Tín ngưỡng cầu mùa trong các lễ hội của người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ TÂM
TÍN NGƯỠNG CẦU MÙA TRONG CÁC LỄ HỘI
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở HUYỆN LÂM THAO,
TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Khóa QH - 2009 - X Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HOÀNG LƯƠNG HÀ NỘI - 2012 iv

3.1. Trò diễn hội làng, những nghi lễ cầu mùa của người Việt ở huyện
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. 59
3.1.1. Nghi lễ cầu mùa trong sản xuất nông nghiệp 59
3.1.2. Tục hú tùng dí. 69 v
3.2. Một số tục lệ cầu mùa ở Bắc Ninh và vùng châu thổ Bắc Bộ khác. . 82
3.3. Tục cầu mùa ở một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam. 90
Tiểu kết chương 3 95
Chương 4: Ý NGHĨA VÀ VAI T RÒ CỦA TÍN NGƯỠNG CẦU MÙA ỐI
VỚI ĐỜI SỐNG TỘC NGƯỜI 97
4.1. Nghi thức, nghi lễ cầu mùa, một trong những yếu tố cấu thành
văn hóa dân gian tộc người. 97
4.2. Phát huy truyền thống tốt đẹp của lao động sản xuất và qua đó
củng cố ý thức cộng đồng. 101
4.3. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người qua nghi lễ tín
ngưỡng cầu mùa. 105
Tiểu kết chương 4 108
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
PHỤ LỤC vi
DANH MỤC VÀ CHÚ THÍCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- BCH : Ban chấp hành
- KHXH và NV : Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
- KHXH : Nhà xuất bản Khoa học Xã hội

nhiều lên. Ý tưởng chăn nuôi và trồng trọt những thứ họ săn bắn, hái lượm
được đã góp phần làm cho cuộc sống người nguyên thủy ngày càng ổn định
hơn, chủ động hơn trước những thay đổi của thời tiết và sự thất thường, may
rủi của phương thức săn bắn, hái lượm. 2
Những ý tưởng và kinh nghiệm thu được từ việc chăn nuôi, trồng trọt
đã làm cho phương thức kiếm ăn mới đạt được kết quả tốt hơn. Do đó, dần
dần những nơi có điều kiện chăn nuôi, trồng trọt đã có cơ hội phát triển. Từ
đó một ngành kinh tế mới, một cách kiếm ăn mới xuất hiện, nền kinh tế nông
nghiệp hình thành và phát triển. Lòng mong ước nhân nhanh vật nuôi, cây
trồng và cả bản thân con người (chủ thể của nền kinh tế mới này) đã nảy sinh
những cơ sở cho những ước mơ, niềm tin và hy vọng. Đó là cơ sở của tín
ngưỡng cầu mùa, một niềm tin đối với sự sinh sôi, nảy nở, phát triển muôn
loài, càng nhanh, càng nhiều càng tốt , nhất là trong cư dân nông nghiệp.
Nhưng, giữa ước mơ và thực tiễn nhiều khi mâu thuẫn với nhau. Ước
mơ thì lớn, thực tế thì khắc nghiệt, khó khăn. Trong xã hội người nguyên
thủy xưa kia, nhất là khi trình độ khoa học, kỹ thuật chưa phát triển, đứng
trước những khó khăn, cản trở do trời đất, môi trường sinh thái gây ra, con
người nhiều lúc trở nên bất lực. Do không hiểu biết được những cản trở đó
của thế giới tự nhiên xung quanh, có khi cả trong xã hội, con người đành
phải sùng bái những thế lực cản trở mình. Cầu xin những lực lượng thần bí
đó phù hộ, độ trì, giúp đỡ, tạo điều kiện, cơ hội thuận lợi giúp con người đạt
được những ước mơ của mình.
Trong xã hội nông nghiệp trên đây, sự cầu xin, thờ cúng và sùng bái
đầu tiên phải là sự sinh sôi, nảy nở, phát triển. Cho nên, tín ngưỡng sùng bái
sinh thực khí, những năng lượng thiêng (những lực lượng thần bí) có thể tạo
ra thuận lợi cho sự sinh sôi, nảy nở nhanh chóng được thực hiện. Vì thế, đối
với xã hội nông nghiệp như nước ta, sự sùng bái những lực lượng làm cho

huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nói riêng đã tích lũy, giữ gìn và phát triển.
Là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, người nông dân châu thổ Bắc Bộ
vừa được thừa hưởng những ưu ái mà thiên nhiên ban tặng, đồng thời
cũng phải chịu đựng và trải qua những thử thách gay go, phức tạp do 4
chính thiên nhiên ấy gây ra. Để vượt qua thử thách này, người nông dân
châu thổ Bắc Bộ, trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của mình họ đã phải
đặt niềm tin vào sự phù hộ, giúp đỡ của các sức mạnh siêu nhiên. Trong
đó có các năng lượng thiêng biểu tượng của sự sinh sôi, nảy nở, phát
triển. Vì thế, sự sùng bái sinh thực khí (năng lượng thiêng) là cứu cánh mà
người nông dân châu thổ Bắc Bộ hay còn gọi là châu thổ sông Hồng tin
tưởng, hy vọng.
Trong các năng lượng thiêng trên đây, sự sùng bái cái thiêng và cái
tục, âm và dương, đực và cái mà những nơi ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ
thường gọi là Linga và Yoni là nội dung chính của các nghi lễ cầu mùa. Để
mong cho mùa màng bội thu, vật nuôi cây trồng và con người khỏe mạnh,
phát triển, sự sùng bái những năng lượng thiêng đó đã trở thành nội dung cơ
bản của các lễ hội nông nghiệp với mục đích chủ yếu là cầu mùa. Nói khác
đi, trong lễ hội, nhất là trong lễ hội nông nghiệp, lễ là phần Đạo mà hội là
phần Đời [Hoàng Lương, 2011, tr. 1]. Phần Đạo và phần Đời luôn tồn tại
song song. Có thể coi phần Đời là cuộc sống thứ nhất, (cuộc sống thực),
phần Đạo là cuộc sống thứ hai (cuộc sống của những ước mơ, khát vọng).
Với lễ hội, trong phạm vi không gian linh thiêng, người ta có quyền làm
những gì mà ngày thường không được làm, ước mơ, khát vọng tới những gì
mà hàng ngày không có. Những cấm kỵ đó trong lễ hội dân gian được gọi là
"hèm" mà các lễ hội về tín ngưỡng cầu mùa ở Lâm Thao nói riêng, vùng
châu thổ Bắc Bộ nói chung khá phổ biến.
Thực ra, trong lễ hội dân gian, những tục "hèm" đó, trong không gian,

chung, người Việt ở huyện Lâm Thao, Phú Thọ nói riêng chính là mục tiêu
nổi trội và xuyên suốt của luận văn này. 6
Hơn nữa, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ không chỉ là nơi khởi nguồn,
nơi khai thiên, lập địa, nơi sáng tạo và xây đắp nền văn hóa Phùng Nguyên,
mở đầu cho nền văn hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn. Đây là cơ sở vật chất
và tinh thần cho xã hội để các vua Hùng xây dựng nước Văn Lang cách ngày
nay mấy nghìn năm.
2. Những nguồn tư liệu chính làm cơ sở tiếp cận, nghiên cứu đề tài.
Tín ngưỡng cầu mùa và những biểu hiện của nó xuất hiện chủ yếu ở
các nền văn minh nông nghiệp, có thể từ thời đại Đá mới. Khi con ngươi biết
tới sự nhân giống và truyền giống đã làm cho tín ngưỡng này có cơ hội phát
triển. Tuy nhiên, trong quá trình nhân giống và truyền thống thường gặp phải
những rủi ro, không phải lúc nào việc nhân giống và truyền thống cũng đều
may mắn. Trước những rủi ro, không được như ý đó không phải lúc nào, ở
đâu cũng có thể giải thích được. Vì vậy, quá trình này đòi hỏi phải có lòng
tin và hy vọng trên cơ sở tín ngưỡng tôn giáo.
Cơ sở lý thuyết và những biểu hiện cụ thể để tiếp cận đề tài này mà
chúng tôi được tiếp xúc đầu tiên, từ đó đã gợi ra những ý tưởng để triển khai
đề tài là cuốn "Các hình thái tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng"
của một học giả Xô Viết là X.A Tôcarep do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
phát hành năm 1994. Sau đó, năm 1995, tập thể tác giả của Bộ môn Dân tộc
học, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phối hợp viết cuốn Dân tộc học đại
cương do Lê Sĩ Giáo chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục in ấn và phát hành
năm đó. Tính đến năm 2011, cuốn sách này đã được tái bản tới 15 lần. Phần
liên quan đến đề tài này là chương 6: Những hình thái tôn giáo sơ khái do
PGS.TS. Lê Sĩ Giáo soạn thảo.
Đây là những kiến thức cơ bản đầu tiên về vấn đề này mà cuốn Dân

Quang Nam, Xuân Thiêm, Dương Huy Thiện, Lê Trung Vũ, Nguyễn Khắc
Xương biên soạn. 8
Qua cuốn Địa chí này, các tác giả đã cung cấp nhiều kiến thức và tri
thức, có thể nói là vô giá về vùng đất tổ. Trong đó, Vĩnh Phú, đất của thế
dựng nước, đất có nhiều di tích lịch sử. Đất của nhiều danh lam thắng
cảnh và đặc biệt là con người với đặc trưng tính cách cư dân đã giúp chúng
tôi có thêm những hiểu biết sâu sắc về cảnh quan, môi trường sinh thái và
con người nơi đây. Trong chương 2, Đất tổ Hùng Vương một vùng văn hóa
dân gian đặc sắc, bao gồm ba khu vực phôn - clo và những "điểm" phôn - clo
tiêu biểu (từ trang 55-61) đã cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức và tư
liệu tổng hợp có giá trị.
Trong chương V, ca nhạc dân gian đã giới thiệu các loại hình dân ca
phổ biến ở Vĩnh Phú (chủ yếu là vùng Phú Thọ) như hát ví, hát trống quân,
hát xoan và hát ghẹo là những loại hình dân ca liên quan đến nhiều lễ hội
của huyện Lâm Thao đã được người Việt ở đây thường sử dụng phổ biến
trong các lễ hội của mình. Trong đó, đáng kể và có giá trị nhất phục vụ đề tài
là các bài viết của nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Khắc Xương
như: Tục ngữ và thơ ca dân gian (từ trang 63 - 96); Truyện kể dân gian (từ
trang 97 - 140), đặc biệt là bài: Trò diễn hội làng (từ trang 211 - 256) đã
cung cấp nhiều tư liệu quý giá và có ích cho luận văn này.
Trong những hội làng đó "Trò diễn hội làng" là khái niệm dùng chung
cho tất cả những hình thức sinh hoạt văn hóa của nhân dân tại một làng
mang tính biểu diễn, tính nghệ thuật. "Trò diễn" ở đây bao gồm những hình
thức nghệ thuật có tính sân khấu và gồm cả những trò phô diễn tài nghệ,
những hình thức đua tài thi khéo, những sinh hoạt hội hè truyền thống
[Nguyễn Khắc Xương, 1986, tr. 211- 256] Hội làng được mở ra ngoài yêu
cầu tín ngưỡng hướng về thắng lợi của sản xuất và nâng cao đời sống, còn có

học xã hội Việt Nam- VNCHN, 2009, tr. 324- 479]. 10
Đây là những ghi chép về sự tích Thần tích của 30 xã trong các huyện,
tổng ở Bắc Ninh ngày xưa. Các nội dung này đều được gọi là Dân tục ghi
chép về tục thờ thần làng bằng cách cúng tiễn các cô gái còn trinh cho thần
làng. Năm nào làng tuân thủ đúng Dân tục để các cô gái đó dâm du với thần
làng suôn sẻ thì làng đó sẽ được mọi sự tốt đẹp. Nếu ngược lại, năm đó cả
làng sẽ phải chịu hậu họa như mất mùa, nhiều người đau ốm, đói khát
Riêng các cô gái được làng cử mà không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị phạt nộp
3 đồng bạc trắng cho làng.
Vì vậy, ngày xưa không có làng nào, tổng nào dám vi phạm Dân tục
này. Đây mới chỉ là đối với các làng xã trong tỉnh Bắc Ninh, có thể còn
nhiều làng xã khác của vùng châu thổ Bắc Bộ cũng có những tục lệ này.
Với khoảng 30 sự tích thần tích các xã trong các huyện, tổng ở Bắc
Ninh đều có hiện tượng giao hoan giữa các thần và phụ nữ trong làng. Năm
nào sự việc diểna suôn sẻ thì năm đó dân làng được yên ổn, no đủ. Ngược
lại, cả làng sẽ ốm đau, đói kém. Dân tục này được các xã tỉnh Bắc Ninh xưa
kia (trước Cách mạng tháng Tám, năm 1945) tuân thủ đầy đủ, nghiêm túc.
Nếu không, các xã đó đều phải mang họa, cái họa lớn nhất, tai hại nhất có lẽ
là sự mất mùa. Đối với người nông dân, nhất là các vùng thuần nông như
châu thổ Bắc Bộ, mất mùa là đại họa và kèm theo nó còn biết bao nhiêu khổ
đau khác sẽ kéo đến đày đọa con người.
Vì thế, trước đây, nhất là thời kỳ xã hội phong kiến, người nông dân
tìm mọi cách cố tránh cho khỏi đại họa này, mong sao năm này qua năm
khác mọi người đều được no đủ, yên lành. Hơn nữa, trong xã hội này, ngoài
sự bất trắc của thiên nhiên, thân phận người nông dân còn phải chịu biết bao
nhiêu đau khổ khác do xã hội con người đày đọa, dày vò. Cho nên, việc gửi
gắm niềm tin và hy vọng vào sự giúp đỡ, phù hộ độ trì của các thế lực tự
12
Gần với đối tượng và địa bàn nghiên cứu còn có cuốn Văn hóa Phùng
Nguyên của Hán Văn Khẩn, nguyên chủ nhiệm bộ môn khảo cổ học, chuyên
gia về Văn hóa Phùng Nguyên đã từng khẳng định rằng cư dân Phùng
Nguyên là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước điển hình của đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Trong đó, bức tượng đàn ông với sự nhấn nổi bộ phận
sinh dục là ước vọng phồn thực của cư dân Phùng Nguyên [Hán Văn Khẩn,
2005, tr. 118]. Theo tác giả, Văn hóa Phùng Nguyên là tảng nền cho sự này
sinh và phát triển liên tục của các văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn ở
lưu vực sông Hồng, trong đó, cư dân Phùng nguyên đáng được coi là những
người đầu tiên "khai sơn phá thạch, mở lối đắp đường" ở châu thổ sông
Hồng - cái nôi của Nhà nước Hùng Vương - An Dương Vương. Do đó, muốn
hiểu biết về người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ không thể không
quan tâm đến Văn hóa Phùng Nguyên.
Bổ sung cho nguồn tư liệu tàng trữ trong lòng đất về huyện Lâm Thao,
tỉnh Phú Thọ nói riêng, châu thổ sông Hồng nói chung phải kể đến nguồn tư
liệu còn đang được tàng trữ trong lòng người ở đây. Một trong những nguồn
tư liệu đó là cuốn Văn hiến làng xã vùng đất tổ Hùng Vương của tác giả Vũ
Kim Biên in ấn năm 1999, do Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử
văn hóa Việt nam và Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao tỉnh Phú Thọ phát
hành. Trong đó có nói tới một hèm cầu tối cổ - lễ hội Trò Trám của làng Tứ
Xã, huyện Phong Châu (nay là huyện Lâm Thao, Phú Thọ).
Cuốn sách trên cũng giới thiệu lễ hội Đền Thánh Ông, Thánh Bà làng
Đức Bác, nơi khởi nguồn của phường Xoan nổi tiếng Phù Đức (làng Đồng
Lương) kết nghĩa với phường Xoan Đức Bác (Đức Bác là em, Phù Đức là
anh). Từ đó, có tục hát Xoan với các trò bắt cá, tung đúm, trêu trọc giữa nam
và nữ [Vũ Kim Biên, 1999, tr. 258]


14
như hình tượng Linga và Yoni trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp Đào Thịnh
cho tới các công cụ trong sinh hoạt hàng ngày như cái chày, cái cối, bàn
nghiền, cày cuốc, dùi, mẹt Tác giả Dương Đình Minh Sơn đã có những
khám phá, phát hiện khá mới mẻ về ý nghĩa, hình thức biểu hiện, đặc biệt là
ý nghĩa tâm linh của Văn hóa nõ nường. Nhiều biểu tượng về cái nõ nường
cũng được giới thiệu như Chùa Một Cột (Hà Nội), Cột Đá Chùa Dạm (Bắc
Ninh), Cột Đá buộc ngựa của Thánh Gióng ở Vũ Ninh (Phú Thọ) Đó là
biểu tượng Linga hay các giếng nước là biểu tượng Yoni ở nhiều vùng khác
nhau [Vũ Anh Tú, 2010, tr. 23]
Đấy là còn chưa kể một số đền, chùa ở Thánh Địa Mỹ Sơn (2006)
của tác giả Ngô Văn Doanh, do Nhà xuất bản Trẻ - Thành phố Hồ Chí
Minh in ấn, ở các trang 55, 139, 156 Có hình ảnh Linga và Yoni khá đặc
sắc [Ngô Văn Doanh, 2006, tr. 55, 139, 150].
Đặc biệt, trong thời gian gần đây nhất, năm 2010, tác giả Vũ Anh Tú
có cuốn Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian người Việt cổ ở châu
thổ Bắc Bộ; do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phát hành [Vũ Anh Tú,
2010. tr. 15- 145]. Cuốn sách này đã cung cấp nhiều tư liệu liên quan đến các
biểu hiện của tín ngưỡng cầu mùa mà hầu hết các công trình nghiên cứu ở
nước ta đều gọi là tín ngưỡng phồn thực. Cả ba chương đầu (I, II, III) của
công trình này, tác giả Vũ Anh Tú chủ yếu giới thiệu các lý thuyết và một số
biểu hiện cụ thể về tín ngưỡng phồn thực. Riêng chương 3 tác giả đã thống
kê và phân loại các lễ hội phồn thực ở Bắc Bộ theo nội dung và hình thức,
tác giả đã gợi ra nhiều vấn đề cần thảo luận thêm. Trong đó bản thân hai
thuật ngữ, hai cách gọi tín ngưỡng cầu mùa và tín ngưỡng phồn thực cũng là
vấn đề cần tranh luận
(20)
.

(20)

mùa chỉ giới hạn trong phạm vi cư dân trồng trọt, nông nghiệp, nhất là các nước Đông Nam Á, trong đó có
Việt Nam. 16
5. Phương pháp tiếp cận và nghiên cứu
Với đề tài Tín ngưỡng cầu mùa trong lễ hội của người Việt ở huyện
Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, có thể nói đây là đề tài khá lý thú, nhưng cũng
khó tiếp cận và triển khai nghiên cứu. Cái khó thứ nhất, đây là đề tài mang
tính chất dân gian, các nguồn tư liệu về nó đang nằm rải rác, phân tán trong
các địa phương. Cái khó thứ hai, phần lớn các nguồn tư liệu đó không chỉ
phân tán, mà đã trải qua những thời gian lịch sử khá dài hàng nghìn năm,
phần lớn tư liệu phải dùng phương pháp hồi cố, thậm chí phải tưởng tượng
về quá khứ. Vì thế, những tư liệu này đã được các tầng lớp trong xã hội
nhận thức, sàng lọc, đánh giá một cách khác nhau, tùy thuộc vào lợi ích của
các tầng lớp đó.
Cho nên, muốn tiếp cận và nghiên cứu được những nội dung đề tài
này, việc vận dụng phương pháp nghiên cửu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ yếu duy vật lịch sử làm kim chỉ nam là điều cần thiết. Đó là
tập trung tìm hiểu, lý giải bản chất, nội dung cũng như hình thức biểu hiện
vô cùng sinh động của tín ngưỡng cầu mùa đã, đang hiện hữu trong thực tế
đời sống xã hội và trong các lễ hội truyền thống của người Việt ở Lâm Thao,
Phú Thọ nói riêng, vùng châu thổ sông Hồng nói chung.
Vì thế, việc nghiên cứu định tính trong khu vực văn hóa - lịch sử - dân
tộc học là cần thiết. Lý thuyết vùng văn hóa ra đời ở phương Tây từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Đó là những nhà Nhân học Mỹ như: F.Boas,
C.L.Wisler, A.L.Kroeber với sự phát hiện về típ đặc trưng cho vùng, tiếp
theo là lý thuyết vùng văn hóa đã lan rộng tới các nhà dân tộc học Xô Viết,
mà người đại diện là hai nhà dân tộc học nổi tiếng N.N.Trêbôcxarôp và
M.G.Lêvin.


18
công dựng xây, vun đắp hàng ngàn năm mà huyện Lâm Thao là một trong
những nơi khởi nguồn, khai sơn, phá thạch.
Tìm hiểu, nghiên cứu một không gian địa lý, xã hội đặc biệt này cần
phải có phương pháp tiếp cận và nghiên cứu khoa học, phù hợp với thực tiễn
của nó. Trên cơ sở các lý thuyết vùng văn hóa trên đây, phương pháp nghiên
cứu định tính là lựa chọn thích hợp có tính khả thi hơn cả. Cho nên, để phân
tích định tính việc căn cứ vào tư liệu thực tiễn là quan trọng. Nhưng, phần
lớn những tư liệu đó đều là vấn đề, hiện tượng của quá khứ, nên việc hồi cố
qua những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là cần thiết.
Vì, nghiên cứu định tính, phải căn cứ vào tư liệu thực tế mà không đưa
các khái niệm lý luận ra làm định hướng và kiểm nghiệm đúng, sai như
nghiên cứu định lượng.
Ví dụ, trong lễ hội Trò Trám ở làng Trám, xã Tứ Xã (Phong Châu -
Phú Thọ) tổ chức vào ngày 11 tháng Giêng có lễ mật vào lúc nửa đêm, gọi
là lễ "linh tinh tình phộc", thực chất là các nghi thức cầu sinh thực khí, hài
hòa âm - dương, đực - cái. Về sau trò diễn này, nam nữ thanh niên thi hát
giao duyên rồi tự do đùa nghịch trêu chọc nhau để sáng hôm sau rước lúa
thần vào miếu tế thần làng, cầu mong mùa màng tốt tươi, người an, vật
thịnh, mọi điều được tốt đẹp, như ý.
Qua lễ linh tinh tình phộc để cầu sinh thực khí của Xóm Trám, Phú
Thọ, cũng như các lễ tục sùng bái, tôn thờ cái Nõ Nường và tiến cúng các cô
gái còn trinh cho các thần làng ở Bắc Ninh và những tục lệ tương tự vùng
châu phổ Bắc Bộ, cầu cho người yên, vật thịnh đều thể hiện các nghi thức
cầu mùa. Ở đây, các hành vi văn hóa này đã được cơ chế hóa, xây dựng trên
cơ sở tự điều chỉnh của các cộng đồng sao cho phù hợp với thực tiễn của
mình. Đây không phải là dịp để phân định cái nào tốt, cái nào xấu mà chê
thời nguyên thủy về tục thờ sinh thực khí. Thực chất là sùng bái, tôn thờ các
lực lượng có khả năng truyền giống và nhân giống mang lại ánh sáng khác
thường cho các cơ quan sinh sản và thiêng liêng hóa chúng.
Bởi vậy, nỗi cầu mong phồn sinh phồn thực khi đã trở thành tín
ngưỡng, lấy âm dương vật làm đối tượng thờ cúng. Sự thờ cúng âm dương
vật (mà các nước theo Phật giáo gọi là Linga và Yoni), ở Việt Nam thường
gọi là cái Nõ, cái Nường Sự sùng bái sinh thực khí đó đã trở thành hạt
nhân của tín ngưỡng phồn thực nói chung và là hạt nhân của tín ngưỡng cầu
mùa nói riêng ở các nước nông nghiệp.
- Về thực tiễn, trên cơ sở nhận thức và nguồn gốc như vậy, các tín
ngưỡng này đã tồn tại và phát triển ở mỗi nơi, mỗi vùng một khác, mang
những đặc trưng riêng. Những đặc trưng đó phản ánh đặc điểm tự nhiên, xã
hội một cách sống động những nơi đã sản sinh và nuôi dưỡng nó. Ở Việt
Nam và các nước nông nghiệp, tín ngưỡng cầu mùa trở thành đặc trưng riêng
với sự cầu mong cao nhất là mùa màng tốt tươi, người an, vật thịnh, mọi sự
như ý.
Luận văn đã phân biệt rõ hai khái niệm tín ngưỡng phồn thực và tín
ngưỡng cầu mùa như vậy đã góp phần làm rõ hơn thực chất giữa hai khái
niệm này với tính thực tiễn của chúng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận. Luận văn được chia làm 4 chương như
sau:
- Lời mở đầu
- Chương 1: Tổng quan lý thuyết và các khái niệm liên quan đến tín
ngưỡng cầu mùa. 21
- Chương 2: Người Việt ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ và những
đặc điểm về môi trường sinh thái, kinh tế, văn hóa, xã hội truyền thống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status