Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến năm - Pdf 84

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Thuỷ sản là một trong 4 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong
những năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản (DNXKTS) Việt Nam
không ngừng lớn mạnh, nhưng vẫn còn nhiều điểm yếu, đặc biệt là về năng lực
cạnh tranh (NLCT). Trong thời gian qua, việc nghiên cứu NLCT đã được quan
tâm, nhưng nhìn chung, các công trình nghiên cứu vẫn mang tính cục bộ trên
từng lĩnh vực, ở từng địa phương, hoặc còn nhiều điểm bất cập. Do đó, việc
nghiên cứu một cách toàn diện NLCT của các DNXKTS Việt Nam là một việc
làm cấp thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là dùng lý thuyết cạnh tranh để phân tích và
xác định NLCT của các DNXKTS Việt Nam theo các tiêu chí đặc trưng của
ngành, đánh giá tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu trong năng lực cạnh tranh
này. Từ đó, đề xuất các nhóm giải pháp cùng với các kiến nghị đối với nhà nước
và ngành thuỷ sản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho DNXKTS Việt Nam
đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các DNXKTS Việt Nam. Phạm vi khảo
sát là các DNXKTS ở Đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Nam Bộ, nơi
chiếm đến 87% kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của cả nước. Dữ liệu nghiên cứu
được thu thập đến hết năm 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án này được thực hiện chủ yếu dựa trên phương pháp chuyên gia,
phương pháp hệ thống và phương pháp thống kê mô tả. Các dữ liệu thống kê
được xử lý bằng phần mềm SPSS.
5. Những công trình nghiên cứu có liên quan trước luận án
1
Thời gian qua, việc nghiên cứu NLCT đã được sự quan tâm của nhiều tổ
chức và cá nhân. Có thể đơn cử các công trình tiêu biểu như: Nguyễn Ngọc Bảo
(2001), với “Thị trường Nhật Bản đối với xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong giai

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu
quả nguồn lực để thoả mãn nhu cầu khách hàng mục tiêu, qua đó giành lấy
những vị thế tốt trên thị trường.
1.1.2. Lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là tập hợp những giá trị có thể sử dụng vào việc nắm bắt
cơ hội, là những gì mà chủ thể kinh tế đang có và có thể có, so với các đối thủ
cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh tạo ra sức mạnh của NLCT.
1.1.3. Năng lực cạnh tranh
Các lý thuyết cổ điển
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết cổ điển về NLCT là Adam Smith và David
Ricardo. Theo Adam Smith, nguồn gốc của quá trình thương mại giữa hai hay
nhiều quốc gia là do mỗi quốc gia có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về một ngành
nào đó so với quốc gia khác. David Ricardo cho rằng, các quốc gia không có lợi
thế cạnh tranh tuyệt đối vẫn có thể mua bán trao đổi nhờ có lợi thế tương đối.
Lý thuyết năng lực cạnh tranh của Michael Porter
3
Tâm điểm trong lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter là việc đề xuất mô
hình 5 áp lực: sự cạnh tranh giữa các công ty đang tồn tại; mối đe doạ về việc
một đối thủ mới tham gia vào thị trường; nguy cơ xuất hiện các sản phẩm thay
thế; vai trò của các công ty bán lẻ và cuối cùng là các nhà cung cấp đầy quyền
lực. Ông đã đề xuất mô hình kim cương để đo năng lực cạnh tranh quốc gia
dựa vào phân tích các yếu tố: vốn, chiến lược, nhu cầu thị trường, sự phát triển
ngành dịch vụ hỗ trợ và 2 yếu tố tác động là chính phủ và cơ hội.
Các trường phái khác
a) Các quan điểm không đồng tình với Michael Porter: Scott Hoenig (nhấn
mạnh việc nâng cao doanh thu hơn việc giảm chi phí), Gary Hamel (cho rằng

1.2.6. Năng lực nghiên cứu và triển khai
1.2.7. Vị thế của doanh nghiệp
1.2.8. Năng lực cạnh tranh về giá
1.2.9. Năng lực phát triển quan hệ kinh doanh
1.2.10. Năng lực xử lý tranh chấp thương mại
1.2.11. Văn hoá doanh nghiệp
1.2.12. Thương hiệu.
1.3. Một số yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp, song có 3
nhóm yếu tố có vai trò quan trọng nhất, đó là:
1.3.1. Thị trường
1.3.2. Luật pháp và chính sách
1.3.3. Kết cấu hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ.
1.4. MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1. Ma trận SWOT
SWOT là ma trận đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của
doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích chính xác các yếu tố trên, doanh nghiệp có
thể xác định được chiến lược cạnh tranh phù hợp nhằm phát huy hiệu quả năng
lực, nắm bắt các cơ hội và vượt qua các thách thức.
1.4.2. Mô hình kim cương của Michael Porter
5
Mô hình này đã lý giải những lực lượng tác động đến doanh nghiệp và qua
đó, nâng cao NLCT của doanh nghiệp. Bốn nhóm yếu tố trong mô hình kim
cương phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và tạo nên NLCT quốc
tế của các doanh nghiệp.
Mô hình này đã được vận dụng trong đánh giá xếp hạng NLCT cấp tỉnh ở
Việt Nam. Michael Porter cho rằng, rất nhiều ngành hàng của Việt Nam đã có vị
trí cao trên thế giới như gạo, điều, cà phê, tiêu, thuỷ sản…, trong khi đó không ít

Quy trình đó được mô tả trong sơ đồ sau đây.
7
Mục tiêu nghiên cứu:
Đo lường NLCTcủa DNXKTS Việt Nam,
tìm giải pháp nâng cao NLCT
Nghiên cứu lý
thuyết về phân tích
NLCT của DN
Xác định mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố
cấu thành NLCT của
DNXKTS VN
Thảo luận với chuyên gia về giải pháp nâng cao
NLCT của DNXKTS Việt Nam
Xác định sức mạnh của từng yếu tố NLCT
Đánh giá tổng hợp về NLCT của DNXKTS Việt Nam
Giải pháp và kiến nghị
nhằm nâng cao NLCT của
DNXKTS VN đến năm 2020
Vấn đề nghiên cứu:
NLCT của DN XKTS VN
Đánh giá mức
độ ảnh hưởng
yếu tố môi
trường bên
ngoài đến
NLCT của
DNXKTS VN
Hình 1.2: Khung phân tích NLCT của doanh nghiệp XKTS Việt Nam
Nguồn: Theo kết quả nghiên cứu của tác giả

1.5.4. Phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất
khẩu thuỷ sản Việt Nam
Xây dựng thang đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trên cơ sở các lý thuyết về NLCT, có 66 biến đo lường NLCT được lựa
chọn để khảo sát và dùng Cronbach Alpha kiểm định thang đo. Kết quả cho thấy
các thang đo đều có thể sử dụng được. Có 8 biến quan sát bị loại nên bộ thang
đo NLCT của DNXKTS gồm 10 nhóm yếu tố, 58 biến quan sát.
Triển khai khảo sát
Việc khảo sát được thực hiện với kích thước mẫu là 330. Đối tượng phỏng
vấn là lãnh đạo và các cán bộ quản lý của các DNXKTS. Kết quả thu về 318
phiếu hợp lệ.
Xử lý dữ liệu khảo sát
Từ 318 phiếu khảo sát hợp lệ, dữ liệu được tập hợp và xử lý bằng phần
mềm SPSS. Giá trị trung bình điểm đánh giá của chuyên gia cho NLCT của yếu
tố T
i
được xếp hạng. Nếu 3.0 ≤ T
i
< 3.7 thì NLCT của yếu tố « i » là trung bình.
Nếu 3.7 ≤ T
i
< 4.5 thì NLCT của yếu tố « i » là khá.
1.5.5. Phương pháp đo lường các yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Thiết kế thang đo mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài
Tổng hợp và cân nhắc các yếu tố trong 3 nhóm (yếu tố thị trường, yếu tố
luật pháp và chính sách, yếu tố kết cấu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ), tác giả đề xuất
bộ thang đo với 21 biến quan sát.
Kiểm định thang đo mức độ ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài
9

Tổng sản lượng nuôi trồng thuỷ sản năm 2009 đạt 2.569 ngàn tấn. Sản
lượng khai thác hàng năm có thể đạt khoảng 200.000 tấn. Với việc đẩy mạnh
nuôi trồng và đánh bắt, năm 2009 ngành thuỷ sản đã đạt 4,846 triệu tấn, tăng
hơn 2 lần so với năm 2000.
Tình hình chế biến thuỷ sản
10
Năm 2009, Việt Nam có khoảng 600 cơ sở chế biến thuỷ sản. Công nghệ
chế biến thuỷ sản đã được các doanh nghiệp quan tâm hiện đại hoá. Nhiều cơ sở
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên một số mặt đã tiếp cận được trình độ
thế giới. Tuy nhiên, chế biến thuỷ sản còn thiếu quy hoạch tổng thể, thường ở
dạng quy mô nhỏ, nhiều cơ sở công nghệ còn lạc hậu.
Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam
Thuỷ sản Việt Nam đã có mặt ở 170 nước và vùng lãnh thổ. Năm 2009,
Việt Nam xuất khẩu 1.216 ngàn tấn, đạt 4,25 tỷ USD. Tôm là mặt hàng xuất
khẩu chủ lực, tuy nhiên, xuất khẩu cá đang tăng nhanh, đặc biệt là cá tra, cá
basa. Thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của nước ta là EU, Mỹ, Nhật Bản.
2.1.2. Tình hình doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam
Doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa
Năm 2009, Việt Nam có 281 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa, trong
đó 20 doanh nghiệp lớn nhất có tổng kim ngạch 883,5 triệu USD. Công ty
NAVICO đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu.
Doanh nghiệp xuất khẩu tôm
Năm 2009, Việt Nam có trên 300 doanh nghiệp xuất khẩu tôm, trong đó 60
doanh nghiệp dẫn đầu chiếm 80% tổng kim ngạch. MINH PHU SEAFOOD
CORP là doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất.
Các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản khác
Xuất khẩu cá ngừ có 185 doanh nghiệp, xuất khẩu mực và bạch tuộc có 195
doanh nghiệp. KISIMEX là doanh nghiệp dẫn đầu với tổng kim ngạch là 14
triệu USD.
Nhận xét về doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status