TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM Giáo viên hướng dẫn: THS. VŨ THỊ HẠNH
Sinhviên thực hiện: LẠI HUYỀN TRANG
Lớp: ANH 19 - K42 KTNT Hà Nội - 2007
2.7. Năng suất lao động 18
3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 19
3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 20
3.1.1.Nhóm các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô 20
3.1.2 Nhóm các nhân tố thuộc môi trường vi mô 22
3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 25
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
2
3.2.1. Nguồn nhân lực 25
3.2.2. Trình độ công nghệ 26
3.2.3. Sản phẩm 27
3.2.4. Qui mô, khả năng tài chính, kinh nghiệm quản lí 28
4. Các hình thức cạnh tranh giữa doanh nghiệp 29
4.1. Cạnh tranh về sản phẩm 29
4.2. Cạnh tranh về giá cả 30
4.3. Cạnh tranh trong thiết lập mạng lưới kênh phân phối 31
4. 4. Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo 31
4.5. Cạnh tranh bằng hoạt động dịch vụ trước trong và sau khi bán hàng 32
5. Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam 32
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 35
I. Đánh giá sơ bộ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam thông
qua một số chỉ tiêu cơ bản 35
1. Về qui mô và số lƣợng doanh nghiệp 35
2. Về mô hình tổ chức và quản lí 36
3. Về nguồn nhân lực 36
4. Về sản phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu 37
5. Chiến lƣợc phân phối 39
2.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam 61
2.1.1. Về số lượng và qui mô doanh nghiệp: 61
2.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực: 62
2.1.3. Về hiệu quả hoạt động kinh doanh 63
2.1.4. Thực trạng các đối thủ cạnh tranh 63
2.1.5. Thực trạng sản phẩm và chất lượng sản phẩm 64
2.1.6. Thực trạng giá 67
2.1.7. Thực trạng thị trường, thị phần xuất khẩu: 67
2.1.8. Thực trạng nguồn cung cấp nguyên liệu 71
2.1.9. Thực trạng công nghệ và ứng dụng công nghệ 72
2.1.10. Về bộ máy tổ chức quản lí 73
2.2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam 73
2.2.1. Về qui mô và số lượng doanh nghiệp 73
2.2.2. Về nguồn nhân lực 74
2.2.3. Về sản phẩm và chất lượng sản phẩm 75
2.2.4. Về trình độ công nghệ 75
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI 77
I. Bài học kinh nghiệm từ một số nƣớc trên thế giới 77
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
4
1. Bài học từ phía Trung Quốc 77
2. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia khác 79
II. Những cơ hội và thách thức chủ yếu đối với các doanh nghiệp xuất khẩu khi Việt
Nam gia nhập WTO và định hƣớng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
xuất khẩu Việt Nam trong tình hình mới 81
1. Cơ hội 81
2. Thách thức 81
3. Định hƣớng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
tiên tiến, có khu vực thị trƣờng tự do, bình đẳng để phát triển các hoạt động kinh
doanh Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích trên, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam cũng phải đƣơng đầu với một thử thách lớn; đó là môi trƣờng cạnh tranh tự do
không có sự bảo hộ của Nhà nƣớc, môi trƣờng khốc liệt với qui luật đào thải gay
gắt, doanh nghiệp buộc phải có những nỗ lực mạnh mẽ để có thể tồn tại. Trƣớc bối
cảnh đó, vấn đề nâng cao năng lực năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu
Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, đã và đang trở nên hết sức cấp thiết cả về lí luận
và thực tiễn. Với hi vọng đóng góp một phần nào vào việc giải quyết vấn đề này, tôi
đã chọn đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh cua doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Làm rõ thêm về mặt lí luận năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam để đƣa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp này trong giai đoạn hội nhập.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Về mặt lí luận, luận văn cần phải trả lời các câu hỏi sau:
+ Thế nào là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
+ Có những tiêu chí nào để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
+ Có những nhân tố nào có thể ảnh hƣởng đến năng lực canh tranh của
doanh nghiệp?
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
6
+ Tại sao phải nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
nhất là trong bối cảnh hội nhập hiện nay?
- Về mặt thực tiễn, nhiệm vụ của luận văn là:
+ Đánh giá đƣợc thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất
khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, do đây là một đề tài tƣơng đối rộng; nên trong khuôn
khổ của khoá luận này, tôi xin đƣợc đánh giá một cách sơ bộ thực trạng năng lực
I. Về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng
1. Khái niệm và phân loại về cạnh tranh
1.1.Khái niệm về cạnh tranh
Một đặc trƣng của nền kinh tế thị trƣờng là sự cạnh tranh khốc liệt diễn ra
từng phút từng giây. Cạnh tranh tồn tại cùng với sự tồn tại của kinh tế thị trƣờng, ở
đâu có sản xuất trao đổi hàng hoá thì ở đó có cạnh tranh. Và cạnh tranh trở thành
động lực phát triển cho nên sản xuất xã hội.
Cạnh tranh là một khái niệm rộng, tồn tại trong mọi lĩnh vực xã hội chứ
không chỉ riêng trong kinh doanh. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh:
- Theo Marx thì "Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà
đầu tƣ nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch".
- Theo từ điển kinh doanh xuất bản năm 1993 ở Anh thì "Cạnh tranh trong cơ
chế thị trƣờng là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài
nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình ".
Một cách tổng hợp nhất có thể đƣa ra khái niệm về cạnh tranh nhƣ sau: “Cạnh
tranh là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ thể kinh tế ganh đua nhau,
tìm mọi biện pháp để đạt được mục đích chủ yếu của mình như: chiếm lĩnh thị
trường, giành lấy khách hàng, cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất, nhằm nâng
cao vị thế của mình trên thương trường”.
Ở Việt Nam, đề cập đến “cạnh tranh“, một số nhà khoa học cho rằng, cạnh
tranh là vấn đề dành lợi thế về giá cả hàng hóa, dich vụ và đó là phƣơng thức để có
đƣợc lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt
động cạnh tranh trên thị trƣờng của các chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp
giá các yếu tố “đầu vào” sao cho mức chi phí là thấp nhất. Nhƣ vậy, trên quy mô
toàn xã hội, cạnh tranh là phƣơng thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ƣu và do
đó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, đồng thời
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
kinh tế. Mỗi doanh nghiệp dù muốn hay không vẫn phải chấp nhận sự cạnh tranh.
1.2.2. Vai trò của cạnh tranh đối với họat động của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
9
Cạnh tranh có vài trò rất lớn và quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh
tế nói chung và bản thân mỗi doanh nghiệp. Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng cần
phải duy trì sự cạnh tranh. Đứng ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức
mà Nhà nƣớc sử dụng để chống độc quyền, tạo cơ hội để ngƣời tiêu dùng có thể lựa
chọn đƣợc những sản phẩm có chất lƣợng tốt, giá rẻ. Chính vì vậy duy trì sự cạnh
tranh là nhằm bảo vệ lợi ích ngƣời tiêu dùng. Đứng ở góc độ doanh nghiệp, cạnh
trannh sẽ là điều kiện thuận lợi để mỗi doanh nghiệp tự khẳng định vị trí của mình
trên thị trƣờng, tự hoàn thiện bản thân để vƣơn lên dành ƣu thế so với các đối thủ
cạnh tranh khác.
Trên thị trƣờng, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là cuộc cạnh tranh khốc
liệt nhất nhằm giành giật ngƣời mua, chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ, tạo ƣu thế về
mọi mặt cho doanh nghiệp nhằm thu đƣợc lợi nhuận lớn nhất.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải sản xuất và cung ứng những hàng
hóa và dịch vụ mà thị trƣờng cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phong
phú của khách hàng. Cạnh tranh thực chất là một cuộc chạy đua không có đích, là
quá trình các doanh nghiệp đƣa ra các biện pháp kinh tế tích cực và sáng tạo nhằm
đứng vững trên thƣơng trƣờng và tăng lợi nhuận trên cơ sở tạo ra ƣu thế và sản
phẩm, giá bán và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp muốn tạo ra ƣu thế về
sản phẩm và giá bán thì phải tăng chất lƣợng sản phẩm và giá bán phải rẻ. Muốn
vậy, mỗi doanh nghiệp phải không ngừng đƣa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ, bên cạnh đó phải
tối ƣu hóa các yếu tố đầu vào của sản xuất để giảm thiểu chi phí sản xuất. Trong cơ
chế thị trƣờng, doanh nghiệp nào cung cấp hàng hóa dich vụ với chất lƣợng tốt mà
giá thành rẻ nhất thì sẽ chiến thắng. Chính vì vậy, cạnh tranh sẽ loại bỏ các doanh
nghiệp có chi phí cao trong sản xuất kinh doanh và khuyến khích, tạo điều kiện cho
sẽ có “điểm dừng”. Sau một thời gian nhất định sẽ hình thành một giá thị trƣờng
thống nhất và doanh nghiệp nào có chi phí bình quân cao sẽ bị phá sản, còn các
doanh nghiệp có chi phí bình quân thấp sẽ thu đƣợc lợi nhuận và phát triển.
+ Cạnh tranh ngang: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình
quân thấp nhất nhƣ nhau. Do đặc điểm này nên sẽ không có doanh nghiệp nào bị
loại ra khỏi thị trƣờng song giá cả thấp ở mức tối đa, chỉ có ngƣời mua hƣởng lợi
nhiều nhất còn lợi nhuận doanh nghiệp giảm dần. Sau một thời gian nhất định sẽ
xuất hiện khuynh hƣớng: Hoặc liên minh với nhau bán hàng giá cao, giảm lƣợng
bán tiến tới độc quyền, hoặc tìm cách giảm chi phí bằng cách nâng cao năng lực
quản lý, tổ chức và hiện đại hóa công nghệ , tức là chuyển sang cạnh tranh dọc,
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
11
nhƣ trên.
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh
Các thành phần kinh tế đều nằm trong tổng thể nền kinh tết quốc dân, có mối
liên hệ thông nhất và mâu thuẫn với nhau. Chính từ sự thông nhất và mâu thuẫn này
làm nảy sinh cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế với nhau.
- Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh
Trong cạnh tranh, các chủ thể kinh tế sẽ dùng tất cả các phƣơng phá, cả nghệ
thuật lẫn thủ đoạn, để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình. Có những biện pháp cạnh
tranh hợp pháp hay cạnh tranh lành mạnh. Ngƣợc lại, có những thủ đoạn phi pháp,
nhằm tiêu diệt đối phƣơng chứ không phải bằng nỗ lực vƣơn lên của mình, gọi là
cạnh tranh bất hợp pháp hay là cạnh tranh không lành mạnh.
- Xét theo hình thái cạnh tranh
+ Cạnh tranh hoàn hảo gay gọi là cạnh tranh thuần túy là tình trạng cạnh tranh
mà giá cả của một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ các nơi của thị trƣờng
do có nhiều ngƣời bán và ngƣời mua, họ có đủ thông tin về các điều kiện của thị
trƣờng. Trên thực tế đời sống kinh tế, ít tồn tại hình thái cạnh trạnh hoàn hảo này.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thái chiêm ƣu thế trong các ngành sản
các đặc tính về chất lƣợng và dịch vụ ngang bằng hay cao hơn. Nhìn chung, khi xác
định sức cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành cần xem xét đến tiềm
năng sản xuất kinh doanh một hàng hóa hay một dịch vụ ở mức giá ngang bằng hay
thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải trợ cấp.
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế (OECD) đã lựa chọn một định nghĩa cố gắng kết hợp cho cả doanh nghiệp,
ngành, quốc gia nhƣ sau: ”sức cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành,
quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế”. Định nghĩa này theo chúng tôi là phù hợp và phản ánh đƣợc
khái niệm cạnh tranh quốc gia trong mối liên hệ gắn kết với hoạt động cạnh tranh
của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống cho nhân dân.
- Về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh (còn gọi là sức cạnh tranh) là khả năng giành đƣợc thị
phần lớn trƣớc các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng, kể cả khả năng giành lại một
phần hay toần bộ thị phần của đồng nghiệp (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2000,
NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, trang 349)
Theo định nghĩa này, có thể thống nhất bốn thuật ngữ hiện đang đƣợc sử dụng;
năng lực cạnh tranh, sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh và tính cạnh tranh đều có
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
13
nội dung tƣơng tự nhau và hiểu tên của chúng một cách nhất quán trong khoá luận
này là “năng lực cạnh tranh”.
2.2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể đƣợc phân biệt thành bốn cấp độ:
- Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
- Năng lực cạnh tranh cấp độ ngành.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ phân biệt trên đây có tƣơng quan mật thiết
tin đầy đủ. Mặt khác, môi trƣờng cạnh tranh thuận lợi sẽ tạo khả năng cho chính
phủ hoạch định chính sách phát triển, cải thiện đầu tƣ, tăng cƣờng hợp tác quốc tế
và hội nhập ngày càng có hiệu quả, sẽ ảnh hƣởng quyết định đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp.
Ngoài các yếu tố về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý kinh tế các yếu tố
chủ yếu tác động đến năng lực cạnh tranh quốc gia, bao gồm:
- Độ mở cửa kinh tế.
- Vai trò của chính phủ: vai trò và mức độ can thiệp của nhà nƣớc vào hoạt
động cạnh tranh.
- Công nghệ: Là mức độ đầu tƣ cho nghiên cứu triển khai, trình độ công nghệ
và tích lũy kiến thức công nghệ
- Cơ sở hạ tầng.
- Hệ thống quản lý, chất lƣợng quản lý nói chung.
- Tài chính ngân hàng.
- Lao động là số lƣợng và chất lƣợng lao động, hiệu lực và tính linh hoạt của
thị trƣờng lao động.
- Thể chế, hiệu lực của pháp luật và thể chế của xã hội đặt nền móng cho nền
kinh tế hiện đại mang tính cạnh tranh, bao gồm quy định của luật pháp và quyền sở
hữu.
Từ năm 2000, WEF điều chỉnh lại các nhóm tiêu chí, gộp lại thành ba nhóm
lớn để đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia là: sáng tạo kinh tế, khoa học công
nghệ, tài chính, quốc tế hóa. Trong đó, trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công
nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 đến 1/3.
Theo phân tích và đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì sức vƣơn
lên trong hội nhập, cạnh tranh của nền kinh tế nƣớc ta chƣa mạnh, trong khi xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra yêu cầu rất cao tới năng lực cạnh tranh của các
quốc gia và năng lực cạnh tranh của cấp quốc gia ảnh hƣởng rất lớn đến năng lực
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
15
hay không. Nghĩa là hàng hoá của mình có thể bán đƣợc không và rằng lâu dài việc
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
16
bán hàng có mang lại nhiều lợi nhuận cho mình hay không. Doanh nghiệp phải
thƣờng xuyên xem xét đánh giá những mặt mà doanh nghiệp có thể làm đƣợc tốt
hơn so với các đối thủ. Rõ ràng là để doanh nghiệp có sức cạnh tranh trên thị
trƣờng, cần phải có ý chí lâu dài để duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh, nhằm
nâng cao năng suất và đạt hiệu quả kinh tế ngày càng cao. Một mặt, doanh nghiệp
phải đảm bảo tính lâu dài, mặt khác phải lấy chỉ số tổng hợp về thị phần chiếm đƣợc
bao nhiêu làm tiêu biểu. Từ đó doanh nghiệp có thể đạt đƣợc lợi nhuận cao và có
thể lấy đó làm mục tiêu cần đạt đƣợc.
2. Các chỉ tiêu phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Có rất nhiều chỉ tiêu phản ánh năng lực canh tranh của doanh nghiệp. Trong
đó, điển hình nhất là một số chỉ tiêu sau:
2.1. Doanh số
Là số tiền bán hàng thu đƣợc trong một thời gian nhất định.
Doanh số = giá bán x số sản phẩm bán ra
Trên thực tế, ngƣời ta không chỉ xem xét thuần tuý về giá trị mà còn chú trọng
về mặt hiện vật của số sản phẩm bán ra đó, kể cả số lƣợng và chất lƣợng. Trong khi
lợi nhuận chỉ rõ khả năng sinh lời thì doanh số lại cho biết quy mô hay tầm cỡ của
doanh nghiệp lớn hay nhỏ ở mức nào. Tuy nhiên, không phải khi nào doanh số của
hãng này lớn hơn hãng kia, thì cũng có nghĩa là lợi nhuận của nó cũng sẽ lớn hơn
một cách tƣơng ứng. Điều này do sự tác động của nhiều yếu tố chi phối nhƣ việc
lựa chọn loại hình kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, chất lƣợng kinh doanh
2.2. Thị phần của doanh nghiệp
Là phần thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Đây là một
chỉ tiêu đƣợc sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Số sản phẩm bán ra của Doanh Nghiệp
Thị Phần =
tiêu này còn gọi là những mục tiêu tạo lợi thế cạnh tranh hay mục tiêu thế lực. Khi
doanh số và thị phần càng vƣợt xa đối thủ, doanh nghiệp càng có nhiều lợi thế trong
cuộc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trƣờng và thao túng giá cả. Mức lợi thế áp đảo tuyệt
đối sẽ dẫn tới sự lũng đoạn và độc quyền thị trƣờng, hình thành giá cả lũng đoạn và
lợi nhuận lũng đoạn.
2.3. Lợi nhuận
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
18
Lợi nhuận đƣợc định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa tổng
doanh thu và tổng chi phí. Chỉ tiêu lợi nhuận là thƣớc đo hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất, là điều kiện để tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Để cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho thị trƣờng các nhà sản xuất phải bỏ
tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ mong muốn cho chi phí đầu vào ít
nhất và bán hàng hoá với giá cao nhất để sau khi trừ đi các chi phí còn số dƣ dôi để
không chỉ sản xuất giản đơn mà còn tái sản xuất mở rộng, không ngừng tích luỹ
phát triển sản xuất, cũng cố và tăng cƣờng vị trí của mình trên thị trƣờng để nâng
cao khả năng của doanh nghiệp.
2.4. Tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn cho biết mức sinh lời của đồng vốn dùng trong kinh
doanh. Tỷ suất này thể hiện sự bù đắp chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn. Thông
thƣờng đồng vốn đƣợc coi là sử dụng có hiệu quả nếu tỷ lệ nói trên cao hơn mức
sinh lời khi đầu tƣ vào các cơ hội khác hay ít nhất phải cao hơn mức lãi suất tín
dụng ngân hàng.
Doanh thu – Giá thành
Tỉ suất lợi nhuận =
Doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm năng
của doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh
tranh của hàng hoá ta có thể thấy đƣợc năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là một tổng thể, bao gồm nhiều nhân
tố.
Chất Lượng: Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu của năng lực cạnh tranh. Khi
chất lƣợng cuộc sống ngày càng tăng thì ngƣời ta càng có xu hƣớng lựa chọn hàng
hoá đẹp, tốt, có chất lƣợng cao hơn là chọn hàng hoá có giá rẻ. Tuỳ theo mặt hàng
mà tiêu chí chất lƣợng có thể thay đổi. Đối với hàng tiêu dùng, thì những hàng hoá
có kiểu dáng hiện đại, màu sắc phù hợp với thị hiếu, chất lƣợng tốt sẽ thu hút
khách hàng và đƣợc lựa chọn. Đối với mặt hàng thiết bị máy móc, tiêu dùng dài
ngày thì sự ƣu việt của các tính năng, độ tin cậy cao, tiện nghi sử dụng là những yếu
tố quyết định.
Giá Cả: Giá cả cũng là một yếu tố có sức lôi cuốn ngƣời mua, và đƣợc ngƣời
mua cân nhắc khi mua một sản phẩm nào đó. Tuy nhiên giá thấp chƣa chắc đã là lợi
thế, cái quyết định là tƣơng quan hợp lý của giá và chất lƣợng. Trong trƣờng hợp,
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
20
khi hàng hoá có giá trị tƣơng đƣơng nhau, thì hàng hoá của doanh nghiệp nào có giá
thấp hơn thì hàng hoá đó dễ bán hơn, và có năng lực canh tranh cao hơn.
Chi Phí Sử Dụng: Đối với những hàng hoá sử dụng dài ngày thì chi phí sử
dụng là yếu tố quan trọng. Chi phí sử dụng thấp sẽ làm cho hiệu quả sử dụng cao.
Ngƣời mua hàng rất quan tâm đến yếu tố này, bởi vì, nhiều khi chi phí sử dụng có
thể vƣợt xa chi phí mua hàng. Hàng giá thấp nhƣng chi phí sử dụng cao có thể làm
cho tổng chi phí vẫn cao và sử dụng không kinh tế.
Chi phí sử dụng thƣờng là chi phí cho việc tiêu tốn năng lƣợng, nhiên liệu, vật
liệu kỹ thuật, chi phí cho ngƣời vận hành, chi phí bảo dƣỡng, duy tu Để chi phí
sử dụng thấp thì sản phẩm phải đƣợc chế tạo hoàn hảo, trình độ kĩ thuật cao.
Phục Vụ Kĩ Thuật Khi Bán và Sau Bán (Hậu Mãi): Để tạo thuận lợi và lôi
cuốn ngƣời mua, các doanh nghiệp thƣờng cung cấp những dịch vụ miễn phí nhƣ
chở hàng đển tận nơi, lắp đặt, hƣớng dẫn bảo hành Đó là những phục vụ kỹ thuật
sự suy thoái kinh tế thế giới và khu vực, nên tỷ lệ lạm phát luôn đƣợc giữ ở mức
thấp nhất các doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tƣ sản xuất, mua thêm máy móc
trang thiết bị.
Tuy nhiên, chính sách mở cửa và định hƣớng hội nhập kinh tế quốc tế của
Đảng và Nhà nƣớc ta sẽ tác động tới sức cạnh tranh của hàng hoá trong nƣớc so với
hàng hoá của nƣớc ngoài. Sức cạnh tranh này phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó
quan trọng nhất là chất lƣợng, chủng loại, mẫu mã và giá cả. Đặc biệt khi tham gia
vào WTO, giá cả hàng hoá sẽ hạ thấp vì thuế quan đƣợc cắt giảm và thủ tục hành
chính đƣợc đơn giản hoá. Chất lƣợng, mẫu mã hàng hoá cũng sẽ đƣợc thay đổi do
sức ép cạnh tranh trong nội bộ WTO.
b. Các nhân tố thuộc chính trị, luật pháp
Một thể chế thống trị, một hệ thống luật pháp rõ ràng và ổn định sẽ là cơ sở
bảo đảm sự thuận lợi, bình đẳng cho doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, cạnh tranh
lành mạnh và có hiệu quả. Chẳng hạn các luật thuế có ảnh hƣởng rất lớn đến điều
kiện cạnh tranh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các
loại thành phần và trên mọi lĩnh vực. Hay các chính sách của Nhà nƣớc về xuất
nhập khẩu, về thuế xuất nhập khẩu, nhập khẩu cũng sẽ ảnh hƣởng lớn đến năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nƣớc so với các doanh nghiệp sản
xuất ở nƣớc ngoài.
c. Các nhân tố về khoa học công nghệ
Nhóm các nhân tố về khoa học công nghệ ngày càng quan trọng và có ý
nghĩa quyết định đến năng lực cạnh tranh. Nó tác động một cách quyết định đến hai
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
Sinh viên Lại Huyền Trang Lớp A19K42 KTNT
22
yếu tố cơ bản nhất tạo nên năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trƣờng, đó là chất
lƣợng và giá bán. Khoa học công nghệ tác động đến chi phí cá biệt của các doanh
nghiệp, qua đó tạo nên sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá nói riêng và năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Đối với các nƣớc chậm và đang phát triển,
giá cả và chất lƣợng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy nhiên, trên thế
mình chiến lƣợc cạnh tranh thích hợp với môi trƣờng chung của ngành.
Sự đe doạ của các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn sẽ gia nhập thị trƣờng
Những doanh nghiệp mới tham gia thị trƣờng trực tiếp làm tăng tính chất quy
mô cạnh tranh trên thị trƣờng ngành do tăng năng lực sản xuất và khối lƣợng sản
xuất trong ngành. Trong quá trình vận động của lực lƣợng thị trƣờng, trong từng
giai đoạn, thƣờng có những đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trƣờng và những đối
thủ yếu hơn rút ra khỏi thị trƣờng. Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn các
doanh nghiệp thƣờng thực hiện các chiến lƣợc nhƣ phân biệt sản phẩm, nâng cao
chất lƣợng, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn
thiện sản phẩm nhằm làm cho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt
hoặc nổi trội hơn trên thị trƣờng, hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ
Sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp mới gia nhập thị trƣờng ngành phụ thuộc
chặt chẽ vào đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và mức độ hấp dẫn của thị
trƣờng đó.
Sức ép của khách hàng
Sức mạnh khách hàng thể hiện ở chỗ họ có thể buộc các nhà sản xuất phải
giảm giá bán sản phẩm thông qua việc tiêu dùng ít sản phẩm hơn hoặc đòi hỏi chất
lƣợng sản phẩm cao hơn.
c. Khả năng thâm nhập thị trường của doanh nghiệp tiềm ẩn
Cạnh tranh trong ngành sẽ trở nên gay gắt và khốc liệt hơn nếu xuất hiện
thêm các doanh nghiệp tham gia vào kinh doanh trong ngành. Các doanh nghiệp cũ
trong ngành có lợi thế hơn các doanh nghiệp tiềm ẩn về các mặt sau: uy tín, sản
phẩm, các kênh phân phối Tuy nhiên, các đối thủ tiềm ẩn lại có lợi thế về công
nghệ sản xuất, có đƣợc kinh nghiệm từ các doanh nghiệp đang tồn tại. Đồng thời họ
có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để gây sự chú ý của khách hàng, tạo dựng
uy tín và giành thị phần tiêu thụ. Các hàng rào gia nhập ngành càng thấp thì nguy cơ
gia nhập mới của các đối thủ tiềm ẩn càng cao. Khi đó, sức cạnh tranh của doanh
nghiệp sẽ yếu đi nếu doanh nghiệp không áp dụng vào các biện pháp, các chính
sách nhằm sử dụng một cách hữu hiệu nhất các công cụ cạnh tranh.
d. Các đơn vị cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp
Sản phẩm thay thế làm giảm đi tính cần thiết, mức độ quan trọng của các sản phẩm
bị thay thế.
Sản phẩm thay thế hầu hết đƣợc sản xuất theo những dây chuyền máy móc
tiên tiến hơn, do đó nó có sức cạnh tranh cao hơn. Mặc dù các sản phẩm thay thế