chia làm sáu
khu vực văn hóa, tuy nhiên, ở phương Đông bao gồm thêm cả phần Bắc Phi. Sáu khu
vực văn hóa Châu Á được phân chia dựa trên lãnh thổ địa lý bởi lẽ rất khó để có thể
phân định rạch ròi các vùng văn hóa với nhau khi bản thân chúng luôn có sự tác động,
ảnh hưởng và giao lưu lẫn nhau. Do đó, lựa chọn phân chia theo khu vực lãnh thổ là
cách dễ phân biệt và hình dung nhất về các vùng miền văn hóa, cho dù vậy, nó vẫn
mang một ý nghĩa tương đối mà thôi. Các khu vực văn hóa Châu Á theo cách phân chia
này sẽ bao gồm: Đông Nam Á, Đông Bắc Á, Nam Á, Bắc Á, và Tây Á.
Nhìn chung, những đặc điểm đa dạng của điều kiện tự nhiên, lịch sử và truyền
thống của các quốc gia Châu Á đã tạo nên một văn hóa Châu Á hết sức phong phú và
rộng lớn cả về quy mô lẫn tính chất. Bởi cái chung được gọi là “văn hóa Châu Á” chính
là được tạo ra trên tổng thể những thành phần văn hóa của từng quốc gia, từng khu vực
trong đó. Những giá trị đặc sắc riêng của từng quốc gia từng khu vực này khiến nền văn
hóa Châu Á vừa có chiều sâu lại có cả chiều rộng mà không dễ gì khái quát được. Để
có thể đưa ra những đặc điểm chung nổi bật cho nền văn hóa Châu Á, các nhà văn hóa
học, khu vực học, ngôn ngữ học … đã không ngừng nghiên cứu và đưa ra những nhận
định riêng của mình. Một cách tổng quan, những nhận định được xem là hợp lý nhất
bước đầu được đưa ra trong tên gọi chung là văn hóa truyền thống phương Đông bao
gồm những đặc điểm như: Tính nông nghiệp – nông thôn; Tính “chủ toàn” và tổng hợp; 15
Mai Ngọc Chừ, 2009, Văn hóa và Ngôn ngữ phương Đông, Nxb Phương Đông, trang 12.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
đồng với nhau để đắp đê điều, cầu cống trị thủy… Thêm vào đó, Châu Á cùng với
phương Đông bước vào thời đại kim khí khá sớm, công cụ lao động bằng kim loại là
bước tiến triển nhảy vọt của xã hội loài người đặc biệt là trong lao động sản xuất. Sự
phát triển của công cụ lao động giúp cư dân có thể sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt với 16
Mai Ngọc Chừ, 2009, Sđd, trang 30-36.
17
Mai Ngọc Chừ, 2009, Sđd, trang 30.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
13
quy mô lớn hơn, năng suất cao hơn. Do đó, nông nghiệp càng trở lĩnh vực thành then
chốt trong đời sốn cư dân Châu Á và nông thôn là hình thức tổ chức không thể thiếu.
Tính chất nông nghiệp – nông thôn của văn hóa Châu Á được thể hiện trên rất
nhiều phương diện, không chỉ đơn thuần trong nền tảng hình thành và điều kiện lịch sử
tự nhiên của các quốc gia ở đây mà trong đời sống sinh hoạt hằng ngày (ăn, ở, mặc, đi
lại ), tính chất nông nghiệp – nông thôn càng thể hiện rõ. Trước hết, nguồn lượng thực
- thực phẩm của người dân Châu Á chủ yếu là lúa gạo, các nông sản, ngũ cốc do nền
sản xuất nông nghiệp mang lại. Các thực phẩm khác cũng mang tính tự cung tự cấp của
sản xuất nông nghiệp như thịt gia cầm, rau xanh, các gia vị… Về cách ăn mặc, người
Châu Á cũng ăn mặc phù hợp với hoạt động sản xuất nông nghiệp của mình. Mặc ấm
về mùa đông, mát mẻ vào mùa hè, trang phục gọn gàng, tiện lợi. Nhà ở nhỏ gọn, thích
hợp với địa hình và khí hậu từng vùng miền (nhà sàn, nhà hầm, nhà vòm…). Phương
tiện đi lại chủ yếu là tàu thuyền thích hợp với đặc điểm sông nước.
Một khía cạnh không thể không nhắc tới khi nói về tính chất nông nghiệp nông
giáo như một nguồn gốc của lên đồng. Nhưng đối với nghi lễ lên đồng trong văn hóa
tín ngưỡng dân gian Việt Nam, liệu đó có phải bắt nguồn từ Saman giáo hay không vẫn
đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên trong một giới hạn nhất định
là hình thức nghi lễ xuất hiện trong Đạo Mẫu, bài viết này chỉ dừng lại ở việc khái quát
nguồn gốc trực tiếp, nơi nghi lễ hầu đồng được hình thành ở Việt Nam, đó chính là Đạo
Mẫu.
Trong kho tàng văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam, đạo Mẫu hay còn gọi là
tục thờ Mẫu hay tín ngưỡng thờ Mẫu hoàn toàn có nguồn gốc bản địa, gắn với lịch sử
văn hóa và xã hội Việt Nam, đặc biệt là gắn với đời sống văn hóa tinh thần của người
nông dân trong những năm tháng bị áp bức, bốc lột. Đạo Mẫu xuất phát từ khu vực các
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, là tín ngưỡng đã từng tồn tại trong suốt thời gian dài của chế
độ phong kiến, nhất là giai đoạn thế kỷ XV – XIX, trải qua không ít thăng trầm, hiện
nay, đạo Mẫu đang có chiều hướng phát triển và những sản phẩm hình thành từ nó dần
phổ biến trên khắp mọi miền đất nước Việt Nam. Một trong số những sản phẩm đó là
nghi lễ hầu đồng đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trong xã hội, ở cả đồng bằng, đô
thị và miền núi, tạo nên nét văn hóa tín ngưỡng dân gian đặc sắc trong bức tranh tôn
giáo tín ngưỡng chung vốn hết sức đa dạng và phong phú của Việt Nam. GS.TS Ngô
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
15
Đức Thịnh, người có công lao rất lớn trong việc nghiên cứu, gìn giữ và đưa Đạo Mẫu
cùng với nghi lễ hầu đồng vượt qua những thăng trầm để trở thành một trong những di
sản văn hóa phi vật thể của đất nước đã khẳng định rằng, Đạo Mẫu gắn bó với cộng
đồng
18
. Như vậy, tính gắn bó với cộng đồng của tín ngưỡng này thể hiện ở đâu?
Sở dĩ các nhà nghiên cứu về Đạo Mẫu đều thừa nhận đây là tín ngưỡng có nguồn
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
16
quan trọng, chi phối đến mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt của người dân. Tôn thờ các
đấng siêu nhiên, đấng sáng tạo vũ trụ là cách con người cầu mưa thuận gió hòa, thiên
nhiên ưu đãi để có những mùa màng bội thu, cơm no, áo ấm…
- Hướng đến cuộc sống ấm no cho con người ở hiện tại với ba ước nguyện Phúc
– Lộc – Thọ vốn đã là đích hướng đến muôn đời của con người nói chung
20
: Điều này
càng không thể phủ nhận khi bản thân tín ngưỡng Thờ Mẫu có đích hướng đến hoàn
toàn khác với các tôn giáo lớn có mặt tại Việt Nam. Cũng giống như bản tính chân chất,
thật thà của người nông dân, tín ngưỡng Thờ Mẫu thể hiện ước nguyện rất gần, rất thật
với cuộc sống đang hằng ngày diễn ra của người dân. Mong được hạnh phúc, được ban
phước lành, được sống khỏe mạnh để lao động, cống hiến…
- Đề cao tinh thần dân tộc, hướng về cội nguồn lịch sử và tôn vinh truyền thống
yêu nước. Đặc trưng này thể hiện rõ trong đối tượng thờ cúng cũng như nghi lễ lên đồng
của Đạo Mẫu, với rất nhiều các nhân vật anh hùng lịch sử ghi lại dấu tích một thời vẻ
vang của dân tộc Việt Nam như Thánh Gióng, Hưng Đạo Vương, Hai Bà Trưng… Tôn
thờ các vị thần này như một cách để đưa lịch sử đến với cuộc sống con người ở hiện tại,
để gắn liền cuộc sống bình yên với lịch sử dân tộc - điều không thể và không được phép
quên. Trong nghi lễ hầu đồng, một khi đồng cô, đồng cậu nhập vai các vị anh hùng lịch
sử thì từ lễ vật, trang phục, giọng hát, điệu múa, đến bài diễn văn đều thể hiện rất đậm
nét sự tôn vinh, lòng tự hào dân tộc, và khí phách anh hùng của nhân vật ấy.
- Tôn vinh hình ảnh người mẹ, người phụ nữ Việt Nam: Minh chứng rõ ràng nhất
là việc đã có nguyên một lớp tín ngưỡng thờ Mẫu thần để tôn vinh người mẹ, người phụ
nữ Việt Nam. Những con người đã có công rất lớn trong việc sản sinh và nuôi dưỡng
nên những thế hệ người Việt Nam tài đức, những con người vốn thầm lặng hi sinh cho
Việt Nam tảo tần, chung thủy, yêu chồng thương con, hiếu thuận với cha mẹ…
Trong quá trình hình thành và biến đổi, tục thờ Mẫu của người Việt đã tích hợp
được những giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn bản
sắc văn hóa của người Việt Nam nói chung
21
. Từ tín ngưỡng dân gian thờ Mẫu này đã
cho ra đời không biết bao nhiêu là sản phẩm văn hóa khác góp phần trong việc bảo tồn
và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Những điện thờ, đền
phủ với kiến trúc, điêu khắc đặc sắc đạt giá trị thẩm mỹ cao. Cách trang trí, bày biện
trong điện cũng được xem là đạt đến giá trị nghệ thuật về tính lôgic, khoa học và phản
ánh đậm nét thế giới quan của đời sống tâm linh, tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Điều đặc biệt nhất khi nhắc đến tín ngưỡng Thờ Mẫu là nghi lễ hầu đồng, một
nghi lễ đang và sẽ được xem là tinh hoa văn hóa dân gian của người Việt. Đây không 21
Nguyễn Thị Yên, 2012, Bảo tồn và phát huy văn hóa thờ mẫu của người Việt, số tháng 8, Tạp chí văn hóa Nghệ
An.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong
nghi lễ hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
18
chỉ đơn thuần là nghi lễ trong một tín ngưỡng tôn giáo chỉ nhằm giải tỏa những khát
khao, ước nguyện của con người mà còn là cả một kho tàng nghệ thuật với âm nhạc,
cách biểu diễn, nghệ thuật bày trí và tất nhiên không thể bỏ qua nghệ thuật hát văn, diễn
xướng. Tất cả chúng tạo nên một sự đặc sắc đầy huyền bí mà chỉ trong nghi lễ hầu đồng
của tín ngưỡng thờ Mẫu mới có được. Nếu như trước đây cuộc sống nông nghiệp còn
nhiều khó khăn, người dân của những vùng quê nghèo khó tìm đến Đạo Mẫu để giải tỏa
ông đồng, bà đồng. Người ta tin rằng các vị thần linh (và có thể là hồn ma) có thể nhập
vào một người trong điều kiện nào đó, dân gian gọi là có căn, có số và trong một hoàn
cảnh nào đó, có thể là một buổi lễ, một khóa đồng Thần linh qua người lên đồng có thể
phán truyền, trừ tà ma, ban tài lộc, chữa bệnh v.v cho những người dự lễ (dự đồng).
22
22
Trần Việt, 03/12/2011, Lên đồng, di sản văn hóa hay mê tín dị đoan? (1), Báo An ninh thủ đô, HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong nghi lễ
hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
20
Hầu đồng là nghi thức đặc trưng của Đạo Mẫu, là hoạt động sinh hoạt văn hóa tâm
linh tiêu biểu trong kho tàng văn hóa tín ngưỡng dân gian Việt Nam còn lưu giữ và phát
triển cho đến hôm nay. Hầu đồng với các phương tiện hỗ trợ trở thành một phương thức
giúp con người giao tiếp với đấng thần linh và tất nhiên là chỉ những người có cơ duyên
mới có thể nhập đồng.
Nghi lễ chầu văn, hay còn gọi là hầu đồng, hiểu một cách đơn giản là hình thức
diễn xướng dựa trên cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với các lời ca trau chuốt,
cùng các nghi lễ nghiêm trang và hình thức múa để con người có thể giao tiếp với thần
linh. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng, hình thức lên đồng có thể giúp con người giao
tiếp được với các đấng thần linh thông qua các ông đồng hay bà đồng.
23
của cộng đồng hơn và thu hút không ít người nghiên cứu tìm hiểu.
2.1.2. Quá trình phát triển của hiện tượng nghi lễ lên đồng
Nguồn gốc sâu xa của nghi lễ lên đồng trên thế giới là bắt nguồn từ Saman giáo với
những quan niệm về bệnh tật là do thần linh quấy nhiễu. Nếu thần linh được vui sẽ không
quấy nhiễu, bắt bẻ con người, do đó hiện tượng nhảy múa, hầu đồng, hầu bóng xuất hiện.
Ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện khá sớm và là tín ngưỡng mang đậm bản chất
văn hóa bản địa như đã trình bày ở trên. Hiện tượng lên đồng với tư cách là nghi lễ tồn tại
trong tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ hội tụ đủ những yếu tố văn hóa dân gian bản địa của “bà mẹ”
sản sinh ra nó. Nhiều cuộc hội thảo khoa học gần đây đã khẳng định “đây là một hoạt động
văn hóa, tín ngưỡng thuần Việt, xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẹ”
25
. Kể từ thời điểm ra đời
Đạo Mẫu và xuất hiện nghi lễ hầu đồng, từ khoảng thế kỷ XV, nghi lễ hầu đồng khá phổ
biến và thịnh hành, nhất là trong thời kỳ phong kiến (thế kỷ XV-XIX).
Căn cứ trên thời gian xuất hiện, không thể nói hiện tượng lên đồng là “mới”, nhưng
trên thực tế, cho dù đã xuất hiện khá lâu, đã từng được rất nhiều người ưa chuộng, cho đến
nay, mấy ai nghe đến hai chữ “hầu đồng” mà hiểu nó là gì, cụ thể như thế nào và có lý giải
hết những gì đang xảy ra trong đó hay không. Ngay đến các nhà nghiên cứu cũng đang trên
đường đi sâu tìm hiểu những bí ẩn trong nghi lễ tín ngưỡng này chứ chưa có một kết quả
cuối cùng nào giải nghĩa được trọn vẹn nghi lễ văn hóa tín ngưỡng dân gian này. Và như
thế, hầu đồng vẫn đang là một nét văn hóa hứa hẹn nhiều điều thú vị đối với khoa học, chắc
chắn đó sẽ là những điều “mới” và “lạ”.
Trước đó, khoảng thập niên 80 của thế kỷ XX, khi mà xã hội có những định kiến
đối với cái được gọi là mê tín dị đoan, nhà nước ta đã nghiêm cấm lên đồng vì cho rằng
đây là hoạt động mê tín, ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống con người cũng như tương lai 25
Thảo Vy, 01/02/2013, GS Ngô Đức Thịnh và đạo Mẫu, />ngo-duc-thinh-va-dao-mau.html
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
2.2. Tính chất nông nghiệp – nông thôn qua những nhân tố đặc trưng trong nghi
lễ hầu đồng 26
Lời của GS.TS. Ngô Đức Thịnh trên Báo Đồng Nai.
HVCH: Đinh Thi Lich - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh
Bước đầu khám phá tính chất nông nghiệp – nông thôn trong nghi lễ
hầu đồng của tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam
23
Để có thể giải mã hiện tượng hầu đồng và hiểu được tại sao nó được công nhận là
một nghi lễ văn hóa tín ngưỡng dân gian đặc sắc, cần có sự đi sâu phân tích từng điểm,
từng nhân tố góp phần tạo nên các buổi lễ hầu đồng. Đây có thể là việc làm khó khăn bởi
mọi chi tiết trong một nghi lễ dân gian đều mang những ý nghĩa nhất định không thể bỏ
qua. Trong nghi lễ hầu đồng cũng vậy, nếu đã từng được chứng kiến bất kì buổi hầu đồng
nào cũng có thể nhận thấy, có một sự cầu kỳ nhưng rất lôgic và quy chuẩn của nó. Người
viết chỉ bước đầu đề cập đến những nhân tố đặc trưng nổi bật nhất trong nghi lễ hầu đồng
thể hiện rõ tính nông nghiệp – nông thôn vốn là tính chất nổi trội của văn hóa tổng thể
Châu Á bao gồm: Đồng cô, đồng cậu; lễ vật hầu đồng; hát văn; và hành động phát lộc,
phán truyền của thần linh đối với người tham gia buổi hầu đồng.
2.2.1. Ông đồng, Bà đồng
Nguồn: />s/tintuc-1339.html
Nguồn: />vn/13/42945/chan-dung/gs-ngo-duc-
thinh-va-dao-mau.html
Ông đồng, Bà đồng hay còn gọi là Đồng cô, Đồng cậu là nhân vật không thể thiếu
trong các buỗi lễ hầu đồng bởi không phải ai cũng có thể đảm nhận được vai trò này mà
nhất định phải có cơ duyên.
các con nhang khéo tay, khéo mắt trong các khâu trang điểm, may mặc lễ phục cũng như
sắp xếp đồ cúng lễ, các Ông, Bà đồng trong linh hồn của Thánh trình diễn những màn hát
múa nghệ thuật, đối đáp, giao lưu với người dân đến tham dự buổi hầu đồng. Ở đây, tính
cộng đồng thể hiện rất cao, không như những tôn giáo khác, mỗi người tự mình đọc kinh,
cầu nguyện mà tất cả mọi người tham dự lễ hầu đồng đều có thể đối đáp giao lưu với thánh 27
Ngô Đức Thịnh, Đạo mẫu và lên đồng, Tạp chí Travellive,