MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế. Trên thực tế, một quốc
gia không thể có sự phát triển phồn thịnh nếu nền kinh tế ở trạng thái tự cung tự
cấp, đóng cửa giao thương với nước ngoài. Không nằm ngoài quy luật ấy, Việt
Nam tham gia vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như một xu hướng tất yếu
của sự phát triển. Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO như một dấu mốc đánh dấu
cho sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng. Bất kì cuộc chơi nào cũng có
tính hai mặt của nó, hội nhập càng sâu Việt Nam càng có nhiều cơ hội lớn và tất
nhiên thách thức đặt ra cũng không hề nhỏ. Trải qua hơn bốn năm chính thức gia
nhập WTO các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước đi phù hợp để tìm
kiếm cho mình một chỗ đứng trên đấu trường quốc tế,khi mà sự cạnh tranh đang
diễn ra từng ngày, từng giờ với tính chất gay gắt và không kém phần khốc liệt -
Thương trường như chiến trường. Tuy nhiên, năng lực cạnh trạnh của các doanh
Nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn được đánh giá là chưa xứng với tiềm năng của
mình nếu không muốn nói là kém, đặc biệt là sức cạnh tranh của các mặt hàng
xuất khẩu liên quan đến cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, hồ tiêu,
cây điều,…còn yếu so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Cây cà phê là cây công nghiệp dài ngày, và có thể nói là thế mạnh của Việt
Nam vì nó có khả năng thích ứng rộng và mang lại giá trịvà hiệu quả kinh tế
cao. Việt Nam có được lợi thế vô cùng lớn về điều kiện khí hậu, đất đai, con
người … thuận lợi cho sự phát triển của cây cà phê. Chính vì thế cây cà phê đã
trở thành mặt hàng mang lại nguồn lợi kinh tế lớn đặc biệt trong hoạt động xuất
khẩu.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam hiện nay lại
gặp nhiều khó khăn và năng lực cạnh tranh còn yếu kém so với các đối thủ như
Ấn Độ, Brazil, Colombia…Trong điều kiện hội nhập như hiện nay, nếu các
doanh nghiệp xuất khẩu và chế biến cà phê nếu không có những giải pháp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình thì sẽ nhanh chóng bị đào thải bởi quy
luật cạnh tranh.
Trong tất cả các thị trường xuất khẩu cà phê thì thị trường EU được đánh
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Vận dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế như chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử,phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê và phương pháp so sánh, sử dụng mô hình kinh
tế….nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài được chia thành ba chương với nội dung bao quát như sau:
Chương I : Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Chương II : Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
cà phê Việt Nam sang thị trường EU
Chương III : Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị
trường EU trong thời gian tới
CHƯƠNG I: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1.1.1.Khái niệm năng lực cạnh tranh
1.1.1.1.Các quan niệm về cạnh tranh
Cạnh tranh có thể được hiểu bằng nhiều phương thức khác nhau. Trong từ
điển Bách Khoa toàn thư, cạnh tranh được định nghĩa là sự cố gắng giành phần
hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm đạt
được những lợi ích như nhau.
Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” của
Adam Smith, ông cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp
nhàng, có lợi cho xã hội. Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải của các dân tộc
tăng lên chủ yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả. Do đó, cạnh tranh có
quan hệ chặt chẽ với cơ chế thị trường. Theo Smith, “Nếu tự do cạnh tranh, các
cá nhân chèn ép nhau, thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công
việc của mình một cách chính xác”, “Cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố
tranh hiện thực và lý tưởng, cạnh tranh được xem xét ở góc độ là một quá trình
động, phát triển chứ không phải là quá trình tĩnh”
Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho
sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Cạnh tranh giúp
khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra các phương tiện mới
để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lượng cao hơn. Từ đó,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của con người. Nhờ cạnh tranh đã thúc
đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thành tựu mới trên
nhiều lĩnh vực.
Do sự phát triển của thương mại và chủ nghĩa tư bản công nghiệp cùng với
ảnh hưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là cuộc
đấu tranh giữa các đối thủ. Trong thực tế đời sống kinh tế, cạnh tranh ngày càng
được xem là một cuộc đấu tranh giữa các đối thủ với mục đích đánh bại đối thủ.
Đặc biệt, trước xu thế hội nhập như hiện nay, cạnh tranh ngày càng trở nên khốc
liệt và phức tạp hơn, trở thành một vấn đề sống còn của doanh nghiệp, doanh
nghiệp nào không thể cạnh tranh được với đối thủ sẽ nhanh chóng bị đào thải ra
khỏi thương trường.
1.1.1.2.Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh
nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá
của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra
những sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác
nhưng có chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh
Một quan niệm khác cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần,
lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong mối
quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục
tiêu xác định”
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quy, “năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
là khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể
hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Là tế bào của nền kinh tế,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc
gia.
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng
lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hoặc một số sản phẩm dịch vụ có năng lực
cạnh tranh.
1.2.CÁC YẾU TỐ CHỦ YẾU TẠO NÊN NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1. Thị phần
Theo khoản 5, điều 3 Luật Cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp đối với
một loại hàng hóa hay dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra
của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh
doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỉ lệ phần trăm
giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất
cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên
quan theo tháng, quý, năm.
Thị phần ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp có thị phần lớn đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp đó càng cao. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chịu chi phí lớn thậm
chí không có doanh thu để chiếm lĩnh thị phần của các doanh nghiệp khác.
1.2.2. Gía cả
Gía cả luôn tác động đến quan hệ cung cầu. Gía thấp thì khối lượng hàng
hóa bán ra sẽ tăng nhưng giá trị hàng hóa không tăng đáng kể thậm chí là giảm.
Ngược lại, khi giá hàng hóa tăng cao thì khối lượng bán ra có thể không tăng
nhưng giá trị hàng hóa có thể tăng mạnh.
1.2.3. Kênh phân phối
Một kênh phân phối hợp lý sẽ không những giảm chi phí trong hoạt động
được sự thay đổi nhu cầu này để điều chỉnh chiến lược kinh doanh hợp lý và
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Mặt khác khi GDP tăng lên cũng có
nghĩa là chi phí về tiền lương của các doanh nghiệp cũng tăng lên. Đây cũng
chính là nhân tố làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Những chính sách kinh tế như chính sách thương mại , chính sách đầu tư,
chính sách tài chính, tỉ giá hối đoái, thuế ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp . Chính sách đầu tư phát triển ảnh hưởng đến phương án
đầu tư của doanh nghiệp,hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng đến khả
năng huy động vốn của doanh nghiệp. Một chính sách đầu tư thuận lợi sẽ thu
được nhiều vốn đầu tư từ bên ngoài ( kể cả vốn đầu tư nước ngoài ). Chính sách
tài chính , lãi xuất tiền vay, tiền gửi ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng
vốn. Khi lãi suất tiền vay cao thì chi phí sử dụng vốn tăng, hiệu quả kinh doanh
giảm. Chính sách tài chính , thuế ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí. Cụ thể là thuế
xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, đây là một khoản chi phí khá lớn trong
sản xuất hoặc kinh doanh xuất nhập khẩu, nếu mức thuế cao thì chi phí tăng lên
giá thành sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp . Chính sách về tỉ
giá hối đoái cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực canh của doanh nghiệp cả trong
và ngoài nước. Khi tỉ giá hối đoái tăng giá trị đồng nội tệ giảm xuống sẽ có lợi
cho hoạt động xuất khẩu, tăng năng lực cạnh tranh về giá trên thị trường nước
ngoài . Đồng thời khi tỉ giá tăng sẽ hạn chế được nhập khẩu vì giá hàng nhập
khẩu sẽ tăng lên, năng lực cạnh tranh của hàng ngoại giảm xuống. Và như vậy
năng lực cạnh tranh của các sản phẩm của doanh nghiệp sẽ tăng cả ở thị trường
trong nước và nước ngoài.
B. Các nhân tố thuộc chính trị, luật pháp.
Môi trường này bao gồm: Luật pháp, các chính sách và cơ chế của
Nhà nước đối với giới kinh doanh. Quan tâm hàng đầu của Nhà nước được thể
hiện trong sự thay đổi của luật kinh doanh là bảo vệ các doanh nghiệp , nhưng
cũng đồng thời nó lại kích thích tính chất cạnh tranh và giữ thái độ trung gian
khi phải đối phó với các xung đột trong cạnh tranh. Điều này bắt buộc các doanh
nghiệp muốn tồn tại phải biết bám lấy hành lang pháp luật để hành động.
lượng phục vụ. Tuy nhiên sản phẩm của doanh nghiệp có tiêu thụ được hay
không phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp muốn có
năng lực cạnh tranh cao trong kinh doanh thì phải tìm cách lôi kéo khách hàng
không những khách hàng hiện tại, khách hàng tiềm năng mà còn cả các khách
hàng của đối thủ cạnh tranh. Nói cách khác, khách hàng là ân nhân của doanh
nghiệp nhưng đôi khi khách hàng có thể trở thành các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
của doanh nghiệp trong tương lai khi họ nắm được công nghệ, phương thức sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
B. Nhà cung ứng
Nhà cung ứng là người cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp .Nếu nhà cung ứng đầu vào tốt thì quá trình
sản xuất kinh doanh sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn,
thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Ngược lại nếu nguồn cung ứng đầu vào không
đảm bảo về số lượng , tính liên tục… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đầu ra.
Chính vì vậy mà việc lựa chọn nhà cung cấp là rất quan trọng . Việc chọn
nhiều nhà cung cấp hay một nhà cung cấp duy nhất là tuỳ thuộc vào mục tiêu,
khả năng, loại hình kinh doanh của doanh nghiệp . Nhưng đảm bảo tối ưu nhất
cho việc cung ứng đầu vào, làm giảm chi phí đầu vào và hạn chế tối đa các rủi
ro để nâng cao được năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
C. Các đối thủ cạnh tranh
Là các yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp . Các đối thủ cạnh tranh, kể cả các đối thủ tiềm ẩn luôn tìm ra mọi
cách, đề ra mọi phương pháp đối phó và cạnh tranh với doanh nghiệp làm cho
lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
bị lung lay, bị tác động mạnh. Thông thường người ta có cảm tưởng rằng việc
phát hiện các đối thủ cạnh tranh là việc đơn giản nhưng thực tế các đối thủ cạnh
tranh hiện tại và tiềm ẩn rộng hơn nhiều. Vì vậy mà doanh nghiệp phải luôn tìm
cách phát hiện ra các đối tượng, phân tích kỹ để đánh giá chính xác năng lực
cạnh tranh thích hợp, chủ động trong cạnh tranh tránh mắc phải " chứng bệnh
cận thị về đối thủ cạnh tranh". Đặc biệt là khả năng của các đối thủ tiềm ẩn.
1.3.2.2. Nguồn nhân lực
Đây là yếu tố quyết định của sản xuất kinh doanh bao gồm:
- Ban giám đốc doanh nghiệp
- Các cán bộ quản lý các cấp trung gian và đội ngũ công nhân viên.
Ban giám đốc là những cán bộ cấp quản lý cao nhất trong doanh nghiệp,
những người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp đồng thời hoạch định chiến lược phát triển và chiến lược kinh
doanh của doanh nghiệp.
Các thành viên trong ban giám đốc ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp . Nếu các thành viên có khả năng, kinh nghiệm, trình
độ, năng lực… thì họ sẽ đem lại cho các doanh nghiệp những lợi ích trước mắt
như tăng doanh thu , tăng lợi nhuận mà còn cả uy tín, lợi ích lâu dài của doanh
nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Thực tế đã chứng minh có nhiều doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả đi
đến thua lỗ phá sản là do trình độ quản lý yếu kém. Như vậy vai trò của nhà
quản trị cấp cao là rất quan trọng đối với doanh nghiệp , nhà quản trị cấp cao
phải biết tổ chức phối hợp để các bộ phận trong doanh nghiệp hoạt động một
cách nhịp nhàng hiệu quả, phải biết biến sức mạnh của cá nhân thành sức mạnh
chung của cả tập thể như vậy sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động , nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp . Đội ngũ cán bộ quản lý cấp trung gian và đội
ngũ nhân viên cũng giữ vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp . Trình độ tay
nghề của công nhân và tinh thần làm việc của họ ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng sản phẩm , tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp . Khi tay nghề lao
động cao cộng thêm ý thức và lòng hăng say nhiệt tình lao động thì việc tăng
năng suất lao động là tất yếu. Đây là tiền đề để doanh nghiệp nâng cao năng lực
cạnh tranh và đứng vững trên thị trường.
Kết hợp và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là yếu tố cần thiết cho
mỗi doanh nghiệp tạo điều kiện cho sản xuất , hoạt động của doanh nghiệp hoạt
động nhịp nhàng trôi chảy, nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
doanh nghiệp cũng phải tương ứng với các nhu cầu đó.
Sự khác biệt về sản phẩm là một công cụ để cạnh tranh hữu hiệu. Nếu doanh
nghiệp có các sản phẩm ưu thế so với các sản phẩm cùng loại thì năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là rất cao, doanh nghiệp có ít đối thủ cạnh tranh.
1.3.2.6. Mạng lưới phân phối và xúc tiến thương mại
Việc tổ chức mạng lưới phối có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp . Nếu doanh nghiệp tổ chức mạng lưới phân phối hợp lý
và quản lý tốt chúng thì sẽ cung cấp hàng hoá tới khách hàng đúng mặt
hàng,đúng số lượng và chất lượng , đúng nơi đúng lúc với chi phí tối thiểu. Như
vậy doanh nghiệp sẽ thoả mãn được tối đa nhu cầu khách hàng đồng thời tiết kiệm
được chi phí lưu thông, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên.
Các nhân tố trên đây có khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp . Điều quan trọng là doanh nghiệp phải
nghiên cứu được tác động nào là lợi thế để phát huy, tác động nào có hại để có
các biện pháp đối phó.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM SANG THỊ
TRƯỜNG EU TRONG THỜI GIAN QUA
2.1.KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG EU
2.1.1.Đặc điểm thị trường EU
2.1.1.1.Tập quán tiêu dùng
Người tiêu dùng EU có sở thích, thói quen sử dụng các sản phẩm có
thương hiệu, nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới. Họ cho rằng nhãn hiệu này gắn
với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, những sản phẩm này sẽ an tâm về
chất lượng hơn, an toàn với người sử dụng hơn. Có khi sản phẩm này giá rất đắt
nhưng họ vẫn mua và không thích đổi sang các sản phẩm không nổi tiếng khác
cho dù giá rẻ hơn nhiều. Với EU, sản phẩm mang tính môi trường dễ thâm nhập
hơn các sản phẩm khác. Người tiêu dùng ở thị trường này ngày càng đòi hỏi
những sản phẩm dễ dàng được nhận diện và được gắn nhãn theo sự khuyến
cơ sở Hiệp định. Những biện pháp được áo dụng chủ yếu trong chính sách này
là hạn ngạch, thuế quan, chống bán phá giá, các rào cản kỹ thuật.
2.1.2. Quy định của EU với nhập khẩu cà phê
Thứ nhất, bao bì và phê thải bao bì :
EU ban hành Chỉ thị 94/62/EEC về đóng gói, phế thải bao bì quy định tỷ
lệ kim loại nặng tối đa trong bao bì, đưa ra yêu cầu đối với quá trình sản xuất,
thành phần của bao bì. Mỗi quốc gia đều có quy định cụ thể và hệ thống riêng về
bao bì, phế thải bao bì cho sản phẩm trên thị trường nhất là sản phẩm nhập khẩu.
Ngoài ra, môi trường cũng là vấn đề đặt ra trong việc sử dụng bao bì. Luật
môi trường về tái sử dụng, tái chế vật liệu đóng gói hay quy định về việc sử
dụng bao bì có thể sử dụng lại nhằm giảm độ độc hại với môi trường được đưa
ra. Bao bì sẽ được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của nguyên
liệu, chất độc hại do sự phát xạ, tro tàn khi đốt cháy hay chôn bao bì.
Thứ hai, quy định bảo vệ người tiêu dùng :
Mục tiêu của nhãn hiệu CE là áp đặt một quy định chung với nhà sản xuất để
chỉ cho phép các sản phẩm an toàn vào thị trường EU. CE chỉ ra rằng một sản
phẩm đáp ứng đúng yêu cầu pháp luật và thị trường của Châu Âu về an toàn sức
khỏe, môi trường, bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, cần chú ý rằng mác CE
không phải là sự đảm bảo về chất lượng.
Thứ ba, quy định về bảo vệ môi trường :
Ở EU, nhiều thỏa thuận mang tính tự nguyền và pháp lý về vấn đề bảo vệ
môi trường được thông qua giữa chính phủ và nhà sản xuất. Các thỏa thuận áp
dụng cho sản phẩm và cả bao bì sản phẩm. Để hàng hóa của mình có thể thâm
nhập vào EU, các nhà xuất khẩu Việt Nam phải tuân thủ những quy định về môi
trường của EU.
Thứ tư, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm :
Với thị trường EU, quy định của HACCP rất quan trọng với những nhà xuất
khẩu ở các nước đang phát triển. Các công ty nhập khẩu thực phẩm đã được chế
biến hay các thành phẩm thức ăn sẽ yêu cầu các nhà cung cấp phải thực hiện
gây thiệt hại không chỉ cho doanh nghiệp, nông dân mà cả hoạt động xuất khẩu
cà phê của Việt Nam. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, do thói quen làm ăn độc
lập nên các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê ít “thỏa thuận với nhau” để tạo được
mặt bằng giá ổn định mà thường vẫn kinh doanh chủ yếu theo kiểu mạnh ai nấy
làm.
Đồng thời, việc liên kết với người trồng cà phê vẫn chưa được chặt chẽ.
Hiện nay trong số gần 150 doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cà phê chỉ có
một số doanh nghiệp lớn đầu tư phát triển vùng nguyên liệu còn đa phần vẫn chỉ
làm thương mại thuần túy. Do vậy, các nhà nhập khẩu nước ngoài nắm được sản
lượng cà phê của các doanh nghiệp trong nước và lại biết doanh nghiệp trong
nước cần bán được hàng để có vốn xoay vòng nên việc ép giá diễn ra thường
xuyên, gây ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
2.2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu cà
phê Việt Nam sang thị trường EU
2.2.2.1.Về thị phần của cà phê của Việt Nam tại thị trường EU
Việt Nam đang được đánh giá là quốc gia xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 thế giới,
sau Brazil.
Bảng 2.1. Thị phần một số nước xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới năm 2011
Tiêu thụ thế giới Nước
Sản lượng
(nghìn tấn)
Thị phần (%)
Nguồn cung Brazil 1975 32
Việt Nam 1200 19
Colombia 630 10
Indonesia 475 7,5
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Ngân hàng thế giới
EU là một thị trường quan trọng nhất của xuất khẩu cà phê Việt Nam.95%
cà phê Việt Nam sản xuất ra là để xuất khẩu, trong đó thị trường EU chiếm đến
46% lượng cà phê xuất khẩu.(hình 2.1).
2009 17 32 16 9
2011 19 32 15 10
Nguồn : Tổng hợp từ ICO
Thị phần của mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam ở thị trường EU kém ổn
định, liên tục thay đổi qua các năm (bảng 2.2). Xét một cách tương đối thì có thể
nói năng lực cạnh tranh của cà phê xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU về
mặt thị phần đang tỏ ra yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị
trường này như Brazil, Colombia, Indonesia,… Trong khi thị phần của các đối
thủ cạnh tranh này tăng trưởng một cách ổn định và có chiều hướng gia tăng thì
thị phần cà phê xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU lại bất ổn định, xu
hướng tăng trưởng, mở rộng thị phần thấp.
2.2.2.2. Về giá cả của cà phê Việt Nam tại thị trường EU
Giá cà phê xuất khẩu Việt Nam luôn biến động theo giá cả cà phê thế giới và có xu
hướng giảm sút trong nhiều năm qua. Trong những tháng đầu niên vụ (tháng 10, 11 và
12/2005), giá bình quân của cả nước khá thấp (bình quân tháng 10/2005 chỉ đạt 813.32
USD/tấn. Những tháng đầu năm 2006, giá cà phê xuất khẩu liên tục tăng cao từ 1.169
USD/tấn và đến tháng 6 năm 2006 đạt trên 1.570 USD/tấn. Giá cà phê bình quân đầu
năm 2006 đạt khoảng 1.142 USD/tấn.
Năm 2007, giá cà phê Việt Nam đã tăng so với năm 2006, điển hình là vào tháng
11/2007 giá cà phê xuất khẩu Việt Nam đạt 1.731 USD/tấn giảm 20 USD/tấn so với
tháng 10/2007. Năm 2008, đã có sự tăng đột biến về mức giá cà phê xuất khẩu Việt
Nam khi mức giá trung bình cả năm đạt 2.041 USD/tấn (bảng 2.3), tăng 31,4% so với
năm 2007 và đây cũng là mức giá cao nhất trong những năm 2005-2009. Năm 2009
mức giá trung bình của cà phê xuất khẩu Việt Nam chỉ đạt 1800 USD/tấn. Chính điều
này đã góp phần làm cho kim ngạch xuất khẩu cà phê Việt Nam nói chung đã giảm 9,6
% , (năm 2008 kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt 1.954.368.230 USD trong khi năm 2009
chỉ đạt 1.764.231.865 USD).
Bảng 2.3. Giá trung bình của mặt hàng cà phê xuất khẩu Việt Nam 2005 – 2011