Nghiên cứu chính sách của hungary đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình chuyển đổi kinh tế và vận dụng vào việt nam - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHÍNH SÁCH
CỦA HUNGARY ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN, NÔNG DÂN TRONG
QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ
VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM

(Báo cáo chính)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: GS.TSKH. LÊ DU PHONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

47
1.2.1. Những tác động tích cực
47
1.2.2 . Một số tác động tiêu cực
53
1.3. Những bài học kinh nghiệm có thể rút ra đối với Việt Nam
55
PHẦN THỨ HAI: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH
CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN,
NÔNG DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
57
2.1. Khái quát về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam và các
chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu vực này
57
2.1.1. Thời kỳ trước đổi mới (trước năm 1986)
57
2.1.2. Trong thời kỳ đổi mới
61

3

2.2. Tác động của các chính sách đối với sự phát triển của nông
nghiệp, nông thôn, nông dân trong thời kỳ đổi mới
74
2.2.1. Đối với sản xuất nông nghiệp
74
2.2.2. Đối với nông thôn
86
2.2.3. Đối với nông dân
90

103
3.1- Mục tiêu và thách thức chủ yếu đối với nông nghiệp, nông thôn
và nông dân nước ta đến năm 2020
103
3.1.1. Mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân nước ta
đến năm 2020
103

4
3.1.2. Những thách thức chủ yếu đối với nông nghiệp, nông thôn và nông
dân nước ta đến năm 2020
111
3.2. Định hướng hoàn thiện chính sách đối với nông nghiệp, nông
thôn và nông dân nước ta đến năm 2020 trên cơ sở vận dụng kinh
nghiệm của Hungary
114
3.2.1. Hướng hoàn thiện đối với chính sách đất đai
114
3.2.2. Hướng hoàn thiện đối với chính sách khoa học và công nghệ
123
3.2.3. Hướng hoàn thiện chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với nông
nghiệp, nông thôn và nông dân
128
3.2.4. Hướng hoàn thiện, sửa đổi vai trò của Nhà nước đối với nông
nghiệp, nông thôn, nông dân
132
3.3. Kết luận
135
3.4. Kiến nghị
137

6
PHẦN MỞ ĐẦU

I-TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hungary là một nước có nền nông nghiệp phát triển vào bậc nhất
trong các nước xã hội chủ nghĩa trước đây. Những sản phẩm nông nghiệp
của Hungary như: Ngô, thịt gà, gan ngỗng, cá chép, táo.v.v. không những
nổi tiếng ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn cả trên thế giới.
Đầu năm 1990, Hungary bắt đầu chuyển đổi mô hình kinh tế của
đất
nước từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường thực thụ.
Trong nông nghiệp, hệ thống nông trường quốc doanh và hợp tác xã
sản xuất nông nghiệp bị xoá bỏ. Chính phủ Hungary thực hiện chính sách tư
hữu hoá đối với ruộng đất và tư nhân hoá hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Không ít người đ
ã từng cho rằng, với chính sách ấy nền nông nghiệp
của Hungary sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng, kinh tế-xã hội của nông
thôn sẽ gặp khó khăn trong phát triển, thu nhập của nông dân sẽ giảm, đời
sống mọi mặt của họ sẽ không thể cải thiện được.
Tuy nhiên, thực tiễn 17 năm qua đã cho thấy không phải như vậy. Nền
nông nghiệp của Hungary ngày nay vẫn là nền nông nghiệp sả
n xuất tập
trung, qui mô lớn, với trình độ kỷ thuật và công nghệ cao, các sản phẩm do
nền nông nghiệp Hungary tạo ra, có đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm
nông nghiệp của các nước trong cộng đồng Châu Âu và thế giới. Bộ mặt của
nông thôn Hungary hiện đại hơn trước, thu nhập và đời sống của người nông
dân cũng cao hơn trước.
Để có được những thành quả đó, chắc chắ
n Chính phủ Hungary đã có

đổi kinh tế và vận dụng cho Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình.
II-M
ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1-Nghiên cứu một số chính sách của Hungary đối với nông nghiệp,
nông thôn, nông dân trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, đặc biệt là từ

8
khi Hungary gia nhập EU và WTO, trong đó quan trọng nhất là chính sách
đất đai, chính sách khoa học-công nghệ, chính sách hỗ trợ đối với nông
nghiệp, nông thôn, nông dân và vai trò của Nhà nước trong việc phát triển
khu vực rộng lớn này.Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể
vận dụng được cho Việt Nam.
2-Tiến hành khảo sát và nghiên cứu những chính sách tương ứng như
của Hungary tại Việt Nam hiện nay, đánh giá đúng những mặt tích cực c
ũng
như những mặt còn hạn chế của các chính sách đó đối với sự phát triển của
nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đặc biệt là khi chúng ta bước vào giai
đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập sâu
rông với quốc tế.
3-Từ kinh nghiệm của Hungary và thực tiễn của Việt nam, đề xuất với
Đảng và Nhà nước các giải pháp, các kiến nghị có cơ sở khoa họ
c, có tính
khả thi, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện hoặc xây dựng mới các chính sách có
liên quan thực sự có tác động tích cực đối với sự phát triển của nông nghiệp,
nông thôn và nông dân trong thời kỳ mới.
III-ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1-Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách đối với nông nghiệp,
nông thôn và nông dân, cụ thể là các chính sách sau:
-Chính sách đất đai.

học, các nhà quản lý để tăng thêm mức độ chính xác và khách quan.
2-Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết thành công các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đã đề
ra, ngoài việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế thông thường
như: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, thống kê, tổng hợp, phân tích và
so sánh.v.v chúng tôi đặc biệt chú trọng sử dụng các phương pháp sau đây:

10
a-Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế. Trọng tâm là khảo sát tác
động của chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân tại
Hungary và Việt Nam.Việc điều tra, khảo sát sẽ được tiến hành tại những
vùng, địa phương điển hình nhất cho nông nghiệp, nông thôn và nông dân
mỗi nước với một mức độ thích hợp, bảo đảm độ tin cậy.
b-Phương pháp chuyên gia. Sẽ tiến hành trao đổi với các nhà khoa
học, các nhà quả
n lý các cấp am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu để xin các ý
kiến tư vấn cần thiết.
c-Phương pháp kế thừa. Do điều kiện thời gian và kinh phí có hạn,
nên đề tài sẽ cố gắng tối đa trong việc khai thác, sử dụng các tài liệu, các
công trình nghiên cứu có liên quan ở cả hai nước Việt Nam và Hungary.
V-NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ngoài lời nói đầu,phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội
dung của đề
tài gồm 3 phần chính sau đây:
- PHẦN THỨ NHẤT: Chính sách của Hungary đối với nông nghiệp,
nông thôn, nông dân trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và những bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- PHẦN THỨ HAI: Thực trạng tác động của các chính sách của Đảng
và Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn nông dân Việt Nam hiện nay.
- PHẦN THỨ BA: Vận dụng kinh nghiệm của Hungary trong việc

Hungary có 10,75 triệu người, mật độ dân số trung bình trong năm 2006 là
108,5 người/km2. Dân cư của Hungary cũng khá thuần nhấ
t, chủ yếu là
người Hungary, tại một số địa phương, có một bộ phận dân Digan, và dân
người gốc Rumani cùng chung sống. Dân Digan thường sống co cụm với
nhau tại một số làng nhất định, và các gia đình của họ thường rất đông con
cái. Sau năm 1990, khi chế độ Xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ, có một số người
nước ngoài đã tìm mọi cách để định cư lạ
i Hungary để làm ăn , sinh sống.
Trong số này có hai cộng đồng tương đối lớn: Một là người Hoa, có khoảng
10.000 người, và hai là người Việt Nam, với khoảng 6.000 người.

12
Một đặc điểm rất đáng nói là trong gần 20 năm nay, dân số của
Hungary luôn có xu hướng giảm, vì thế ở quốc gia này số người già chiếm
tỷ lệ rất cao.Trong năm 2004, lứa tuổi từ 1-19 chỉ chiếm có 22,2% dân số
của cả nước và đang tiếp tục giảm, trong khi số người có độ tuổi từ 60 trở
lên chiếm tới 21% và đang có xu hướng tăng lên. Nguyên nhân của việc
giảm dân số, trước hết là do tỷ lệ sinh đẻ thấp, và số người chết thường
xuyên cao.Tại Hungary ngày nay, xu hướng mong muốn và nhận trách
nhiệm nuôi con đã bị thay đổi, do đó, đã từ lâu nhiều người không muốn có
con. Hai là, mô hình gia đình ở Hungary đang bị khủng hoảng, bởi vì thanh
niên không muốn kết hôn và tỷ lệ ly dị cao, số lượng các gia đình tan vỡ rất
lớn. Người dân Hungary nhìn chung hiền hậu, thân thiệ
n , cần cù, chăm chỉ
và cũng rất thông minh, luôn thích ứng với sự biến đổi của cuộc sống.
Hungary là một quốc gia có lịch sử phát triển khá lâu đời và cũng rất
oanh liệt, đặc biệt là thời kỳ chống quân xâm Lược Thổ Nhĩ Kỳ, mà tiều
biểu là cuộc chiến ở thành Êghe nổi tiếng.
Năm 1945, sau khi Hồng quân Liên Xô giải phóng nước Hung khỏi

Hungary âm thầm thực hiện từng bước từ những năm 60 của thế kỹ XX, và
nó thực sự mạnh mẽ vào cuối những năm 80 của thế kỹ này, nhất là sau khi
Liên xô và các nước Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Điều
đáng nói là,
việc chuyển đổi nền kinh tế ở Hungary diễn ra chủ yếu bằng con đường tư
nhân hoá và nó được tiến hành khá êm đềm, thuận lợi, chứ không ồn ào, xáo
trộn như nước Nga và một số nước Đông Âu. Mặc dù vậy, việc chuyển đổi
nền kinh tế của Hungary vẫn gặp phải những khó khăn khá lớn sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước Hungary lúc bấy giờ chưa có
được một bộ luật cơ
bản, có tính hợp hiến, qui định rõ ràng, chặt chẽ về quyền tư hữu của người
dân cũng như của các tổ chức kinh tế -xã hội đối với các loại tài sản, đặc biệt
là đất đai, bất động sản. Do đó chưa có cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm
cho việc thực hiện tư nhân hoá.
Thứ hai, vào th
ời điểm đó, tuy Hungary có những động thái nhất định
trong việc đổi mới hoạt động của nền kinh tế, song trên bình diện chung nền
kinh tế vẫn là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, quan liêu, bao cấp. Tức là nền kinh tế đó vẫn dựa trên nền

14
tảng của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, biểu hiện dưới hai hình thức là
toàn dân và tập thể.Tương ứng với hai hình thức sở hữu đó là hai loại hình tổ
chức sản xuất cơ bản: Doanh nghiệp Nhà nước và các hợp tác xã. Đồng thời,
mọi hoạt động của nền kinh tế, từ sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu,, ai sản
xuất và s
ản xuất ở đâu, sản xuất xong tiêu thụ sản phẩm như thế nào, giá cả
ra sao.v.v. tất cả đều phải theo một kế hoạch thống nhất do chính phủ trung
ương vạch ra.
Mặt khác, Hungary còn là thành viên của khối Cộng đồng Kinh tế các

Song tư nhân hoá thì có hàng loạt các doanh nghiệp sẽ bị xoá sổ, hàng
vạn công nhân sẽ phải mất việc làm, do đó Chính phủ cũng phải có tiền để
hỗ trợ cho họ. Đây là bài toán vô cùng khó khăn và nan giải.
Thứ tư, do kế hoach hoá vẫn bao trùm và thố
ng trị trong mọi hoạt
động của nền kinh tế, đặc biệt là do người dân không có quyền gì đối với đất
đai, tư liệu sản xuất và các sản phẩm do chính bàn tay họ làm ra, nên trên
thực tế người dân, trước hết là người trực tiếp tạo ra của cải vật chất, dường
như không quan tâm đến hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp
nói riêng, của cả nền kinh tế nói chung. Vì thế
nền kinh tế không có động
lực để phát triển. Sản xuất của đất nước do đó ngày càng giảm sút, khan
hiếm hàng hoá ngày càng trở nên trầm trọng. Nền kinh tế thiếu hụt là tình
trạng chung của tất cả các nước thuộc hệ thống Xã hội Chủ nghĩa lúc bấy
giờ chứ không riêng gì Hungary. Tất nhiên, đây cũng là khó khăn đáng kể
khi bắt tay vào thực hiện chuyển đổi nền kinh tế
.
Thứ năm, cơ cấu của nền kinh tế quá lạc hậu.Sản xuất nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế cả về mặt giá trị, lẫn về mặt lao
động. Công nghiệp và dịch vụ tuy cũng có phát triển, song chủ yếu là tập
trung vào các ngành sản xuất thông thường với trình độ công nghệ trung
bình của thế giới. Các ngành đòi hỏi công nghệ cao như: Tin học, n
ăng
lượng, vật liệu mới.v.v. dường như ít được chú ý đúng mức. Các hoạt động
dịch vụ cao cấp như : chứng khoáng, vận tải hàng không, cho thuê văn
phòng, tài chính .v.v. cũng rơi vào tình trạng như vậy. Cơ cấu kinh tế giữa
các vùng, miền trong nước cũng phát triển chưa hợp lý, vẫn còn khoảng cách
tương đối lớn giữa thành thị và nông thôn. Ngoài ra cũng phải kể đến sự lạc
hậu về cơ cấu sở hữu. Vị trí độc tôn của chế độ công hữu đã làm cho nền
kinh tế mất hẳn động lực và sự năng động trong phát triển.

chiều hướng xấu hơn, đặc biệt là giá trị đạo đức bị sa sút nghiêm trọng. Lòng
tin của người dân vào Đả
ng cầm quyền, với chế độ về cơ bản không còn
nữa.

17
Những khó khăn trên đây một mặt nó tạo ra sự cản trở đối với sự phát
triển của đất nước, song mặt khác chính nó lại tạo ra động lực và quyết tâm
to lớn cho Hungary trong việc chuyển nhanh nền kinh tế sang vận hành theo
cơ chế thị trường.
Giữa năm 1989 về cơ bản chế độ Xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại
ở Hungary. Trong suốt 10 năm, từ 1990
đến năm 2000, Hungary tập trung
mọi nỗ lực để hình thành nền kinh tế thị trường thực thụ trên đất nước mình.
Trong những nỗ lực đó, đáng kể nhất là việc công nhận chế độ sở hữu tư
nhân đối với đất đai, bất động sản và các tư liệu sản xuất chủ yếu; Việc hình
thành một hệ thống pháp luật đầy đủ
, đồng bộ và phù hợp với quốc tế để cho
nền kinh tế thị trường vận hành thuận lợi; Việc thay đổi lại cơ cấu của nền
kinh tế, đặc biệt là việc thay đổi lại các chính sách của Nhà nước đối với các
tầng lớp dân cư, và vai trò quản lý của Nhà nước đối với xã hội.
Theo đánh giá của Chính phủ Hungary thì đến năm 2000, Hungary đã
cơ bả
n hoàn thành việc chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trường. Từ năm 2001 đến nay là giai đoạn
hoàn thiện để Hungary thực sự có nền kinh tế thị trường hoàn hảo.
Để có nền kinh tế thị trường thực thụ, Hungary đặc biệt quan tâm đến
việc thực hiện tư nhân hoá. Cho đến nay, Hungary đã bán 1243 doanh
nghiệp nhà nước cho công chúng cũng nh
ư các nhà đầu tư nước ngoài với số

nền kinh tế thị trường đã được hình thành một cách đầy đủ và đồng bộ. Việc
trao đổi, mua bán các loại hàng hoá trên thị trường được diễn ra giữa những
người chủ sở hữu thật sự, chứ không phải chủ giả hiệu như trước đây.
Hai là, N
ếu như trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung, với sự thống trị của chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất, toàn bộ nền kinh tế chỉ có vài ngàn doanh nghiệp nhà nước và hợp
tác xã hoạt động, thì ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, với sự tồn tại
của chế độ đa sở hữ
u về tư liệu sản xuất, thì bên cạnh những công ty lớn,
mang tầm cở quốc gia và quốc tế, ở Hungary đã có hàng trăm ngàn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ do mọi tầng lớp dân cư thành lập và điều hành
hoạt động.Điều đáng nói là, vì người dân là chủ thực sự của các doanh

19
nghiệp đó, nên họ luôn tìm mọi cách cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Động lực phát triển của cả nền kinh tế nhờ đó mà trở nên hết sức mạnh mẽ.
Ba là, nếu nền kinh tế trước đây mang nặng tính khép kín, đúng hơn là
chủ yếu chỉ quan hệ trao đổi, mua bán với các nước trong hệ thống xã hội
chủ nghĩa, thì ngày nay nó là nền kinh tế mở, hội nhập với các nề
n kinh tế
trong khu vực và thế giới, nhất là từ khi Hungary chính thức trở thành thành
viên của cộng đồng Châu Âu. Một số nhà khoa học của Hungary đã nói: nền
kinh tế của chúng tôi trước đây là nền kinh tế của Nhà nước, còn ngày nay
nó là nền kinh tế của dân.
Chuyển đổi đã làm cho kinh tế của Hungary phát triển khá nhanh, cho
đến giờ phút này nhiều lĩnh vực của nền kinh tế đã đạt được trình độ chung
của kh
ối cộng đồng Châu Âu.Nhiều sản phẩm do Hungary sản xuất giờ đây
đã lấy lại được uy tín và vị thế trên thị trường Châu Âu và thế giới, nhất là

phát xít Đức, Hungary về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp. Dân cư phần
lớn vẫn sống ở nông thôn và lao động xã hội vẫn chủ
yếu hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp của Hungary theo nghĩa rộng chỉ có hai
ngành là nông nghiệp và lâm nghiệp (vì không có biển, nên Hungary không
có ngành ngư nghiệp).Nông nghiệp theo nghĩa hẹp thì có trồng trọt và chăn
nuôi. Về trồng trọt, Hungary chủ yếu dựa vào trồng lúa mì, ngô, hoa quả và
các loại rau; còn về chăn nuôi thì chủ yếu là nuôi bò, lợn, gia cầm, cừu ,
ngựa, ngỗng và cá. Lâm nghiệp của Hungary chủ yếu là trồng và bảo vệ
rừng, chế biến các sản phẩm thu được từ rừng để phục vụ cho sản xuất và
đời sống của người dân.
Trong 45 năm tồn tại nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung (từ 1945 đến 1990) cũng giống như các nước xã
hội chủ nghĩa khác, đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu củ
a nông nghiệp được
quốc hữu hoá và tập thể hoá, và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất giữ vị
trí thống trị. Nông nghiệp Hungary được tổ chức dưới hai hình thức: Các cơ
sở sản xuất quốc doanh (gồm các nông trường trong nông nghiệp và các lâm

21
trường trong lâm nghiệp), và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Những
người nông dân có quan hệ tương đối gắn bó với Nhà nước thì trở thành
công nhân , làm việc trong các nông-lâm trường quốc doanh, đại đa số còn
lại, góp ruộng đất cho hợp tác xã, và trở thành xã viên của các hợp tác xã
này. Giai đoạn đầu mới thành lập (những năm 50 và 60 của thế kỷ XX), qui
mô của các nông- lâm trường cũng như các hợp tác xã còn nhỏ ( nhỏ về diện
tích
đất đai và ít về lao động). Song cùng với quá trình phát triển của khoa
học-kỹ thuật, quá trình đổi mới cơ chế quản lý, đặc biệt là quá trình chuyển
nhanh nền nông nghiệp sang sản xuất lớn Xã hội chủ nghĩa, qui mô của các

năm 1970), tức là trên 20% ngân sách của Nhà nước để đầu tư cho sản xuất
nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Trong đầu tư cho nông nghiệp, nông
thôn, Chính phủ Hungary rất chú trọng đầu tư cho đào tạo đội ngũ cán bộ
khoa học kỹ thuật và quản lý kinh tế làm việc tại các nông-lâm trường và
hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ

sản xuất và đời sống của người dân nông thôn như: giao thông nông thôn (kể
cả giao thông trên các cánh đồng để vận chuyển các loại vật tư, phân bón
phục vụ sản xuất, cũng như vận chuyển các loại nông sản khi thu hoạch);
đầu tư cho xây dựng hệ thống thuỷ lợi, nhằm bảo đảm việc tưới, tiêu nước
cho các loại cây trồng một cách chủ động, khoa học và tiết kiệm, cung c
ấp
nước uống và làm vệ sinh chuồng trại cho các loại gia súc, gia cầm và cung
cấp nước sạch cho người dân sinh sống; Xây dựng hệ thống thông tin liên
lạc thông suốt từ trung ương tới địa phương và tới từng cơ sở sản xuất, bảo
đảm sự chỉ đạo kịp thời về mọi phương diện; Chính phủ Hungary chú trọng
một cách đặc biệt đối với việc đầ
u tư cho việc nghiên cứu và ứng dụng các
tiến bộ mới về khoa học và công nghệ vào sản xuất, trước hết là đưa các
giống cây trồng, các con vật nuôi cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt
vào sản xuất tại các nông trường và hợp tác xã, đầu tư thực hiện việc cơ giới
hoá, hoá học hoá, điện khí hoá các khâu quan trọng của sản xuất nông- lâm
nghiệp, giúp nông nghiệp nhanh chóng trở
thành một nền nông nghiệp sản
xuất lớn. Ngoài ra chính phủ còn có chính sách ưu đãi đối với các hợp tác xã
trong việc vay vốn để phục vụ cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh; có
chính sách miễn giảm thuế cho các nông-lâm trường, các hợp tác xã sản xuất
khi gặp phải khó khăn, như sự tàn phá mùa màng của các loại thiên tai, dịch

23

sẽ bị đào thải. Điều này đã đến với nước Hungary cuối năm 1989. Đầu năm
1990 chế độ xã hội chủ nghĩa ở Hungary bị s
ụp đổ, nền kinh tế xã hội chủ

24
nghĩa vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp được
thay bằng nền kinh tế thị trường, vận hành theo cơ chế thị trường.
1.1.2.2. Chính sách của chính phủ Hungary đối với nông nghiệp, nông
thôn, nông dân trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, gia nhập EU và WTO
Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa bị sụp đổ, nông nghiệp và nông thôn
Hungary rơi vào khủng hoảng toàn diện và nghiêm trọng. Các cơ sở sản xuất
trong nông nghi
ệp, đặc biệt là hệ thống hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bị
tan rã, nhiều cơ sở vật chất- kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống ở nông
thôn trước đây nay không ai quản lý, dần trở nên hư hỏng và xuống cấp, nhất
là hệ thống giao thông, hệ thống thuỷ lợi. Nhiều hoạt động sản xuất và dịch
vụ trong nông nghiệp, nông thôn bị
đình đốn. Sản xuất nông nghiệp vì thế bị
giảm sút rất nghiêm trọng. Đời sống của người nông dân, đặc biệt là những
người nghèo, những người già và neo đơn gặp rất nhiều khó khăn( đồng tiền
của Hungary mất giá khá lớn, cuối những năm 1980 tỷ giá hối đoái giữa
đồng Forint và Đôla Mỹ là 60 Frt= 1USD, thì năm 2000 tỷ lệ đó là 200
Frt=1 USD.
Đứng trước tình hình đó, Chính phủ Hungary trên c
ơ sở tổng kết kinh
nghiệm phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn của các nước trên thế
giới, đặc biệt là từ những thành công và thất bại của chính đất nước mình
trong lĩnh vực này, đã đua ra nhiều chính sách quan trọng đối với nông
nghiệp-nông thôn và nông dân, nhằm nhanh chóng khắc phục những khó
khăn của khu vực này và giúp nó phát triển nhanh, sớm đuổi kịp trình độ

con người không ngừng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và chủng loại.
Sự tăng lên này một mặt là do dân số không ngừng tăng (năm 1945, khi đại
chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, cả thế giới mới có 2,5 tỷ người, thế mà
giờ đây con số đó đã trên 7 tỷ), mặt khác là do nhu cầu của bản thân t
ừng
con người cũng tăng lên cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại.
Nông nghiệp đảm nhận việc sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm
cho con người, nhưng sản xuất nông nghiệp muốn tiến hành được phải có
đất. trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản xuất
đặc biệt không thể thay thế
được.Tư liệu sản xuất ở đây có nghĩa là đất đai
vừa là đối tượng của lao động (khi con người thông qua các công cụ và
phương tiện tác động lên đất, làm biến đổi chất lượng của đất), vừa là tư liệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status