QU CHÂU Á/THE ASIA FOUNDATION (TAF)
Địa chỉ: Phòng 3, tầng 10, Tòa nhà Đệ nhất,
53 Quang Trung, Quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: +84 (4) 3943 3262
Fax: +84 (4) 3943 3257
VIN NGHIÊN CU QUN LÝ KINH T TRUNG ƯƠNG
Địa chỉ: 68 Phan Đình Phùng - Ba Đình - Hà Nội - Việt Nam.
Điện thoại: 84-4-7338930 / 84-4-8437461.
Fax: 84-4-7338930 / 84-4-8456795.
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU TRONG BA NGÀNH
MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Báo cáo nghiên cứu
Hà Nội, 2011
Chỉ đạo: Nguyễn Đình Cung
Thực hiện: Nguyễn Thị Tuệ Anh
Lưu Minh Đức
Nguyễn Minh Thảo
Lê Phan
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU TRONG BA NGÀNH
MAY MẶC, THỦY SẢN, VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
MụC lụC
LỜI MỞ ÐẦU i
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ÐẾN NÃNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN
VÀ ÐIỆN TỬ QUA KẾT QUẢ ÐIỀU TRA DOANH NGHIỆP 65
4.1 Mẫu điều tra và đánh giá chung 67
4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
hàng may mặc 74
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
thủy sản 89
4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
điện tử 110
MụC lụC
PHẦN THỨ NÃM
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 129
5.1 Một số kết luận 131
5.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao nãng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc, thủy sản và điện tử 134
PHỤ LỤC 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
DANH MụC BẢNG
Bảng 1: Thứ tự các mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD hàng năm 11
Bảng 2: So sánh thay đổi tỷ trọng cơ cấu hàng xuất khẩu theo trình độ công nghệ
giữa các nước trong khu vực (2000- 2008) 13
Bảng 3: Các mặt hàng xuất khẩu và nguyên phụ liệu nhập khẩu tương ứng năm 2010 14
Bảng 4: So sánh kim ngạch xuất- nhập khẩu của cùng một nhóm hàng (năm 2010) 15
Bảng 5: Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu vào các thị trường nước ngoài 17
Bảng 6: Mục tiêu trong Chiến lược ngành dệt may đến 2020 32
Bảng 7: Số doanh nghiệp trong ba ngành và tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu 41
Bảng 8: Giá trị sản xuất công nghiệp ngành điện tử 43
Hình 15: Xu hướng xuất khẩu các nhóm mặt hàng may mặc của Việt Nam vào Mỹ 51
Hình 16: Tình hình xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam vào Mỹ 52
Hình 17: Xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam và các nước khu vực vào Mỹ 52
Hình 18: Giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam 2000 - 2009 54
Hình 19: So sánh mức độ đa dạng hóa thị trường và sản phẩm của thủy sản xuất khẩu
Việt Nam với một số nước trong khu vực năm 2009 57
Hình 20: Xuất khẩu các nhóm sản phẩm điện tử của Việt Nam, 2000 - 2009 59
Hình 21: So sánh mức độ đa dạng hóa thị trường và sản phẩm điện tử
xuất khẩu năm 2009 với một số nước trong khu vực 62
Hình 22: Số doanh nghiệp điều tra phân bổ theo địa điểm và ngành 67
Hình 23: Cơ cấu doanh nghiệp theo địa điểm và ngành 67
Hình 24: Trình độ học vấn của giám đốc doanh nghiệp 68
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Hình 25: Cơ cấu doanh nghiệp theo hình thức tiến hành xuất khẩu chung và từng ngành 69
Hình 26: Hình thức xuất khẩu của tổng mẫu và theo ngành 69
Hình 27: Mức độ ảnh hưởng của chính sách thuế đến kết quả xuất khẩu 70
Hình 28: Mức độ ảnh hưởng của thủ tục hải quan đến kết quả xuất khẩu 71
Hình 29: Mức độ ảnh hưởng của chính sách tín dụng và tỷ giá đến kết quả xuất khẩu 71
Hình 30: Mức độ ảnh hưởng của chính sách lao động 72
Hình 31: Thay đổi mức lương tối thiểu áp dụng cho doanh nghiệp từ 2008-2010 73
Hình 32: Mức độ ảnh hưởng của các hiệp định thương mại và chính sách
nước nhập khẩu 73
Hình 33: Cơ cấu doanh nghiệp đánh giá ảnh hưởng của quy định, hàng rào kỹ thuật
đến xuất khẩu theo các mức độ khác nhau 74
Hình 34: Tỷ lệ DNXK đánh giá thủ tục hải quan còn phức tạp và rất phức tạp 75
Hình 35: Nguyên nhân làm cho thủ tục thuế và hải quan phức tạp 75
Hình 36: Tác động của giảm giá đồng nội tệ đến DNXK năm 2010 76
Hình 37: Những vấn đề đối với DNXK khi vay vốn 77
Hình 38: Ba khó khăn lớn nhất khi vay ngân hàng 78
Hình 63: Số lượng các doanh nghiệp thành viên VASEP 2010-2011 104
Hình 64: Đánh giá mức độ ảnh hưởng xấu và rất xấu của các chính sách
tới kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp 110
Hình 65: Đánh giá của doanh nghiệp về thủ tục thuế phức tạp và rất phức tạp 111
Hình 66: Nguyên nhân làm cho thủ tục thuế phức tạp 112
Hình 67: Đánh giá của doanh nghiệp về thủ tục và quy trình hải quan phức tạp
và rất phức tạp 112
Hình 68: Nguyên nhân làm cho thủ tục hải quan phức tạp 113
Hình 69: Ảnh hưởng của chính sách nới lỏng tỷ giá VND/USD của NHNN
tới doanh nghiệp xuất khẩu điện tử 114
Hình 70: Nguồn gốc mặt bằng sản xuất kinh doanh 115
Hình 71: Thu nhập trung bình của lao động trong doanh nghiệp 116
Hình 72: Cơ cấu sử dụng lao động trong doanh nghiệp xuất khẩu điện tử theo trình độ 118
Hình 73: Tỷ lệ tham gia đào tạo lao động từ 2007 đến nay 119
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Hình 74: Nhu cầu về số lượng lao động của doanh nghiệp 119
Hình 75: Đánh giá về chất lượng lao động của doanh nghiệp 120
Hình 76: Đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp 121
Hình 77: DN trực tiếp sản xuất xuất khẩu và doanh nghiệp gia công 122
Hình 78: Tình hình đầu tư và mở rộng thị trường của doanh nghiệp 125
Hình 79: Tác động mạnh của khủng hoảng tới doanh nghiệp 126
Hình 80: Phản ứng của doanh nghiệp trong bối cảnh khủng hoảng 126
Hình 81: Tỷ lệ DN nhận được hỗ trợ từ Hiệp hội và mức độ hài lòng của DN 127
DANH MụC HỘP
Hộp 1: Thiếu chủ động trong nguyên phụ liệu dệt may 45
Hộp 2: Chỉ số đánh giá mức độ đa dạng hóa thị trường và chỉ số đánh giá mức độ đa
dạng hóa sản phẩm 47
Hộp 3: Các DNXK phải đối mặt với những quy định kiểm duyệt chặt chẽ hơn tại
thị trường Mỹ 50
GAP Thực hành nông nghiệp tốt
GATT Hiệp ước chung về Thuế quan và Mậu dịch
GDP Tổng sản phẩm trong nước
GTGT Giá trị gia tăng
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
IUU Chứng nhận thuỷ sản khai thác
KCN, KCX Khu công nghiệp, Khu chế xuất
MFN Nguyên tắc tối huệ quốc
NAFIQUAD Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NIEs Các nền kinh tế công nghiệp mới
NT Quy chế đối xử quốc gia
SITC Tiêu chuẩn ngoại thương
SOP Quy trình vận hành tiêu chuẩn
TCTK Tổng cục Thống kê Việt Nam
TMCP Thương mại cổ phần
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TTHC Thủ tục hành chính
UNCTAD Hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
UNIDO Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc
USDA Bộ Nông nghiệp Mỹ
VASEP Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
VCCI Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam
VIFEP Viện Kinh tế Quy hoạch Thuỷ sản Việt Nam
VJEPA Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
WWF Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
XNK Xuất nhập khẩu
tới năng lực cạnh tranh trong ba ngành kể trên và đề xuất khuyến nghị chính sách. Nhóm tác
giả hy vọng rằng Báo cáo nghiên cứu sẽ đóng góp những phát hiện quan trọng, phục vụ cho
việc xây dựng chính sách nhằm hỗ trợ phát triển bền vững hơn những ngành công nghiệp đã
và đang có tiềm năng xuất khẩu, qua đó giúp Việt Nam tránh được bẫy thu nhập trung bình
và tiến tới mức phát triển cao hơn.
Báo cáo được trình bày trong năm phần. Phần thứ nhất tổng quan hoạt động xuất khẩu của
Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Phần thứ hai trình bày một số chính sách ảnh hưởng trực tiếp
đến các doanh nghiệp xuất khẩu. Phần thứ ba phân tích tổng quan các doanh nghiệp xuất
khẩu trong ba ngành lựa chọn, gồm may mặc, thủy sản và điện tử. Phần thứ tư phân tích
những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu qua kết quả
điều tra doanh nghiệp xuất khẩu. Và cuối cùng là kết luận và kiến nghị.
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Hiệp hội Thủy sản Việt Nam, Sở
Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp (KCN) và Sở Công thương các tỉnh Hải
Dương, Hưng Yên, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ, Sóc Trăng và nhiều doanh
nghiệp xuất khẩu trong ba ngành đã chọn tại các tỉnh này.
Các tác giả xin chân thành cảm ơn Quỹ Châu Á đã tài trợ thực hiện nghiên cứu và xuất bản
báo cáo này!
Nguyễn Đình Cung
Viện Nghiên cứu và Quản lý Kinh tế Trung ương
iii
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT
Quá trình chuyển đổi kinh tế khá thành công của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ vừa qua
có phần đóng góp rất quan trọng của chính sách hội nhập kinh tế và chiến lược định hướng
xuất khẩu. Những nỗ lực tự do hóa thương mại, thể hiện bằng việc ký kết các hiệp định song
phương và đa phương, đã thu được những kết quả ấn tượng về xuất khẩu, đặc biệt sau khi
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực từ tháng 12/2001 và Việt Nam chính thức
trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ tháng 1/2007 cũng như thực
trong những ngành hàng đó. Báo cáo này đặt trọng tâm vào đánh giá năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam trong ba ngành xuất khẩu chủ lực là may mặc,
thủy sản và điện tử. Đây là ba ngành có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD mỗi năm trong
giai đoạn gần đây.
Nhiệm vụ của Báo cáo là trả lời ba câu hỏi: (1) năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong
ba ngành này đến đâu?; (2) các yếu tố nào ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp trong ba ngành đó; và (3) hướng nào để cải thiện năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp xuất khẩu trong ba ngành?
Cách tiếp cận và phương pháp đánh giá
Ở tổng thể nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu trong một
ngành nhất định có thể được phản ánh tương đối trung thực qua một số chỉ số mang tính
chuyên sâu, hai trong số đó được thế giới hay dùng là chỉ số đa dạng hóa thị trường và chỉ số
iv
đa dạng hóa sản phẩm. Đây là hai chỉ số đo mức độ đa dạng hóa thị trường và đa dạng hóa
sản phẩm của hàng hóa xuất khẩu từ góc độ của một quốc gia ra thị trường thế giới. Cả hai
chỉ số này có thể nhận giá trị từ 0 đến 1, mức độ đa dạng hóa sẽ tăng dần khi giá trị tiến tới 1,
và đạt mức độ lý tưởng khi giá trị của chỉ số bằng 1.
Xuất khẩu hàng hóa sẽ đạt được mức đa dạng hóa lý tưởng chỉ khi cơ cấu hàng hóa của nước
xuất khẩu tương ứng với cơ cấu nhập khẩu của thế giới cũng sản phẩm đó, tức là xuất khẩu
những hàng hóa đúng với cơ cấu mà thế giới đang cần. Vì vậy, giá trị của hai chỉ số này thực
sự hữu ích khi đưa ra những tín hiệu (cảnh báo) ban đầu cho quốc gia và bản thân các doanh
nghiệp xuất khẩu trong ngành để có hướng nghiên cứu, điều chỉnh. Phương pháp chỉ số cũng
giúp các doanh nghiệp nhận biết rằng mình đang sản xuất những mặt hàng thế giới có cần
không? do đó sẽ giúp doanh nghiệp tỉnh táo để cân nhắc không nên xuất khẩu bằng mọi giá,
vì mục tiêu thu nhập trước mắt. Trên thực tế, việc đạt mức độ đa dạng hóa lý tưởng là rất khó
khăn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, mà vấn đề ở chỗ, liệu doanh nghiệp có đủ năng lực
để điều chỉnh cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo nhu cầu thay đổi của thế giới hay không? Hơn
nữa, doanh nghiệp còn phải có sức mạnh để thâm nhập thị trường mới và cạnh tranh với các
sản phẩm cùng loại. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng khó có đủ năng lực công nghệ để tạo
gồm chính sách thuế, hải quan, tỷ giá, tín dụng, lao động, đất đai và mặt bằng
sản xuất; chính sách của nước nhập khẩu và quy định, hàng rào kỹ thuật của nước
nhập khẩu;
v
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU
TRONG BA NGÀNH MAY MẶC, THỦY SẢN VÀ ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
z Năng lực sản xuất của doanh nghiệp, được đánh giá qua vốn và tài sản, lao động, công
nghệ, tiếp cận hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ kinh doanh, nguyên liệu đầu vào và thị trường
đầu ra. Năng lực sản xuất cùng đặc điểm riêng của doanh nghiệp tạo thành năng lực
nội tại của bản thân doanh nghiệp.
z Vai trò của hiệp hội ngành nghề, phòng thương mại và công nghiệp, hội doanh nghiệp
v.v. trong hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp.
z Tự đánh giá triển vọng xuất khẩu trong 3 năm tới và đề xuất kiến nghị của doanh nghiệp.
Mục tiêu của điều tra doanh nghiệp là nhằm xác định rõ các yếu tố bên ngoài cũng như các
yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng đến DNXK trong hoạt động sản xuất, gia công
xuất khẩu. Kết quả đã thu được phiếu trả lời của 174 doanh nghiệp, chiếm 86% tổng số mẫu
điều tra. Cơ cấu 174 DNXK theo ngành và địa điểm điều tra được trình bày trong bảng sau:
Sn phm S DNXK (và t trng)
trong tng s mu
Đa đim điu tra
May mặc 91 doanh nghiệp (52,3%) Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên
TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai
Thủy sản 41 doanh nghiệp (23,6 %) TP. HCM, Đồng Nai, Long An và
Tiền Giang
Điện tử 42 doanh nghiệp (24,1 %) Hà Nội, TP. HCM, Bình Dương,
Đồng Nai
Nhóm tác giả đã phối hợp với Cục Thống kê Hà Nội, Ban Quản lý KCN tỉnh Đồng Nai, và Hiệp
hội Thủy sản Việt Nam thực hiện cuộc điều tra này. Các DNXK được điều tra là doanh nghiệp
sản xuất và/hoặc gia công xuất khẩu, có doanh thu xuất khẩu đạt trên 30% tổng doanh thu
của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp may mặc và thủy sản và có doanh thu xuất khẩu đối
Những chính sách ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu
Phần thứ hai trình bày ba loại chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp xuất khẩu
trong ba ngành may mặc, thủy sản và điện tử, đó là các chính sách khuyến khích xuất khẩu;
các hiệp định thương mại và thực thi cam kết của Việt Nam; các quy định và rào cản của nước
nhập khẩu. Dệt may, thủy sản và điện tử cũng là ba ngành trọng điểm xuất khẩu của Việt Nam,
được thể hiện trong các Chiến lược, quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020 đã được phê
duyệt. Tuy vậy, các chiến lược, quy hoạch này đặt mục tiêu rất cao, trong khi các chính sách để
thực hiện và bước đi lại thiếu rõ ràng. Các chính sách khuyến khích xuất khẩu có khá nhiều,
song nằm ở nhiều văn bản, thuộc các lĩnh vực khác nhau và mức độ, đối tượng hỗ trợ cũng rất
đa dạng. Điều này làm cho quá trình thực thi gặp nhiều khó khăn, trong khi cải cách thủ tục
hành chính, nhất là trong lĩnh vực thuế và hải quan còn chậm. Đáng lưu ý là các công cụ hỗ
trợ tài chính nhằm giảm chi phí hay được sử dụng, trong khi ít thấy những chính sách hỗ trợ
cho DNXK làm quen và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh như các hàng rào phi thuế quan,
tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của nước nhập khẩu. Các quy định ngày càng
khắt khe hơn về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm đối với hàng may mặc, thủy sản và điện tử
là những lời cảnh báo cho thấy cần phải thay đổi về chất lượng xuất khẩu và đó mới chính là
bức tường rào mà DNXK phải vượt qua trong giai đoạn tới.
Tổng quan các doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành may mặc, thủy
sản và điện tử; mức độ đa dạng hóa thị trường và sản phẩm của ba ngành
Phần thứ ba đánh giá tổng quan doanh nghiệp sản xuất, gia công xuất khẩu trong ba ngành
và cho thấy số lượng doanh nghiệp tăng liên tục theo các năm, nhưng tỷ lệ so với toàn ngành
còn thấp. Giá trị tài sản, vốn chủ sở hữu trung bình của DNXK cao hơn mức trung bình của
ngành và việc làm bình quân một DNXK cũng nhiều hơn so với doanh nghiệp không xuất
khẩu cùng ngành. Trong số ba ngành xem xét, các doanh nghiệp điện tử thâm dụng vốn và ít
sử dụng lao động hơn cả, trái với doanh nghiệp may mặc, nơi sản xuất, gia công xuất khẩu chủ
yếu sử dụng lao động kết hợp với công nghệ giản đơn. Ngược với ngành điện tử và may mặc,
xuất khẩu thủy sản chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp tư nhân trong nước, hoạt
động dựa nhiều vào vốn vay làm cho các doanh nghiệp này có phần bị bất lợi, ảnh hưởng đến
năng lực cạnh tranh do phải chịu chi phí vốn cao, khó chủ động trong hoạt động xuất khẩu
và đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu.
đánh giá có ảnh hưởng theo hướng tốt lên cho số đông DNXK là lĩnh vực thuế và hải quan. Trái
lại, chính sách tiền lương tối thiểu, tỷ giá và tín dụng còn khó khăn cho nhiều doanh nghiệp
hơn theo chiều hướng xấu đi, đặc biệt các doanh nghiệp có vốn trong nước ở ngành may
mặc và thủy sản. Đáng lưu ý vẫn còn một số lượng không nhỏ doanh nghiệp chưa biết đến
các chính sách hỗ trợ của nhà nước, hoặc biết nhưng không tham gia, chủ yếu do ngại thủ
tục phức tạp. Trong khi các hiệp định thương mại được đánh giá tốt thì mối lo ngại phải tuân
thủ các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật của nước nhập khẩu lại tăng lên ở các DNXK, đặc biệt
trong ngành thủy sản. Việc các hiệp hội chứng tỏ được vai trò của mình trong cung cấp thông
tin và bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp thành viên có ý nghĩa thiết thực cho các DNXK. Tuy
nhiên, làm thế nào để các DNXK nói chung và doanh nghiệp ngành thủy sản nói riêng tăng
được năng lực, có thể đáp ứng các chính sách và quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng
sản phẩm của khách hàng và nước nhập khẩu hiện đang là bài toán khó cho doanh nghiệp,
nhưng đây lại là lĩnh vực chưa nhận được sự hỗ trợ cần thiết.
Kết quả điều tra đã phản ánh khá rõ năng lực cạnh tranh của các DNXK đang bị ảnh hưởng
theo chiều hướng không tốt bởi các yếu tố: (1) thiếu kép về lao động, trình độ công nghệ chỉ
ở mức trung bình (ngành may mặc và thủy sản) hay dưới mức trung bình (ngành điện tử); (2)
thiếu vốn, đặc biệt ở các DNXK thủy sản và may mặc; (3) hạ tầng giao thông, cảng biển chưa
thuận lợi dẫn đến chi phí cao; (4) giá xăng, điện và nguyên liệu, linh kiện nhập khẩu có xu
hướng tăng trong khi cầu tiêu thụ hàng hóa giảm và cạnh tranh về giá gay gắt hơn. Các DNXK
tuy lạc quan về cơ hội và triển vọng xuất khẩu trong ba năm tới đây, song tự đánh giá của họ
cho thấy sự mong manh về khả năng cạnh tranh của những sản phẩm xuất khẩu được coi là
chủ lực cho đến nay. Nếu như không có những thay đổi về chất và trong mô hình xuất khẩu
hiện hành thì rất có thể các DNXK Việt Nam sẽ khó có đủ năng lực để tham gia vào chuỗi giá
trị ở những khâu mang lại giá trị gia tăng cao hơn.
Hướng nào để tăng năng lực cạnh tranh cho DNXK?
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn và việc thực thi cam kết trong khuôn khổ các hiệp định
thương mại đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực. Điều đó cũng đồng nghĩa cơ hội cho xuất khẩu sẽ
tiếp tục mở rộng hơn, nhưng sẽ có những yếu tố mới nổi lên, đó là hàng rào kỹ thuật từ các
quốc gia nhập khẩu; các tiêu chuẩn chất lượng về hàng hóa sẽ ngày càng được áp dụng nhiều
hơn. Chính những yếu tố này mới thực sự đòi hỏi phải tăng năng lực cạnh tranh của các doanh
tiêu chuẩn kỹ thuật của nước nhập khẩu. Báo cáo nhấn mạnh cần tăng hiệu lực thực thi Luật
Sở hữu Trí tuệ và tăng vai trò của các hiệp hội cũng như hình thành mạng lưới hợp tác giữa
cơ quan quản lý Nhà nước, hiệp hội, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trong hoạt động
nghiên cứu triển khai và hỗ trợ cho doanh nghiệp. Báo cáo kết thúc bằng nhiều đề xuất giải
pháp của bản thân doanh nghiệp trong từng ngành, trong đó các biện pháp nhằm giảm chi
phí sản xuất, giảm chi phí giao dịch được chú trọng trong ngắn hạn và hỗ trợ cung cấp thông
tin, nghiên cứu sản phẩm mới được nhấn mạnh trong trung và dài hạn.
1
PHầN tHỨ NHất
Tổng quan hoạt động
xuất khẩu Việt Nam
giai đoạn 2001- 2010
1.1 Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu 11
1.2 Độ mở cửa nền kinh tế đã rất lớn, trong khi tiềm năng xuất khẩu còn dồi dào 13
1.3 Cơ cấu xuất khẩu 15
1.4 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 18
1.5 Đầu vào, nguyên phụ liệu cho sản xuất xuất khẩu 22
1.6 Cơ cấu thị trường xuất khẩu và cơ cấu mặt hàng 24