Một số biến đổi các hoạt động giải trí văn hoá của nông dân đồng bằng bắc bộ - Pdf 96

Một số biến đổi các hoạt động giải trí văn hoá
của nông dân đồng bằng Bắc Bộ

Nguyễn Thị Huyền

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn Thạc sĩ ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30
Người hướng dẫn: TS. Trương Xuân Trường
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Nghiên cứu sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí văn hoá
của người dân hiện nay, khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với hoạt động giải
trí của người dân. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những biến đổi này và đưa ra
khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động giải trí văn hoá cho người
dân nâng cao dân trí góp phần tích cực vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.

Keywords: Xã hội học; Nhóm xã hội; Hoạt động văn hóa; Nông dân; Đồng bằng Bắc
Bộ

Content
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Giải trí văn hoá là nhu cầu thực tế của con người. Ở các nước phương Tây, xã hội càng
phát triển, thời gian lao động càng rút ngắn lại do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, máy
móc hiện đại, áp dụng tự động hóa vào sản xuất vì vậy thời gian rỗi nhiều hơn và cơ hội để
con người tham gia các hoạt động giải trí càng cao hơn. Theo Marx thời gian rỗi là thuộc về
sự phát triển của xã hội. Khi con người có những nhu cầu sinh tồn toàn diện, thì nhu cầu giải
trí văn hóa là một trong những nhu cầu thiết yếu. Thực chất giải trí văn hoá là một bộ phận
quan trọng trong cơ cấu hoạt động sống của cá nhân, là một hình thức thay đổi tính chất lao

trong thời gian nhàn rỗi. Bên cạnh đó cũng xuất hiện những loại hình giải trí không phù hợp
với thuần phong mỹ tục, với điều kiện sống của người dân tại các vùng quê nước ta. Hoạt
động giải trí đã, đang và tiếp tục là nhu cầu tất yếu của con người. Đặc biệt hoạt động giải trí
văn hóa còn là yếu tố quan trọng xây dựng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội đất nước thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Do đó việc tìm hiểu xem trong thời gian nhàn rỗi, người nông dân có những hoạt động giải trí
văn hoá tinh thần như thế nào là điều cần thiết và nhất là trong thời kì hội nhập hiện nay. Đây
cũng là vấn đề thách thức của hiện thực xã hội đối với chúng ta mà nguyên nhân sâu xa chính
là những nhu cầu khách quan không được đáp ứng của con người và là ý tưởng gợi nên trong
tôi hướng đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu một số biến đổi các hoạt động giải trí văn hoá của
nông dân đồng bằng Bắc bộ hiện nay”. Do giới hạn của luận văn tốt nghiệp, tác giả đã lựa
chọn địa bàn nông thôn của thành phố Hải Phòng làm nghiên cứu trường hợp.

3
2. Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài góp phần làm cho tác giả hiểu sâu và kỹ hơn về hệ thống lý thuyết của xã hội
học hiện đại như: lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết biến đổi xã hội, lý thuyết lựa
chọn hợp lý.
- Đề tài góp phần cung cấp dữ liệu cụ thể nhằm phác thảo bức tranh tương đối tổng
quát ở vùng nông thôn được khảo sát về hoạt động giải trí văn hoá của người nông
dân: những hoạt động họ thường tham gia, họ yêu thích.
- Giúp người dân nhận thức phân biệt được hoạt động giải trí với một số hoạt động tuy
cùng diễn ra trong thời gian nhàn rỗi và giống với hoạt động giải trí về mặt nhận thức
nhưng có nội dung và mục đích khác nhau.
- Góp phần giúp chính quyền địa phương và những người làm quản lý văn hoá trong
việc hoạch định chính sách phát triển văn hoá tinh thần cho người dân cũng như có
thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải trí của họ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này hướng tới làm sáng tỏ sự biến đổi trong việc tham gia các hoạt động giải trí

5. Phương pháp nghiên cứu:
 Phương pháp phân tích số liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng số liệu nghiên cứu của đề tài cấp
Bộ “Nghiên cứu dư luận xã hội của người nông dân vùng đồng bằng Bắc bộ về gia nhập
WTO” phần “Thông tin chung và Các hoạt động văn hóa tinh thần” (phụ lục kèm theo) do
TS. Trương Xuân Trường làm chủ nhiệm và tác giả luận văn là một thành viên tham gia khảo
sát đề tài. Do giới hạn của luận văn tốt nghiệp, tác giả chỉ sử dụng phần số liệu của riêng của
thành phố Hải Phòng để phân tích.
Cơ cấu mẫu khảo sát của cuộc nghiên cứu này như sau:
Mẫu khảo sát định lượng: khảo sát bảng hỏi 198 người nông dân trong độ tuổi lao động tại 2
xã nông thôn Hải Phòng.
Về giới tính: Nam giới chiếm (45%) và nữ giới chiếm (55%)
Về độ tuổi:
Độ tuổi
Tỷ lệ %
18 – 29
11,3
30 – 39
17,5

5
40 – 49
22,8
50- 59
48,3
Về học vấn:
Trình độ học vấn
Tỷ lệ %
Biết đọc, biết viết
2,9
Tiểu học

6
 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn: Tác giả thu thập những tư liệu có sẵn, những
nghiên cứu những bài viết liên quan đến hoạt động văn hóa của người dân nông thôn trong
suốt thời gian qua.
6. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
6.1. Giả thuyết nghiên cứu
- Hoạt động giải trí văn hoá của người nông dân hiện nay đa dạng và phong phú hơn trước
với nhiều hình thức giải trí văn hoá mới, có sự biến đổi trong việc tham gia vào các hoạt
động giải trí nhưng chủ yếu là những hoạt động giải trí tại nhà, mất ít chi phí về mặt vật
chất.
- Có sự khác biệt trong sự tham gia các hoạt động giải trí của người nông dân theo giới
tính, độ tuổi, học vấn, nghề nghiệp và mức sống, tôn giáo khác nhau.
- Khả năng đáp ứng của xã hội đối với nhu cầu giải trí văn hoá của người nông dân còn hạn
chế do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
6.2. Khung lý thuyết
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận, phương pháp luận.
1.1.1 Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò nền tảng,
là cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên cứu.
1.1.2 Các lý thuyết áp dụng
1.1.2.1 Lý thuyết nhu cầu: Lý thuyết nhu cầu của tác giả MASLOW là lý thuyết được áp
dụng sâu rộng trong các nghiên cứu của khoa học xã hội. MASLOW phân chia các nhu cầu
của con người làm 5 mức, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, thường được biểu diễn dưới dạng
tháp. Nhưng nhu cầu sinh lý là căn bản nhất, gồm nhu cầu thức ăn và đồ uống, nhà ở, quần
áo, thư giãn. Chúng được ưu tiên thỏa mãn trước khi con người nghĩ đến mức nhu cầu tiếp
theo. Hầu hết mọi người có mong muốn về an ninh và an toàn, không gặp phải những điều
bất ngờ. Khi mọi người tham gia vào những hoạt động giải trí, nhất là trong thời gian rảnh rỗi
thì thể hiện được sự hợp lý trong việc sắp xếp cuộc sống của họ. Họ cũng cần nghe hát, cần


(thời gian nhàn rỗi…) mới được thực sự quan tâm. Hiện nay đã hình thành khoa học về nhàn
rỗi với tư cách là khoa học liên ngành, trong số các khoa học về giải trí có mặt của xã hội học
về giải trí, một chuyên ngành có đối tượng nghiên cứu là thời gian rỗi trong mối tương tác với
quỹ thời gian, đặc biệt là thời gian lao động và trong mối quan hệ với các thiết chế xã hội, cơ
cấu văn hoá, văn hoá và các quá trình xã hội. Sự biến đổi về khoa học kỹ thuật, kinh tế kéo
theo hàng loạt những biến đổi về xã hội, văn hóa …Chúng ta thấy có rất nhiều tác giả trong
ngành khoa học xã hội nói chung và xã hội học, văn hóa học nói riêng đã có những công trình
nghiên cứu, những bài viết, bình luận, nhận xét về vấn đề này:
Nghiên cứu về biến đổi kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung không phải là một đề tài mới
mẻ, tuy nhiên không phải trong công trình nghiên cứu nào về biến đổi xã hội cũng đề cập đến
sự biến đổi về việc tham gia các hoạt động giải trí văn hóa của người dân. Hầu hết các nghiên
cứu đều chỉ tập trung vào phân tích sự biến đổi xã hội ở các khía cạnh: điều kiện kinh tế, y tế,
giáo dục, văn hóa nói chung hoặc nghiên cứu sự tham gia của một nhóm xã hội vào các hoạt
động cộng đồng xã hội. Vì vậy, học viên đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu một số biến đổi các
hoạt động giải trí văn hoá của nông dân đồng bằng Bắc bộ hiện nay” nghiên cứu trường hợp
thành phố Hải Phòng làm đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn đóng góp làm phong phú
những các cứ liệu vào hệ thống nghiên cứu về biến đổi xã hội nói chung.
1.3 Các khái niệm công cụ
1.3.1 Người nông dân
1.3.2 Khái niệm nhu cầu giải trí
1.3.3 Khái niệm giải trí văn hóa
1.3.4 Khái niệm thời gian rỗi

9
1.3.5 Biến đổi xã hội
1.4 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Một số biến đổi trong các hoạt động giải trí văn hoá của nông dân đồng
bằng Bắc Bộ
2.1 . Thực trạng những biến đổi kinh tế, văn hoá của người nông dân thời kì đổi mới.

việc đưa ra bộ tiêu chí với các chỉ tiêu về nhiều mặt đời sống nông thôn là rất cần thiết. Đó là
các tiêu chí đã được nghiên cứu kỹ căn cứ từ thực tiễn. Tuy nhiên, xây dựng nông thôn mới
phải làm rõ được chủ thể xây dựng nông thôn mới chính là người nông dân và họ là đối tượng
thụ hưởng. Các tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp cùng với nông dân xây dựng nông thôn
mới…là điều không phải dễ. Lâu nay, việc thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ người dân
không phải lúc nào cũng thành công như mong muốn. Bởi người dân tuy là đối tượng thụ
hưởng nhưng lại hoàn toàn nằm ở thế bị động.
2.2 Những biến đổi trong hoạt động giải trí văn hoá của người nông dân
2.2.1. Thời gian rỗi của người nông dân thời kì hội nhập
Trong thời kì hội nhập, thời gian rảnh rỗi của người nông dân không có nhiều. Họ tận dụng
thời gian để tăng gia sản xuất, để tìm mọi nguồn lao động tăng thu nhập. Trước đây họ chỉ có
thể sản xuất trên những mảnh ruộng của mình, chăn nuôi gia súc gia cầm. Tuy nhiên giờ đây là
họ có thể mở những hoạt động dịch vụ, họ có thể đi làm ăn xa. Một năm có hai vụ chính là hè
thu và đông xuân, ngoài thời gian đó ra đó là thời gian nông nhàn của nông dân.
Đối tượng chính trong nghiên cứu này là nông dân, tuy nhiên ở nông thôn trong thời kì hội
nhập thì rất khó để tìm ra những người chỉ làm riêng nông nghiệp thôi. Thường chúng ta sẽ
thấy sự kết hợp như sau: Cán bộ địa phương (trưởng thôn trở lên), nông nghiệp (chỉ có nghề
làm ruộng, nông nghiệp kết hợp buôn bán/ dịch vụ, nông nghiệp kết hợp nghề thủ công nghiệp,
nông nghiệp và nghề khác. Tất cả họ đều đóng nhiều vai, vừa lao động nông nghiệp vừa tham
gia hoạt động khác mục đích là tăng thu nhập.
Như vậy, thời gian rảnh rỗi của nông dân trong thời kỳ hiện nay không có nhiều thời gian,
tất nhiên là họ có những khuôn giờ nhất định để có thể tham gia các hoạt động giải trí văn hóa.
2.2.2 Sự biến đổi các hoạt động tham gia giải trí văn hoá trong thời gian rỗi
Kết quả khảo sát đã cho thấy thời kì đổi mới và hội nhập vừa qua, người nông dân vùng
đồng bằng Bắc Bộ đã có bước cải thiện vượt bậc về đời sống vật chất và tinh thần qua những
chỉ báo về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu nhập, sự cải thiện điều kiện nhà ở, phương tiện
sinh hoạt và tiêu dùng văn hóa. Người nông dân tự chủ hơn, năng động hơn trong thời kì mới
của kinh tế thị trường. Không gian và điều kiện sống mở rộng tạo điều kiện cho người nông

11

họ hàng/ thân thích: 71,7% (so với nữ; 58%), đến nhà bạn bè họ hàng 72,5% (nữ 58,9%), đến
nơi công cộng: 33% (nữ 14,8%), đọc sách báo: 35,5% (nữ 20,7%), xem ti vi: 80,8% nữ
76,6%, chơi thể thao: 15,9% 9 nữ 3,3%, sinh hoạt câu lạc bộ 30,4% (nữ 20,4%). Có duy nhất

12
hoạt động đi nhà thờ, đền chùa thì tỷ lệ nữ tham gia nhiều hơn nam nhưng không đáng kể.
Qua đây chúng ta thấy rằng việc ở nông thôn đàn ông có nhiều thời gian rảnh hơn phụ nữ và
họ tham gia vào các hoạt động giải trí hơn. Phần lớn nữ giới ngoài các công việc đi làm đồng,
buôn bán, công tác… thì họ phải đảm nhiệm các công việc nhà nhiều hơn, thời gian chăm sóc
con cái cũng nhiều hơn nên họ không có nhiều thời gian giành cho việc giải trí của bản thân.
Điều này thể hiện rõ được sự bất bình đẳng giới ở địa bàn nông thôn nước ta.
2.3.1.3 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một trong số những yếu tố quan trọng trong cuộc đời mỗi cá nhân, nó cho
biết người đó làm gì, và chiếm vị thế ra sao trong xã hội, đồng thời nghề nghiệp cũng là nhân
tố giúp duy trì cuộc sống của mỗi cá nhân. Trong chu trình sống của mình, các cá nhân có thể
có một hoặc thậm chí chiếm lĩnh nhiều nghề nghiệp khác nhau cùng lúc để tạo ra nguồn thu
nhập cho gia đình. Và trong khoảng thời gian đó, các cá nhân cũng có sự thay đổi nghề
nghiệp theo từng thời kỳ khác nhau, sự thay đổi này khá đa dạng, nó có thể gắn liền với sự
thay đổi nơi sinh sống, độ tuổi, thời gian và sức lực.
2.3.1.4 Tôn giáo
Tại địa bàn khảo sát, có hai tôn giáo chính mà người dân tham gia đó là phật giáo và thiên
chúa giáo. Tỷ lệ như sau: Phật giáo: 23,6%, Thiên chúa giáo: 17,3%, Không tôn giáo: 58,5%.
Nửa số người trả lời không theo tôn giáo nào, gần ¼ theo phất giáo còn lại là họ theo Thiên
chúa giáo. Tôn giáo cũng là yếu tố chi phối đến việc lựa chọn tham gia các hoạt động giải trí
của người dân.
2.3.3 Các chính sách về phát triển văn hóa nông thôn của chính quyền địa phương.
Chính quyền địa phương đưa ra những chính sách phát triển văn hóa có phù hợp với tình
hình thực tế là điều rất cần thiết. Bên cạnh những chính sách phát triển kinh tế để thúc đẩy sản
xuất, tăng thu nhập cho các gia đình thì các chính sách về phát triển văn hóa xã hội cũng đóng
vai trò then chốt. Người dân muốn tham gia vào những hoạt động giải trí văn hóa thì trước tiên

trình độ học vấn cao tham gia tích cực hơn người có trình độ học vấn thấp hơn. Những gia
đình có mức sống khá giả cũng chi tiêu nhiều hơn cho các hoạt động giải trí văn hóa, và các
thành viên trong gia đình này cũng tham gia tích cực hơn.
Trong giới hạn luận văn này tác giả mới khảo cứu được thực trạng sự biến đổi và các
nhân tố tạo nên sự khác biệt trong việc tham gia các hoạt động giải trí văn hóa văn hóa của
nông dân tại thành phố Hải Phòng. Các kết quả nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm
kho tài liệu về biến đổi xã hội nói chung.
2. Khuyến nghị
Trên cơ sở những kết luận được rút ra từ quá trình nghiên cứu về biến đổi trong hoạt
động giải trí văn hóa trong thời kỳ đổi mới, tác giả xin đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc
đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động này.
Kinh tế được xem là chìa khóa để mở ra một cuộc sống tốt đẹp hơn cho đại bộ phận dân
cư. “Có thực mới vực được đạo”, có nghĩa muốn người dân tích cực tham gia các hoạt động

14
giải trí văn hóa thì trước tiên phải tạo điều kiện cho họ phát triển kinh tế gia đình. Cần thực
hiện một cách nhất quán và triệt để các chính sách xóa đói giảm nghèo, tạo hành lang pháp lý
và môi trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế hộ. Giúp các hộ dân chuyển đổi
ngành nghề theo hướng phi nông nghiệp, hoặc nếu là nông nghiệp phải là nông nghiệp bền
vững.
Trong mọi hoạt động, người làm cán địa phương, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân. Cán bộ cấp thôn, xã cần trau dồi kiến thức, kỹ năng về tổ chức, quản lý văn hóa để có thể
thu hút được sự tham gia của người dân. Nói như một cán bộ làm công tác văn hóa thông tin
thì: “Nếu như tại các cuộc họp thôn xóm, phần thuyết giảng, mệnh lệnh được thay bằng các
tiết mục ca hát, đóng kịch tuyên truyền thì sự tiếp thu của người dân chắc chắn sẽ tự nhiên và
hiệu quả hơn nhiều. Nhiều người dân đi họp thì nhác, nhưng đi xem văn nghệ thì người ta rất
thích, nhất là những người quanh năm đầu tắt mặt tối, đi làm về đã mệt, người ta luôn muốn
được thoải mái, thư giãn…”. Đó được xem như là một cách làm để thu hút sự tham gia của
người dân vào các hoạt động văn hóa tinh thần.
Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của kinh tế thị trường với một nền kinh tế trên đà

7. Nguyễn Văn Dân với bài viết “Đời sống văn hóa của người Việt Nam sau hai mươi
năm đổi mới”, tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 9 năm 2008
8. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (2004), Xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
9. Bùi Quang Dũng, (2007), Xã hội học nông thôn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà
Nội.
10. Mai Văn Hai, (2009), Xã hội học văn hóa, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
11. Mai Văn Hai và TS Phạm Việt Dũng, “Xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống ở
Việt Nam”, tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 2 năm 2010
12. Trần Ngọc Hiên, “Nguồn gốc của những biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam và
phương hướng phát triển”, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 3 năm 2007
13. Hà Thị Minh Khương, (2007), Việc sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ và nam giới, tạp
chí nghiên cứu gia đình và giới, số 1 năm 2007.
14. Trịnh Duy Luân - Helle Rydstrom - Wil Burghoorn (chủ biên), (2008), Gia đình nông
thôn Việt Nam trong chuyển đổi, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
15. Nguyễn Tuấn Minh, (2008), “Thực trạng sử dụng thời gian rỗi của người dân nông
thôn đồng bằng Bắc bộ”, tạp chí xã hội học số 4 năm 2009
16. Lâm Thị Ánh Quyên (2006), Xã hội học lối sống, Lưu hành nội bộ- Trường Đại học
mở - bán công TP. HCM.
17. Nguyễn Đình Tấn “Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới”, Tạp

16
chí thông tin khoa học xã hội số 3 năm 2010
18. Trương Xuân Trường, (2009), Bài giảng Xã hội học Nông thôn, Viện Xã hội học,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
19. Trương Xuân Trường, (2010) “Dư luận xã hội của người nông dân Đồng Bằng Bắc
Bộ về hội nhập WTO”, nghiên cứu đề tài cấp bộ, Viện xã hội hoc Viện khoa học xã hội Việt
Nam.
20. Trương Xuân Trường, (2006), “Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc
bộ trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2006
21. Trương Xuân Trường, (2005),“Tìm hiểu mức độ tiếp cận thông tin trên các phương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status