1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUYỀN
T
T
Ì
Ì
M
MH
H
I
I
Ể
Ể
U
UC
C
Á
Á
C
CH
H
O
O
Ạ
Ạ
T
TĐ
Đ
Ộ
Ộ
N
N
G
G
A
AC
C
Ủ
Ủ
A
AN
N
Ô
Ô
N
N
G
GD
D
Â
Â
N
N
Ộ
ỘH
H
I
I
Ệ
Ệ
N
NN
N
A
A
Y
Y
Ể
Ể
U
UM
M
Ộ
Ộ
T
TS
S
Ố
ỐB
B
I
I
Ế
Ế
N
N
N
N
G
GG
G
I
I
Ả
Ả
I
IT
T
R
R
Í
ÍV
V
Ă
Ă
N
N
Â
Â
N
NĐ
Đ
Ồ
Ồ
N
N
G
GB
B
Ằ
Ằ
N
N
G
GB
B
Ắ
Ắ
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Xuân Trường Hà Nội -2012
1
MỤC LỤC
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3
DANH MỤC BẢNG 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1. Lý do chọn đề tài 4
2. Ý nghĩa của đề tài 6
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
3.1. Mục đích nghiên cứu 6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu 7
4.2. Khách thể nghiên cứu 7
2.2.1. Thời gian rỗi của người nông dân thời kì hội nhập 42
2.2.2 Sự biến đổi các hoạt động tham gia giải trí văn hoá trong thời gian rỗi 45
2.2.3. Các hoạt động văn hoá đặc trưng: hội hè, đình đám 54
2.3. Các nhân tố tạo nên sự khác biệt trong việc tham gia các hoạt động
giải trí văn hóa của người dân 59
2.3.1 Các yếu tố nhân khẩu học 59
2.3.1.1 Trình độ học vấn 60
2. 3.1.2. Tuổi và giới tính 61
2.3.1.3 Nghề nghiệp 63
2.3.1.4 Tôn giáo 65
2.3.2 Điều kiện sống của hộ gia đình…………………………………… 66
2.3.3 Các chính sách về phát triển văn hóa nông thôn của chính quyền địa
phương…………………………………………………………………… 69
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 79
3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng video và radio qua các năm…………. 29
Biểu đồ 2.2: Tương quan mức sống và theo dõi truyền thông đại chúng …… .52
Biểu đồ 2.3: Mức độ tham gia các lễ hội văn hóa, đi đình chùa của người
trả lời…………………………………………………………………………. .55
Biểu đồ 2.4: Mức độ thường xuyên tham gia lễ hội văn hóa, đi đình chùa của
NTL theo thời gian phân theo nhóm nghề …………………………………… 58
Biểu đồ 2.5: Tương quan giới tính và hoạt động thời gian rỗi……………… 61
Biểu đồ 2.6: Tương quan tôn giáo và hoạt động thời gian rỗi……………… 66
DANH MỤC BẢNG
của xã hội. Khi con người có những nhu cầu sinh tồn toàn diện, thì nhu cầu
giải trí văn hóa là một trong những nhu cầu thiết yếu. Thực chất giải trí văn
hoá là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của cá nhân, là
một hình thức thay đổi tính chất lao động của con người nhằm giải toả những
mệt mỏi ức chế và phục hồi sức khoẻ đưa cơ thể trở lại trạng thái khoẻ mạnh
toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Giải trí văn hoá là một hình thức nghỉ
ngơi tích cực tác động chủ yếu vào tinh thần của con người, giúp con người
xoá đi những căng thẳng, khắc phục những ức chế tâm lý do công việc gây
ra. Hoạt động giải trí văn hoá cũng là một dạng hoạt động để tái sản xuất sức
lao động, gắn kết các cá nhân lại với nhau, tăng cường mối quan hệ xã hội,
cố kết cộng đồng. Giải trí văn hoá cũng là yêu cầu điều kiện để con người
hiện đại sử dụng thời gian rỗi một cách có lợi, góp phần tạo diện mạo văn
hoá cá nhân và là một trong những thước đo lối sống của con người. Nhưng
hiện nay ở nước ta, thời gian rỗi được sử dụng như thế nào? Vào những hoạt
động gì? Đó là một câu hỏi lớn. Từ tháng 10/1999, Việt Nam đã chuyển sang
chế độ làm việc 40 giờ/tuần, các công chức có 2 ngày nghỉ. Nhưng việc sử
dụng số thời gian rỗi trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng Xã
hội chủ nghĩa hiện nay một cách hiệu quả, tích cực và lành mạnh không phải
là vấn đề đơn giản.
5
Thực tế cho thấy trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong quá trình
diễn ra công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
đang diễn ra mạnh mẽ. Bên cạnh đó đã xuất hiện những biểu hiện của sự phát
triển các hoạt động văn hoá tinh thần một cách tự phát, thậm chí còn có cả
những hoạt động không phù hợp với điều kiện thực tế và văn hoá của địa
phương, nhiều người gần như không có hoạt động giải trí, hoặc không có nhu
cầu tham gia vào các hoạt động giải trí. Điều này là hệ quả tất yếu của của sự
phát triển. Ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay do ảnh hưởng của nền
kinh tế thị trường nên đã cuốn hút người dân nơi đây vào hoạt động lao động
- Đề tài góp phần cung cấp dữ liệu cụ thể nhằm phác thảo bức tranh
tương đối tổng quát ở vùng nông thôn được khảo sát về hoạt động giải
trí văn hoá của người nông dân: những hoạt động họ thường tham gia,
họ yêu thích.
- Giúp người dân nhận thức phân biệt được hoạt động giải trí với một số
hoạt động tuy cùng diễn ra trong thời gian nhàn rỗi và giống với hoạt
động giải trí về mặt nhận thức nhưng có nội dung và mục đích khác
nhau.
- Góp phần giúp chính quyền địa phương và những người làm quản lý
văn hoá trong việc hoạch định chính sách phát triển văn hoá tinh thần
cho người dân cũng như có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải trí của họ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này hướng tới làm sáng tỏ sự biến đổi trong việc tham gia các
hoạt động giải trí văn hoá của người nông dân. Tìm hiểu những nhân tố tạo
nên sự biến đồi đó. Từ đó tác giả đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp
7
nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động giải trí văn hoá cho người dân
nâng cao dân trí góp phần tích cực vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí văn hoá
của người dân hiện nay, khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với
hoạt động giải trí của người dân.
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những biến đổi này và đưa ra khuyến
nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động giải trí văn hoá
cho người dân nâng cao dân trí góp phần tích cực vào thời kì công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu:
Cơ cấu mẫu khảo sát của cuộc nghiên cứu này như sau:
Mẫu khảo sát định lượng: khảo sát bảng hỏi 198 người nông dân trong độ
tuổi lao động tại 2 xã nông thôn Hải Phòng.
Về giới tính: Nam giới chiếm (45%) và nữ giới chiếm (55%)
9
Về độ tuổi:
Độ tuổi
Tỷ lệ %
18 – 29
11,3
30 – 39
17,5
40 – 49
22,8
50- 59
48,3
Về học vấn:
Trình độ học vấn
Tỷ lệ %
Biết đọc, biết viết
2,9
Tiểu học
15,2
THCS
57,3
THPT
17
Cao đẳng trở lên
7
- Hoạt động giải trí văn hoá của người nông dân hiện nay đa dạng và phong
phú hơn trước với nhiều hình thức giải trí văn hoá mới, có sự biến đổi trong
việc tham gia vào các hoạt động giải trí nhưng chủ yếu là những hoạt động
giải trí tại nhà, mất ít chi phí về mặt vật chất.
- Có sự khác biệt trong sự tham gia các hoạt động giải trí của người nông
dân theo giới tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp và mức sống, tôn giáo
khác nhau.
- Khả năng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải trí văn hoá của người
nông dân còn hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
6.2. Khung lý thuyết
11
Sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí
văn hoá
12
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận, phương pháp luận.
1.1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng
vai trò nền tảng, là cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên
cứu.
Từ quan điểm duy vật biện chứng, nguyên tắc về sự phát triển của các sự
vật hiện tượng được áp dụng để lý giải các vấn đề trong nghiên cứu. Hoạt
động giải trí được coi trọng đã đánh dấu một bước phát triển trong lịch sử
con người. Sự phát triển của xã hội đã tạo lập ra các nhóm giá trị khác nhau.
Họ không phải là những cá nhân tồn tại riêng biệt mà là một bộ phận trong
hệ thống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với tổ chức và thiết chế khác, vì vậy
khi nghiên cứu về hoạt động giải trí của người nông dân chúng tôi đã đặt nó
trong mối tương quan với điều kiện kinh tế - xã hội, hoàn cảnh sống. Thông
qua cái nhìn biện chứng ấy, mới có cái nhìn khái quát nhất về hoạt động giải
trí của người dân hiện nay.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, nguyên tắc lịch sử cụ thể, khách
quan toàn diện luôn được quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt chẽ.
Để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu một cách chân thực và chính xác nhất chúng
ta không được áp đặt những ý chí chủ quan, nóng vội, phiến diện mà phải tìm
hiểu một cách khách quan, đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm lịch sử cụ
thể và thực tế. Soi vào đề tài nghiên cứu hoạt động giải trí của người dân
chúng tôi đã lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho
suốt quá trình nghiên cứu. Nói một cách khác, vấn đề nghiên cứu phải được
tìm hiểu trên cơ sở những biến đổi kinh tế, xã hội, văn hoá ở vùng đồng bằng
Bắc Bộ thời kỳ hội nhập, công nghiệp hoá và hiện đại hoá, có như vậy mới
thúc đẩy được sự phát triển toàn diện. Trong khi đó tác giả của thuyết này
đưa ra thì con người có 5 nhu cầu để sống và phát triển bản thân. Khi mọi
người tham gia vào những hoạt động giải trí, nhất là trong thời gian rảnh rỗi
thì thể hiện được sự hợp lý trong việc sắp xếp cuộc sống của họ. Họ cũng cần
nghe hát, cần xem phim, cần chơi thể thao, cần được giao lưu học hỏi…
trong xã hội hiện nay, thời gian rảnh không có nhiều trong điều kiện ở nông
thôn Việt Nam nhưng người dân vẫn phải có sự bố trí, sắp xếp công việc để
ít nhất có thể có những hoạt động giải trí phù hợp với quỹ thời gian phù với
điều kiện kinh tế, sức khỏe. Như vậy, áp dụng lý thuyết nhu cầu chúng ta
phân tích được tình hình biến đổi trong việc tham gia vào các hoạt động giải
trí văn hóa của nông dân một cách rõ nét.
1.1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn duy lý) trong xã
hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VIII,
XIX. Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm
đến sự hài lòng, sự thoả mãn và lảng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế
học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế,
lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động. Đặc
trưng thứ nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lý chính là
các cá nhân lựa chọn hành động.
Thuyết này gắn với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như:
George Homans, PeterBlau, JamesColeman. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào
tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ
để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết
quả tối đa với chi phí tối thiểu. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn
mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện
15
hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt
được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Phạm vi của mục
thường ngày. Mọi cái đều biến đổi và xã hội cũng giống như các hiện thực
khác, không ngừng vận động và thay đổi. Tất cả các xã hội đều ở trong một
thực trạng đứng yên trong sự vận động liên tục. Có nhiều cách quan niệm về
sự biến đổi xã hội, như:
- Phạm vi rộng: biến đổi xã hội là một sự thay đổi so sánh với một tình
trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước;
- Phạm vi hẹp: biến đổi xã hội là sự biến đổi về cấu trúc xã hội hay tổ
chức xã hội của xã hội đó, mà sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến
phần lớn các thành viên của một xã hội;
Riêng những biến đổi chỉ tác động đến một số ít cá nhân, thì ít được các nhà
xã hội học quan tâm và chú ý.
Auguste Comte đưa ra thuật ngữ xã hội học đã tin tưởng rằng khi các
nhà xã hội học xác định những nguồn gốc của sự biến đổi xã hội, thì họ có thể
giúp chương trình cho một tương lai tốt hơn. Auguste Comte cho rằng, biến
đổi xã hội là:
- Chắc chắn xảy ra;
- Sẽ theo một con đường phát triển;
- Những tiến bộ đương nhiên hướng tới một xã hội tốt hơn.
Auguste Comte tin tưởng rằng, thông qua biến đổi xã hội, nhân loại
chuyển từ người nguyên thủy dốt nát đến con người được giáo dục, và
những cái mà chúng ta được học hoặc được phát triển tiến về con đường
tách khỏi sự sắp đặt của Thượng đế vì sự tiến bộ của nhân loại.
17
Như vậy chúng ta thấy rằng, sự biến đổi xã hội là cái quy luật tất yếu, con
người dù muốn hay không thì biến đổi vẫn diễn ra. Trong thời kì hội nhập hiện
nay, muốn hay không muốn thì xã hội nông thôn nói chung và xã hội nông
thôn đồng bằng Bắc Bộ cũng có những biến đổi cả về tích cực lẫn tiêu cực.
Những hoạt động văn hóa cổ truyền ít nhiều bị mai một đi, những cách thức
giải trí văn hóa mới được thay bằng. Người nông dân cần có sự cân nhắc, thay
phục hồi và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và những vấn đề nảy
sinh trong việc kế thừa truyền thống và tiếp thu văn hóa thế giới. Nội dung
bài viết mang tầm vĩ mô rõ nét, tuy nhiên toàn bộ bài viết này chưa đề cập
đến sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí văn hóa của người
dân.
GS Hoàng Chí Bảo có bài viết “Biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 20
năm đổi mới”. Bài viết đã nhận diện những biến đổi xã hội ở Việt Nam qua
hơn 20 năm đổi mới trên phương diện lý luận, hiện trạng và chính sách. Biến
đổi cơ cấu kinh tế trong nền kinh tế thị trường đã dẫn đến biến đổi cơ cấu xã
hội – một trong những biến đổi điển hình nhất ở Việt Nam trong đổi mới. Sự
thay đổi về cơ cấu xã hội đó đã dẫn tới mức chênh lệch trong tiền lương, thu
nhập và dẫn tới phân hóa giàu nghèo. Từ đó kéo theo sự biến đổi các thiết
chế, thể chế xã hội và các quan hệ xã hội, biến đổi nhu cầu và lối sống. Tuy
vậy, bài viết chưa nói đến sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải
trí văn hóa của người dân với tư cách là một khía cạnh của sự biến đổi xã hội
nói chung.
Bài viết “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”
của tác giả Nguyễn Đình Tấn đăng trên Tạp chí thông tin khoa học xã hội số
3 năm 2010 đề cập đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội giai cấp, giai tầng; cơ cấu
xã hội dân số, cơ cấu xã hội lãnh thổ và các phân hệ cơ cấu xã hội cơ bản
19
khác như cơ cấu xã hội tôn giáo, cơ cấu xã hội dân tộc. Tuy nhiên bài viết
mới chỉ nói đến các vấn đề chung của sự biến đổi cơ cấu xã hội mà chưa cập
đến sự biến đổi về lối sống, hoạt động sinh hoạt văn hóa.
Tác giả Trần Ngọc Hiên với bài viết “Nguồn gốc của những biến đổi xã
hội nông thôn Việt Nam và phương hướng phát triển”, đăng trên Tạp chí
Thông tin khoa học xã hội số 3 năm 2007, nội dung bài viết đưa ra những yếu
tố được xem là nguồn gốc dẫn đến sự biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam
như: sự phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn. Trong phần phương hướng
thạc sỹ với mong muốn đóng góp làm phong phú những các cứ liệu vào hệ
thống nghiên cứu về biến đổi xã hội nói chung.
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Người nông dân
Theo định nghĩa của “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia” nông dân là những
người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân
sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất
chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có
quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân,
có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. Trong lịch sử, nhiều nền văn minh lấy
nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, được tổ chức chặt
chẽ nhất là trong nền văn minh Ai Cập. Đến thời kỳ Hy Lạp, La Mã, hình
thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ sở ruộng đất lớn của chủ đất hay
chúa đất. Tiếp đó, ở nông thôn tầng lớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản
thành thị. Ngày nay, nông dân có sinh hoạt tổ chức khác nhau trên từng địa
phương, quốc gia. Nhìn chung, nông dân là những người nghèo, bị phụ thuộc
vào các tầng lớp trên. Ở các quốc gia vùng châu thổ các sông lớn ở Đông Nam
Á, người nông dân lao động nặng nhọc nhưng hiệu quả công việc và năng suất
21
lao động thấp. Ở các nước phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng,
tầng lớp tiểu nông ngày các ít đi. Ở Mỹ, chủ trang trại có sự hợp đồng với các
công ty vật tư, hóa chất, cơ khí và sử dụng các nhân công tạm thời. Các chủ
trang trại chiếm 10% dân cơ nhưng nông dân làm ra hai phần sản lượng nông
nghiệp của Mỹ.
1.3.2 Khái niệm nhu cầu giải trí
Có 6 nhu cầu xã hội cơ bản của con người trong đó có nhu cầu giải trí - tái
sáng tạo. Đó là nhu cầu nghỉ ngơi và tinh thần bằng chuyển trạng thái hoạt
động: từ các hoạt động sinh tồn sinh vật sang các hoạt động thẩm mỹ. Nhu cầu
chính yếu là tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ. Các nhu cầu
thể coi là những tệ nạn xã hội.
1.3.4 Khái niệm thời gian rỗi
Trong bất kỳ thời đại nào con người cũng tiêu dùng thời gian rỗi cho bốn loại
hoạt động:
- Hoạt động lao động xã hội
- Hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội
- Hoạt động duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân nhằm thoả mãn
các nhu cầu cá nhân.
- Hoạt động thuộc đời sống tinh thần của cá nhân.
Loại hoạt động thứ tư là số thời gian còn lại của mỗi người sau khi đã làm
xong ba loại bổn phận trên. Người ta gọi đó là thời gian rỗi, đặc điểm của nó
là con người có thể tự do làm những gì mình thích, và đó là sự chuyển từ hoạt
động tất yếu, cưỡng bức sang tự do, tự giác, tự nguyện.
23
Theo tác giả Chu Khắc trong bài viết “Vấn đề quỹ thời gian trong sinh hoạt
gia đình hàng ngày”, các nhà xã hội học đã chia quỹ thời gian ra làm ba bộ
phận:
- Thời gian lao động sản xuất là thời gian người lao động dành cho hoạt
động sản xuất và công tác ở cơ quan, xí nghiệp, nhà máy ;
- Thời gian ngoài sản xuất hoặc thời gian sinh hoạt cần thiết là thời gian thực
hiện những công việc bức thiết và thỏa đáng cho các nhu cầu sống (nhiều
tác giả gọi thời gian này là thời gian tự do);
- Thời gian rỗi là lúc con người được thảnh thơi hoàn toàn và tùy thích cá
nhân mà lựa chọn hình thức tự thể hiện
Trong bài viết này, thời gian rỗi được hiểu là thời gian con người thoát khỏi
công việc kiếm sống và tự do lựa chọn các hình thức thể hiện.
1.3.5 Biến đổi xã hội
Biến đổi là những thay đổi có thể diễn ra theo chiều hướng tiến bộ,
nhưng có thể không diễn ra theo hướng tiến bộ mà lại suy thoái, thoái triển