Vai trò của nhà nước đối với xuất khẩu lao động - kinh nghiệm của một số nước và vận dụng vào Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VÕ THỊ TUYẾT MAI VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG –
KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 603101 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI QUANG TUẤN Hà Nội - 2008MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang NỘI DUNG
Chương 1 : Xuất khẩu lao động và vai trò của nhà nước trong việc tổ
chức và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động 6
1.1 Xuất khẩu lao động - Một hình thức hợp tác kinh tế quốc tế 6
1.2 Vai trò của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động 20

triển, đặc biệt là các nước đông dân số và giải quyết tình trạng thiếu lao động của các
nước phát triển. Cho đến nay, đa số các quốc gia trên thế giới đều tham gia vào quá
trình này với tư cách là nước xuất hoặc nhập khẩu lao động.
Philippines hiện là nước xuất khẩu lao động lớn thứ 2 trên thế giới, Thái Lan,
Indonesia cũng đang tham gia ngày càng tích cực vào hoạt động này. Hàng năm, một
số lượng lớn lao động ở các trình độ khác nhau của các nước này đã được xuất khẩu,
có việc làm và có thu nhập ổn đinh. Số lượng lao động được xuất khẩu của các nước
này không ngừng tăng lên, đặc biệt là từ năm 1990 tới nay. Bên cạnh đó lượng ngoại tệ
thu về từ hoạt động xuất khẩi lao động cũng liên tục tăng, đóng góp đáng kể vào cải
thiện cán cân thanh toán. Để tăng cường xuất khẩu lao động, chính phủ các nước này
đều xây dựng cho mình một hệ thống chính sách nhằm quản lý và điều tiết hoạt động
xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động được đưa vào Bộ luật Lao động và được đặt
dưới sự quản lý của nhà nước.
Do hoàn cảnh lịch sử và những điều kiện riêng biệt, Việt Nam tham gia vào thị
trường xuất khẩu lao động quốc tế tương đối muộn so với các nước trong khu vực. Mặc
dù đã đạt được những thành tựu đáng kể nhưng hoạt động xuất khẩu lao động vẫn còn
là rất khiêm tốn so với tiềm năng của chúng ta. Nếu so sánh Việt Nam với các nước
xuất khẩu lao động khác trong khu vực thì có thể thấy cơ cấu và quy mô lao động xuất 2
khẩu của Việt Nam còn rất nhỏ, chất lượng nguồn lao động thấp, công tác quản lý, đào
tạo còn nhiều yếu kém. Việc thực hiện các chức năng của nhà nước trong lĩnh vực xuất
khẩu lao động trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều lúng túng, hạn chế và yếu kém mà
biểu hiện rõ nhất là: các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa
có sự phối hợp đồng bộ trong việc đầu tư mở rộng thị trường, đào tạo lao động xuất
khẩu, cụ thể hoá chủ trương, chính sách và chỉ đạo để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu;
thiếu sự kết hợp hài hoà giữa sự quản lý vĩ mô của nhà nước và sự chủ động, tự chịu
trách nhiệm của tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Những yếu kém
nói trên nếu không được khắc phục kịp thời sẽ tác động xấu đến tình hình hoạt động

nghèo - Tạp chí Cộng sản Số 4 – 5, Phạm Thị Khanh (2004) Phát triển thị trường
xuất khẩu lao động của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế – Tạp chí Nghiên
cứu kinh tế – Số 314
Các công trình nghiên cứu nói trên đã tiếp cận vấn đề lao động ở nhiều khía
cạnh khác nhau, trong đó chủ yếu tập trung phân tích và đánh giá tình hình xuất khẩu
lao động của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ở hầu hết các công
trình, các tác giả trong khi phân tích đánh giá thực trạng, đều có bàn đến vai trò của
nhà nước các cấp nhưng mới chỉ dừng lại ớ mức độ xem vai trò nhà nước như một giải
pháp trong hệ thống các giải pháp chung chưa tập trung đi sâu phân tích cơ sở lý luận
và thực tiễn về vai trò của nhà nước trong mối quan hệ tác động qua lại với xuất khẩu
lao động. Các công trình nghiên cứu chưa có điều kiện tập trung tập trung giải quyết
vấn đề đặt ra đối với vai trò của nhà nước nhằm tạo điều kiện thúc đẩy mạnh mẽ hơn
nữa hoạt động xuất khẩu lao động. Mặt khác, các công trình có đưa ra một vài kinh
nghiệm của các nước trong quá trình xuất khẩu lao động nhưng mới chỉ dừng lại ở việc
xem đó như là một phần tham khảo của đề tài, chưa đi sâu nghiên cứu tình hình xuất
khẩu của các nước khác và rút ra những bài học cũng như chỉ ra những giải pháp có thể
áp dụng đối với hoàn cảnh cụ thể của Viêt Nam 4
Chính vì vậy, việc nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu
lao động của một số quốc gia trên thế giới và đặc biệt là của một số nước trong khu vực
Đông Nam Á và rút ra kinh nghiệm của các nước này nhằm gợi mở những giải pháp
cho Việt Nam có thể xem là một vấn đề mới, có ý nghĩa bổ sung cả về thực tiễn và
chính sách.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Luận văn đi sâu nghiên cứu về việc phát huy vai trò của nhà nước
đối với hoạt động xuất khẩu lao động của một số nước, đặc biệt là kinh nghiệm của
những nước trong khu vực Đông Nam Á trong thời gian qua để vận dụng vào tình hình
cụ thể của Việt Nam.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
bao gồm ba chương chín tiết. Chương 1 nói về các khái niệm liên quan đến xuất khẩu
lao động và vai trò của nhà nước trong việc tổ chức và quản lý hoạt động xuất khẩu lao
động. Chương 2 là về kinh nghiệm một số nước về vai trò của nhà nước đối với hoạt
động xuất khẩu lao động. Chương 3 nêu lên thực trạng vai trò của nhà nước đối với
hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam và việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế về
vai trò của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam. 6
CHƢƠNG I: XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC
TRONG VIỆC TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
Chương này, tập trung nghiên cứu làm rõ những cơ sở lý luận về vai trò của nhà
nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động, chỉ ra những khái niệm, tính tất yếu khách
quan của việc tham gia điều tiết, quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao
động, phân tích cụ thể những vai trò nhà nước trong lĩnh vực này.
1.1 XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG - MỘT HÌNH THỨC HỢP TÁC KINH TẾ
QUỐC TẾ
1.1.1 Bản chất, đặc điểm của các hoạt động xuất khẩu lao động
1.1.1.1. Một số khái niệm liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động
Theo cách hiểu rộng nhất, xuất khẩu lao động bao gồm xuất khẩu lao động tại
chỗ và xuất khẩu lao động ra nước ngòai. Theo đó, xuất khẩu lao động tại chỗ là việc
các doanh nghiệp trong nước nhận nguyên liệu, công nghệ, thiét bị nước ngoài và sản
xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng của nước ngoài; các liên doanh, các công ty, tổ chức
nước ngoài đóng trên lãnh thổ sử dụng lao động nước sở tại. Liên quan đến sự di
chuyển lao động quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế đã có một số quan niệm, thuật
ngữ được sử như: hợp tác quốc tế về lao động, đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài có thời hạn và xuất khẩu lao động
Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng vào những năm 1980 ở

kinh tế được cấp phép đảm nhiệm. Hoạt động này nằm trong quỹ đạo của nền kinh tế
thị trường và chịu sự quản lý của nhà nước.
Để phát triển, quản lý chặt chẽ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài và tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các vi phạm cần thiết phải ban hành Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Quốc hội 8
thông qua ngày 29-11-2006 tại kỳ họp thứ 10 QH khoá XI và có hiệu lực thực thi từ
ngày 1-7-2007 đã quy định rõ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
bao gồm các nội dung:
1. Ký kết các hợp đồng liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
2. Tuyển chọn lao động.
3. Dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần
thiết cho người lao động trước khi di làm việc ở nước ngoài.
4. Thực hiện hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
5. Quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở
nước ngoài.
6. Thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động đi làm việcở nước
ngoài.
7. Thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và nguời lao động
đi làm việc ở nước ngoài.
8. Các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi
làm việc ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có tính chất thông
dụng để chỉ hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác, kể cả
xuất khẩu lao động tại chỗ. Tham gia vào quá trình này gồm hai bên: bên nhập khẩu
lao động và bên xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động còn gọi là xuất khẩu vô hình,
là một hình thức cung cấp cho nước ngoài một số lượng lao động phục vụ nhất định để
đạt được thu nhập ngoại tệ, kỹ thuật, kinh tế bao gồm nhiều hình thức: công trình, giao

nước không đứng ngoài mà chủ động tham gia vào hoạt động này. Cho đến nay, hoạt
động xuất nhập khẩu lao động của tất cả các quốc gia đều có sự can thiệp của nhà
nước, tuy mức độ can thiệp có khác nhau và do đó, vai trò của nhà nước đối với hoạt
động xuất khẩu lao động cũng khác nhau. 10
Như vậy, xuất khẩu lao động là hoạt động xuất khẩu hàng hóa sức lao động-
một loại hàng hóa đặc biệt. Bản chất của hoạt động này là việc bán hàng hóa sức lao
động trong nước cho nước ngoài sử dụng. Theo đó, người lao động thông qua các tổ
chức môi giới, hay các tổ chức, doanh nghiệp xuất khẩu lao động của nhà nước hoặc tư
nhân mà bán sức lao động của bản thân, đi làm thuê cho chủ sử dụng lao động ở ngoài
nước.
1.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
Do sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, nên hoạt động xuất khẩu lao
động có những đặc điểm riêng biệt, khác với hoạt động xuất khẩu hàng hóa thông
thường. Có thể khái quát một số đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động như sau:
* Xuất khẩu lao động là một hoạt động đặc thù của kinh tế đối ngoại, là hoạt
động kinh tế mang tính xã hội.
Kinh tế đối ngoại gồm nhiều hình thức như ngoại thương, đầu tư quốc tế, hợp
tác sản xuất, hợp tác khoa học - công nghệ, hợp tác tín dụng quốc tế và các hoạt động
dịch vụ thu ngoại tệ. Trong đó xuất khẩu lao động được xếp vào nhóm các ngành dịch
vụ thu ngoại tệ cùng với du lịch, xây dựng, y tế, giáo dục, bảo hiểm, vận tải, bưu chính
viễn thông, dịch vụ ngân hàng…Tính chất đặc thù của hoạt động xuất khẩu lao động
trước hết được thể hiện ở chỗ, là hoạt động kinh tế nhưng mang tính xã hội sâu sắc.
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế: cho đến nay xuất khẩu lao động được
nhiều nước coi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn góp phần giải quyết việc
làm, phát triển nguồn nhân lực và tăng tích lũy vốn và nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
Để làm được điều đó, các nước xuất khẩu lao động một mặt phải không ngừng nâng
cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao động thông qua việc mở rộng thị trường, quan

Tính không xác định của hoạt động xuất khẩu lao động được thể hiện ở chỗ,
cũng như mọi hoạt động dịch vụ khác, hoạt động xuất khẩu lao động có đặc điểm là
không hiện hữu dưới dạng vật thể, khó lượng hóa khi quyết định trao đổi, mua bán, sử 12
dụng. Tính không xác định trong hoạt động xuất khẩu lao động được quy định bởi chất
lượng hàng hóa sức lao động. Chất lượng của hàng hóa sức lao động phụ thuộc vào thể
chất và tinh thần hay sự dẻo dai, bền bỉ, độ thành thạo và năng lực sáng tạo trong lao
động của người lao động; vào điều kiện làm việc, nghỉ ngơi và các điều kiện khác cho
người lao động. Các yếu tố tinh thần và lịch sử này ở mỗi người, mỗi địa phương, khu
vực luôn có sự khác nhau và luôn thay đổi đã tạo ra tính không xác định trong hoạt
động xuất khẩu lao động.
* Hoạt động xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho các bên tham
gia:
Xuất khẩu lao động phải đảm bảo tiền công cho người lao động, lợi nhuận cho
doanh nghiệp và lợi ích cho nhà nước. Người lao động tham gia vào hoạt động xuất
khẩu lao động với tư cách vừa là người tạo ra hàng hóa xuất khẩu vừa là người trực
tiếp mang hàng hóa đó đi bán, mục đích của họ là các khoản thu nhập hay tiền công lao
động ở nước ngoài. Lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thu được chủ
yếu từ việc thu các loại phí dịch vụ mà người lao động trả về việc giúp cho người lao
động được đi làm việc ở nước ngoài. Lợi ích của nhà nước là các khoản ngoại tệ ròng
nhận được thông qua các khoản tiền của người lao động gửi về nước, các khoản thuế
và phí thu được từ các hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp.
Vì lợi ích kinh tế, cả người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động rất dễ
vi phạm các quy định của pháp luật, do đó, với tư cách là một chủ thể tham gia vào quá
trình này, nhà nước phải xây dựng các khuôn khổ pháp lý cho hoạt động xuất khẩu lao
động để đảm bảo các lợi ích quốc gia, quyền lợi của các tổ chức, doanh nghiệp, người
lao động và duy trì và phát triển quan hệ hợp tác với các nước nhập khẩu lao động.
Trong những trường hợp cần thiết, nhà nước phải trực tiếp giải quyết các vấn đề mà

khẩu lao động thuỳ thuôc vào mục đích cảu tong quốc gia. Đối với những nước chuyên
xuất khẩu lao động, mục đích chính là nhằm góp phần giải quyết công ăn việc làm, 14
tăng thêm thu nhập quốc dân, tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán, cải thiện đời
sống cho một bộ phận nhân dân lao động. Những nước chuyên nhập khẩu lao động
thường là những nước nhiều vốn, tài nguyên chưa được khai thác tốt, thiếu tuyệt đối
nhân lực lao động hiện có không đủ do dân số "già" đi, hoặc thiếu tương đối trên thị
trường lao động có quá ít người tìm việc. Những nước vừa xuất vừa nhập lao động xem
hoạt động này là một lĩnh vực kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch
giá cả sức lao động. Do có ngày càng nhiều các nước tham gia vào thị trường lao động
quốc tế nên trong những năm gần đây tính chất cạnh tranh trên thị trường lao động
quốc tế hết sức gay gắt làm cho tình hình xuất khẩu lao động diễn ra rất phức tạp.
* Hoạt động xuất khẩu lao động góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa và hợp tác
hữu nghị giữa nước xuất khẩu lao động và nước nhập khẩu lao động.
Khác với hoạt động xuất khẩu hàng hoá thông thường, xuất khẩu lao động là
việc người lao động mang theo cả bản sắc văn hoá dân tộc ra nước ngoài làm việc.
Những phong tục tập quán, thói quen cũ, khi họ còn ở quê hương vẫn được duy trì khi
họ sống và làm việc ở một đất nước khác. Xu hướng nhiều quốc gia chủ trương ưu đãi
hơn đối với lao động đến từ các nước tương đồng về văn hóa với nước mình. Quá trình
thực hiện hợp đồng lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là quá trình
tiếp xúc, giao lưu giữa hai nền văn hóa. Trong quá trình đó, nền văn hóa nào ưu việt sẽ
phát huy tính trội của nó, cảm hóa, chinh phục, lan tỏa giữa những đối tác. Xuất khẩu
lao động là nhịp cầu giao lưu văn hóa và hợp tác hữu nghị giữa các nước.
1.1.2 Các yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu lao động.
* Các yếu tố thuộc về thị trường lao động
Thị trường lao động trong nước ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu
lao động của một quốc gia. Trong đó, các nhân tố như : tổng cung, tổng cầu, giá cả
hàng hoá sức lao động (tiền công), chất lượng lao động, số lượng và chất lượng các
16
tổng cầu của nền kinh tế tăng. Đây là cơ hội để xuất khẩu lao động và cũng là cơ hội để
tăng thu nhập cho người lao động nước ngoài và ngược lai.
Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách về lao động nhập cư của
mỗi quốc gia có tác động trực tiếp đến số lượng và cơ cấu của lao động nhập cư. Khi
nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cung lao động trong nước không đủ, chính phủ khuyến
khích nhập cư và ngược lại.
Cạnh tranh và giá cả sức lao động trên thị trường lao động quốc tế có ảnh hưởng
đến thị phần và giá cả sức lao động xuất khẩu của các nước tham gia xuất khẩu lao
động. Trên thị trường lao động quốc tế có hai loại cạnh tranh chủ yếu là : cạnh tranh
giữa các công ty môi giới lao động, cạnh tranh giữa lao động các nước khác nhau.
1.1.3 Các hình thức xuất khẩu lao động
Có nhiều cách thức phân loại các hình thức xuất khẩu lao động. Theo cách phân
loại truyền thống, có xuất khẩu lao động tại chỗ và xuất khẩu lao động ra nước ngoài.
Căn cứ vào các dạng và loại hình lao động làm việc ở nước ngoài, có dạng cá nhân
người lao động tự ký kết hợp đồng; lao động đi làm việc theo doanh nghiệp trúng thầu,
nhận thầu, đầu tư ra nước ngoài; lao động đi làm việc dưới hình thức tu nghiệp, thực
tập nâng cao tay nghề và lao động được các tổ chức, các đơn vị sự nghiệp cử đi theo
chỉ tiêu nhà nước phân bổ. Theo cách thức tổ chức thực hiện, xuất khẩu lao động có
một số hình thức chủ yếu sau đây:
1.1.3.1 Hợp đồng cung ứng lao động
Hợp đồng cung ứng lao động có thể được ký giữa doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
của nước xuất khẩu lao động với tổ chức thuê và sử dụng lao động ở nước ngoài. Đây
là một trong những hình thức quan trọng vì hiện nay và trong những năm tiếp theo,
việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu vẫn thông qua các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Sau khi được ký kết, các doanh nghiệp, tổ chức
làm dịch vụ cung ứng lao động căn cứ vào nhu cầu của phía sử dụng lao động để tiến



18
máy, xí nghiệp có nhu cầu nâng cao tay nghề ở nước ngoài, sau thời gian đó họ sẽ trở
lại làm việc tại nhà máy, xí nghiệp. Mặt khác, nhà nước định hướng cho các doanh
nghiệp tham gia chương trình này bằng các hình thức như thường xuyên trao đổi thông
tin với phía các tổ chức hữu quan cũng như các tổ chức nghiệp đoàn, các công ty cử đi
và tiếp nhận; hỗ trợ các doanh nghiệp tìm kiếm, khai thác hợp đồng, giúp các doanh
nghiệp thẩm định tư cách pháp nhân và khả năng tiếp nhận của các nghiệp đoàn tiếp
nhận cũng như năng lực của các công ty cử lao động đi.
1.1.3.4. Theo các hiệp định đƣợc ký kết
Theo quy định hiện hành, tổ chức sự nghiệp của các Bộ, ngành được đưa
chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và người lao động đi làm việc
ở nước ngoài để thực hiện hiệp định mà chính phủ đã ký kết. Căn cứ vào các Hiệp định
đã ký, nhà nước phân bổ chỉ tiêu cho các bộ, ngành, địa phương tiến hành tuyển chọn
và đưa người lao động đi làm việc ở các nước. Người lao động làm việc ở nước ngoài
được bố trí xen ghép với lao động của các nước khác, chịu sự quản lý thống nhất từ
trên xuống dưới. Hiện nay, lao động Việt Nam được đưa đi làm việc ở nước ngoài theo
hiệp định chủ yếu là các chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, giáo dục
thuộc các chương trình hợp tác quốc tế giữa chính phủ Việt Nam với các nước hoặc
các tổ chức quốc tế.
Ngoài hình thức xuất khẩu lao động theo các hiệp định được ký kết giữa chính
phủ Việt Nam với chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế kể trên còn có các trường
hợp xuất khẩu lao động khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội.
Đây là một hình thức mới hiện đang tổ chức làm thí điểm ở nước ta, thể hiện
chủ trương của Nhà nước ta trực tiếp chăm lo đến việc làm cho người lao động, nhất là
các đối tượng chính sách. Tuy không thay thế được các hình thức khác nhưng việc cho
phép một số tổ chức sự nghiệp của các Bộ, ngành được hoạt động đưa chuyên gia trong
quá trình rèn luyện tác phong cho người lao động theo tiêu chuẩn của người công nhân
hiện đại.
Xuất khẩu lao động không chỉ tạo thu nhập cao cho người lao động mà còn làm
tăng nguồn thu cho nhà nước, tăng tích luỹ và đầu tư. Thật vậy, thông qua lượng tiền
ngoại tệ mà người lao động gửi về hàng năm, giúp nhà nước tăng GDP thông qua các
khoản thu dịch vụ gia tăng như phí dịch vụ xuất khẩu lao động, tiền bán vé máy bay,
các khoản dịch vụ khác phục vụ người lao động. xuất khẩu lao động còn cải thiện cán
cân thanh toán quốc tế, chi trả những nợ nần. Có nhiều trường hợp, lượng tiền do
người lao động gửi về ngang với thu nhập từ xuất khẩu một số hàng hoá khác.
Xuất khẩu lao động góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động xã
hội theo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế tri thức và kinh tế thị trường.
Xét theo góc độ cơ cấu ngành, xuất khẩu lao động tạo ra việc làm mới cho người lao
động nông nghiệp, nông thôn. Qua xuất khẩu lao động, nông dân tích luỹ được nguồn
vốn khá, lại được tiếp nhận tri thức mới, nên khi về nước họ đã sử dụng tiền tích luỹ
được để đầu tư vào các ngành khác như công nghiệp, dịch vụ, nhờ đó thu nhập chủ yếu
trước khi đi lao động ở nước ngoài là từ nông nghiệp thì sau khi đi xuất khẩu lao động
về người lao động đã có thêm từ ngành khác. Quá trình này diễn ra một cách tự nhiên,
góp phần làm chyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn, tạo ra các ngành mới
làm cho nền kinh tế chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Xét theo
cơ cấu lao động xã hội, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động chịu tác động và là hệ
quả trực tiếp của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Khi cơ cấu kinh tế chuyển dịch
theo hướng giảm dần nông, lâm, ngư nghiệp, tăng dần công nghiệp - xây dựng và dịch
vụ thì cơ cấu lao động cũng chuyển dịch theo. Lượng lao động trong ngành nông
nghiệp giảm dần và tăng dần lượng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Xuất khẩu lao động góp phần tiếp cận, khám phá và thúc đẩy ứng dụng công
nghệ tiên tiến trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thông qua việc xuất khẩu 21
lao động, người lao động của các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển có

động.
Bản thân thị trường luôn có những khuyết tật và nó không dủ sức để điều chỉnh
những khuyết tật đó. Vì vậy cần có sự tham gia của nhà nước để khắc phục những
khuyết tật của thị trường và việc tăng cường vai trò của nhà nước đối với hoạt động
xuất khẩu lao động là một đòi hỏi khách quan.
Nâng cao vai trò của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động trước hết là
phải phân biệt rõ vai trò, chức năng của nhà nước là người cầm lái con thuyền còn các
tổ chức, doanh nghiệp dịch vụ xuất khẩu lao động, có chức năng là người bơi chèo.
Nhà nước chỉ giữ vai trò cầm lái không giải quyết các công việc sự vụ các nhân, làm
thay công việc của các doanh nghiệp và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu
lao động, không can thiệp quá sâu vào mọi công đoạn từ khâu tìm kiếm các công ty
tuyển dụng, giáo dục đào tạo, hướng nghiệp, thực hiện xuất khẩu lao động và quản lý
lao động xuất khẩu ở nước ngoài đến khâu cuối cùng là giải quyết vấn đề hậu xuất
khẩu lao động. Với vai trò là người cầm lái, nhà nước phải có một tầm nhìn bao quát,
nhìn nhận các vấn đề trong tổng thể, cân đối nhu cầu trong nước, nắm bắt được diễn
biến, và dự báo được khả năng của thị trường lao động thế giới cũng như của khu vực
trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó tìm ra những giải pháp tối ưu để thực hiện
mục tiêu. Nếu nhà nước thực hiện tốt việc cầm lái của mình thì sẽ có điều kiện tập
trung vào việc định hướng phát triển xuất khẩu lao động thông qua việc hoạch định
chính sách; quan tâm nhiều hơn đến việc tạo môi trường thuận lợi cho người lao động
có nhu cầu xuất khẩu lao động và các doanh nghiệp, tố chức môi giới xuất khẩu lao
động.
1.2.2 Vai trò của nhà nƣớc đối với hoạt động xuất khẩu lao động 23
1.2.2.1. Nhà nƣớc ban hành chủ trƣơng chính sách, luật pháp để định hƣớng hỗ
trợ hoạt động xuất khẩu lao động
Chính sách xuất khẩu lao động là tổng thể các quan điểm, quan điểm, các mục
tiêu các giải pháp và công cụ nhằm đẩy mạnh xuất khẩu lao động và nâng cao hiệu quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status