VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THU HIỀN
HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở XÃ NINH LAI,
HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 31 03 10
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Song Hà
Phản biện 1: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thắng
Phản biện 2: TS. Lương Thị Thu Hằng
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ
họp tại: Học viện Khoa học Xã hội 10 giờ, ngày 17 tháng 10 năm 2017,
447 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân - Hà Nội
qua các phong tục, tập quán, nghi lễ của tộc người. Do vậy, đã có nhiều tác
giả, nhà nghiên cứu dân tộc học, nhà khoa học quan tâm và dày công nghiên
1
cứu về tộc người này. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, kể
cả sách báo cũng như các tạp chí đã nêu bật được tổng tổng thể bức tranh
văn hóa của người Sán Dìu trên các vùng miền của cả nước, trong đó có hôn
nhân của người Sán Dìu.
2.1. Tình hình nghiên cứu các tác giả nước ngoài
Vấn đề hôn nhân của con người từ lâu đã được các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lên Nin đề cập đến tong tác phẩm “Nguồn gốc của gia
đình của chế độ tư hữu và của nhà nước” [2]. Trong tác phẩm này, F. Ăng
ghen đã khái quát hôn nhân gắn với các giai đoạn lịch sử của nhân loại, từ
thời kỳ tiền sử đến thời kỳ bộ lạc, thời kỳ phát sinh nhà nước đầu tiên cho
đến khi hình thành nhà nước hoàn chỉnh. Qua sự phân tích và khái quát của
F. Ăng ghen về hôn nhân và gia đình gắn liền với sự biến đổi và phát triển
của các giai đoạn lịch sử cho thấy, có ba thời kỳ gắn với ba hình thức đó là:
Thời kỳ mông muội là chế độ quần hôn; thời đại dã man là chế độ hôn nhân
đối ngẫu; và thời đại văn minh là hôn nhân một vợ một chồng. Có thể nói,
đây là một tác phẩm nghiên cứu về hôn nhân tổng quan nhất, giúp người đọc
có cái nhìn toàn diện về hôn nhân.
2.2. Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nước về văn hóa
của người Sán Dìu
2.2.1. Các nghiên cứu về văn hóa, gia đình của người Sán Dìu
Một trong những công trình nghiên cứu sớm nhất có đề cập đến
người Sán Dìu là Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (17231782). Trong công trình này tác giả có nhắc đến các tộc người ở xứ Tuyên
Quang. Trong 07 chủng tộc người Man, có chủng tộc Sơn Man1, được các
Có thể nói, tất cả các công trình đã đề cập nêu trên là nguồn tư liệu có
giá trị để luận văn này tham khảo, song vấn đề đặt ra là các công trình nêu trên
2
Ma Khánh Bằng (1983), Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.9.
3
chủ yếu chỉ là những mô tả dân tộc học, đã có ít nhiều công trình chú ý phân tích
để làm rõ đặc trưng văn hóa của tộc người Sán Dìu, những vấn đề biến đổi đang
đặt ra trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa song nghiên cứu về hôn nhân của
người Sán Dìu tại một địa bàn cụ thể là xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyê Quang để thấy được các giá trị văn hóa tộc người, truyền thống và biến
đổi; và những vấn đề đặt ra của hôn nhân đối với Luật Hôn nhân và gia đình;
công cuộc xây dựng đời sống nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước ta đang
thực hiện thì chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc, triệt để.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Giới thiệu tương đối toàn diện, đầy đủ và có hệ thống những đặc
điểm và nghi lễ trong hôn nhân truyền thống và biến đổi của người Sán Dìu
xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trước và sau khi đất nước
ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986), để từ đó thấy được đặc trưng văn hóa
của tộc người.
- Nêu lên những biến đổi và một số yếu tố tác động đến sự biến đổi
trong hôn nhân của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bước đầu, đề xuất một số kiến nghị
nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp trong hôn nhân của người Sán
Dìu xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong xây dựng nông
- Điền dã dân tộc học: Để thực hiện luận văn này, tác giả đã thực
hiện 05 cuộc điền dã, tham dự 03 đám cưới tại xã Ninh Lai, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang vào cuối năm 2016 và đầu năm 2017; Tổng quan,
kế thừa các tư liệu sẵn có như: Luận văn đã tham khảo, kế thừa những công
trình nghiên cứu trước, luận án, luận văn, tài liệu của tác giả trong và ngoài
nước, nhất là các cuốn sách, ấn phẩm về hôn nhân nói chung và hôn nhân
của người Sán Dìu nói riêng đã công bố thông qua nguồn tư liệu tham khảo
5
này, tác giả luận văn có thêm luận cứ để so sánh, đối chiếu nhằm thấy được
sự tương đồng và khác biệt với một số cộng đồng người Mường, Kinh, Thái
sống cộng cư. .
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn là một công trình nghiên cứu có hệ
thống, chuyên sâu về các nghi thức, nghi lễ trong hôn nhân của người Sán
Dìu xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Phản ánh chân thực
đời sống văn hóa của dân tộc này thông qua các nguyên tắc, đặc điểm, các
nghi lễ biến đổi trong hôn nhân của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai được luận
văn đặc biệt chú trọng và tập trung phân tích.
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ nghiên cứu về nghi thức hôn nhân của người
Sán Dìu ở xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, luận
văn sẽ góp phần bổ sung nhiều tư liệu mới và chỉ ra những yếu tố nội sinh
cũng như quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa trong lĩnh vực hôn nhân của
người Sán Dìu.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được cơ cấu gồm 3 chương:
Chương 1 - Cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu.
phi vật thể, do đó nó cũng không phải yếu tố bất biến mà luôn luôn vận
động, biến đổi thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn. Trong bối cảnh
hội nhập, cư trú đan xen hiện nay, biến đổi văn hóa của các tộc người, trong
đó có hôn nhân là hoàn toàn tất yếu.
8
- Bản sắc văn hóa tộc người: Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể
những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần mang đặc tính chung và riêng của
tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác và giữa nhóm địa
phương trong cùng tộc người với nhau.
1.1.2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Giao lưu tiếp biến văn hóa
là quá trình một nền văn hóa thích nghi, chịu ảnh hưởng của nền văn hóa
khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy. Vì thế, sự
giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó
là sự trao đổi đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện
và liên tục. Các thành tố của nền văn hóa tuy có biến đổi, song mỗi nền văn
hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình… Qua quá trình tiếp xúc và giao lưu
giữa hai nền văn hóa thì xã hội yếu hơn thường sẽ bị xã hội mạnh hơn tác
động làm thay đổi [28, tr. 107-108].
- Thuyết chức năng: Theo Malinowski, văn hóa là cái nhằm thỏa
mãn nhu cầu sinh vật của mình, hơn nữa nó cải tạo môi trường xung quanh
và tạo ra môi trường sản xuất. Văn hóa là tổng thể những đáp ứng đối với
nhu cầu cơ bản và nhu cầu sản xuất. Chính vì vậy, bất kì văn hóa nào trong
tiến trình phát triển đều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn định, trong đó mỗi
bộ phận của chỉnh thể đều được thực hiện chức năng của nó. Như vậy,
thuyết này nhìn nhận chức năng cơ bản của văn hóa là để thỏa mãn những
nhu cầu của cá nhân về cả vật chất (kế sinh nhai, nhà ở, quần áo...) lẫn tâm
1.2.3. Khái quát về xã Ninh Lai.
1.2.3.1. Lịch sử và điều kiện tự nhiên.
Xã Ninh Lai nằm ở phía Nam của huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên
Quang, cách trung tâm huyện khoảng 35km, cách thành phố Tuyên Quang
khoảng 65km. Phía bắc giáp xã Thiện Kế, phía nam giáp xã Đạo Trù (huyện
Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc). Hiện nay xã Ninh Lai gồm có 20 thôn. Tổng diện
10
tích đất tự nhiên là 2.468 ha. Dân số là 2.061 hộ với 8.493 nhân khẩu, gồm 03
dân tộc anh em cùng chung sống: Sán Dìu, Kinh, Dao. Trong đó, người Sán Dìu
đông nhất chiếm 75% dân số toàn xã [53, tr 5,7,123].
1.2.3.2. Một số đặc điểm kinh tế.
Người Sán Dìu ở đây sống chủ yếu bằng phương thức trồng trọt, chăn
nuôi. Đồng bào khai phá nương rẫy từ rừng tự nhiên đất màu mỡ, thích hợp với
từng loại cây trồng như lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, vừng, hoa màu các loại và rau
xanh... Hệ thống đồi núi thấp và dải đất bằng là thế mạnh của xã Ninh Lai, thuận
lợi cho việc trồng một số loại cây công nghiệp như mía, cây lấy gỗ và trồng một
số giống lúa đặc sản, thơm ngon, đảm bảo cơ cấu kinh tế nông - lâm nghiệp bền
vững. Các điều kiện tự nhiên của xã đã tạo tiền đề thuận lợi để cho xã Ninh Lai
xây dựng cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện.
1.2.3.3. Đời sống xã hội
Hiện nay, tỉnh Tuyên Quang có 22 dân tộc anh em cùng cư trú,
trong đó, tại xã Ninh Lai có 03 dân tộc (Sán Dìu, Kinh, Dao) cùng sinh sống
quần tụ chan hoà trong khối đoàn kết gắn bó keo sơn. Người Sán Dìu sống
theo gia đình nhỏ, trong đó mọi quyền hành thuộc về người chồng, người
đàn ông. Đơn vị cư trú của người Sán Dìu ở xã Ninh Lai tương đương với
một làng của người Kinh gọi là bản. Bản người Sán Dìu ở xã Ninh Lai
thường được phân bố ở cạnh các sườn núi, các ngọn đồi thấp dọc theo sông,
1.2.3.5. Công tác giáo dục
Năm học 2015 - 2016, trường Tiểu học xã Ninh Lai có 28 lớp học
với 769 học sinh; Trường Trung học cơ sở có 18 lớp với 448 học sinh. Cả 2
trường đều nằm tại trung tâm xã; năm 2016 đạt chuẩn quốc gia. Tổng cộng
toàn xã có 01 trường mầm non cũng nằm ở trung tâm xã gồm có 20 lớp học,
3
Ma Văn Bằng - Người Sán Dìu ở Việt Nam - Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1983.
12
tổng cộng 508 cháu.(Theo báo cáo tổng kết năm 2015 - 2016 của UBND xã
Ninh Lai).
1.2.3.6. Công tác y tế
Công tác chăm sóc sức khỏe người dân được quan tâm đều đặn và
thường xuyên. Toàn xã Ninh Lai có 01 trạm y tế, các chương trình y tế quốc
gia, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình uốn ván sơ sinh và thực
hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, phòng chống sốt rét…
Tiểu kết chương 1
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số
khái niệm cơ bản như : Hôn nhân, nghi lễ, văn hóa tộc người, truyền thống,
biến đổi..., một số lý thuyết nghiên cứu được sử dụng trong luận văn như : Lý
thuyết chức năng, lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa để phân tích và đánh giá các nội
dung của luận văn.
Địa bàn nghiên cứu chính của đề tài luận văn là xã Ninh Lai, với tỷ
lệ chiếm 75% dân số của toàn xã, cùng với điều kiện địa lý tự nhiên, khí hậu,
đất đai, nơi cư trú và lịch sử tụ cư của người Sán Dìu đã tạo nên một nền văn
hóa đa dạng, phong phú, mang sắc thái đặc trưng riêng của người Sán Dìu ở
đăng hộ đối.
2.2.3. Tuổi kết hôn
14
Trong xã hội truyền thống, người Sán Dìu ở xã Ninh Lai con trai
thường 17-18 tuổi có vợ đã, con gái 16-17 tuổi đã gả chồng và đồng bào
quan niệm lứa tuổi như vậy để dựng vợ, gả chồng là phù hợp, con trai cũng
đã đến tuổi trưởng thành, đã được tham gia vào các hoạt động của cộng
đồng, gia đình, phụ nữ này bắt đầu biết chăm lo cho gia đình và làm mẹ.
2.2.4. Tiêu chí lựa chọn bạn đời
Người đàn ông là trụ cột chính trong gia đình, nên người chồng lý
tưởng, thường được để ý đến gia đình có hòa thuận không; khi lựa chọn bạn đời
của mình các cô gái thường để ý xem là người ấy có sức khỏe tốt, cao to, có sức
vóc hơn người, biết săn bắt hái lượm, cần cù, chịu khó, chăm chỉ làm ăn...
Người vợ lý tưởng, phải là một cô gái khỏe mạnh, ngoan hiền, nết
na, thùy mị, cần cù, chăm chỉ, chịu khó, bắp chân to mập mạp, giỏi việc
đồng áng và chăm lo hạnh phúc cho gia đình, phẩm chất đạo đức tốt, biết
trồng bông, xe sợi, dệt vải và biết may vá, thêu thùa, có thể làm được cái
chăn đắp, áo mặc cho chồng, cho con.
2.2.5. Tính chất hôn nhân
Hôn nhân truyền thống của người Sán Dìu thường mang tính gả bán
khá rõ nét, thể hiện qua việc sau khi hai bên đã quyết định đi tới hôn nhân,
đại diện nhà trai và nhà gái cùng nhau trao đổi, bàn bạc, thỏa thuận, thống
nhất về số tiền cũng như lượng thực phẩm: Gạo, gà, rượu, chè, thuốc lá…
mà nhà trai phải mang sính lễ dẫn cưới sang cho nhà gái. Trong đó, không thể một
khoản tiền mặt, bạc trắng với ý nghĩa để mua người con gái về nhà mình.
2.3. Nguyên tắc và hình thức kết hôn
2.3.1. Ngoại hôn dòng họ
cho rằng, sau này khi chết đi, người chồng sẽ bị mồ côi vợ ở thế giới biên kia, vì
vợ anh ta lúc đó sẽ xum họp với hồn ma của người chồng cũ. Còn trường hợp
gái tân mà lấy trai góa vợ thì phải được bố mẹ gia đình cô gái đồng ý và tổ chức
hôn lễ theo tập tục của đồng bào, tức là nhà trai phải trải qua các thủ tục, nghi lễ
16
của đám cưới đầy đủ như cưới vợ lần đầu. Đối với gái chửa hoang, người Sán
Dìu ở Ninh Lai tuân thủ theo luật tục, quan niệm của đồng bào chửa hoang là
một vấn đề rất nặng nề.
2.3.5. Ngoại tình và ly hôn
Gắn liền với quan niệm về một cuộc sống chung thủy, gắn bó nên
với Sán Dìu chuyện vợ chồng ly dị cũng là chuyện hiếm có, nếu điều đó có
xảy ra thì không chỉ liên quan đến việc phân chia con cái, tài sản mà còn khó
lòng tránh khỏi những lời dèm pha, chê bai, đàm tiếu, dị nghị của họ hàng,
làng xóm, nhất là với phụ nữ.
2.4. Nghi lễ trong hôn nhân
2.4.1. Bước tìm hiểu
Khi con cái đến tuổi trưởng thành, các bậc cha mẹ đã để ý tìm kiếm
ý trung nhân cho con trai, con gái để được thuận tuổi cũng như phù hợp
hoàn cảnh gia đình, hoặc trường hợp trai gái yêu nhau họ cũng thường tìm
hiểu tuổi hợp nhau để có thể tiến xa hơn. Khi nhà gái đồng ý hai bên tiến
hành các nghi lễ tiếp theo.
2.4.2. Trước lễ cưới (Khịn tạo sênh ca chíu)
Trước lễ cưới, hai bên gia đình thường tiến hành một số lễ thức cần
thiết nhằm đánh dấu quan hệ của đôi nam nữ và thể hiện trách nhiệm của hai
bên gia đình đối với hôn nhân của con cái mình, tạo điều kiện để đôi nam nữ
tiến tới hôn nhân, gồm có: Nghi lễ xin lá số (Lỏng nén sang); Nghi lễ dạm ngõ
(Hỵ mun); Nghi lễ ăn hỏi và nghi lễ sang bạc (Hỵ mun nghén cạ/Hỵ cộ nghén);
mặt vẫn được dồng bào Sán Dìu ở Ninh Lai vẫn duy trì, gìn giữ và thực
hiện. Lại mặt là nghi lễ cuối cùng của đám cưới. Ý nghĩa của nghi lễ này là
nhắc nhở con cái giữ đạo hiếu, biết ơn sinh thành của cha mẹ, nhắc chàng rể
coi bố mẹ vợ cũng như bố mẹ mình
- Một số phong tục, tập quán khác
18
Trong cuộc sống, người Sán Dìu rất quý con dâu, coi con dâu như
con gái nhà, và cũng rất quý con rể, coi con rể như con trai trong nhà. Các
em chồng rất quý chị dâu, nhất là các em gái. Các em vợ rất trọng anh rể. Do
đó, cô dâu tuy mới về nhà chồng cũng rất yên tâm và sống vui vẻ trong gia
đình nhà chồng. Con rể cũng rất vui vẻ đi lại nhà bố mẹ vợ. Con rể coi bố
mẹ vợ cũng như bố mẹ mình.
- Đám cưới đối với trường hợp ở rể:
Theo phong tục truyền thống người Sán Dìu từ trước đến nay, cư trú
sau hôn nhân là ở bên nhà chồng. Tuy nhiên, gia đình nào không có con trai
thì người con gái sẽ cưới rể về nhà, người Sán Dìu ở Ninh Lai gọi là “rip
món” (ở rể). Trong trường hợp này, nhà gái đứng ở vị trí nhà trai và chủ
động tổ chức hôn lễ như những cuộc hôn nhân bình thường khác, từ lễ dạm
ngõ, ăn hỏi và cưới...
Tiểu kết chương 2
Hôn nhân của người Sán Dìu vẫn mang nặng tính chất phụ quyền,
gia trưởng với vai trò quyết định chính vẫn là nam giới, gia đình, họ hàng
trai. Trai gái được tự do tìm hiểu nhau nhưng cha mẹ, dòng họ là người
quyết định hôn nhân của con cái. Các quy tắc hôn nhân truyền thống vẫn
được bảo tồn: Ngoại hôn dòng họ, nội hôn tộc người, cô dâu cư trú bên nhà
chồng… Trong hôn nhân, mục đích chính là sinh con, đẻ cái, tăng nhân lực
cho gia đình, dòng họ. Vì vậy, mọi quan niệm về tiêu chuẩn chọn bạn đời
- Biến đổi về trang phục
3.2. Nguyên nhân của sự biến đổi
3.2.1. Tác động của pháp luật
3.2.2. Tác động của các chính sách đổi mới kinh tế - xã hội
3.2.3. Tác động của yếu tố văn hóa, xã hội, giáo dục và thông tin
truyền thông
20
3.2.4. Những ảnh hưởng của các nghi lễ trong hôn nhân của người
Sán Dìu đến quá trình Xây dựng nông thôn mới và cuộc vận động “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.
3.2.4.1. Quá trình xây dựng nông thôn mới và cuộc vận động “Toàn
dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” ở xã Ninh Lai.
Đối với xã Ninh Lai, việc triển khai Chương trình nông thôn mới
được thực hiện vào giữa năm 2011 cùng với việc ban hành Nghị quyết
thực hiện của Đảng ủy và chính quyền xã. Qua 6 năm thực hiện, theo báo
cáo của UBND xã Ninh Lai, đến tháng 10 năm 2016, xã đã đạt 19/19 tiêu
chí theo quy định của bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
3.3.4.2. Ảnh hưởng của phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân
đối với quá trình xây dựng nông thôn mới tại cộng đồng dân cư
Thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống
văn hóa mới từ năm 1986 đến nay, được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng,
chính quyền địa phương, nhân dân xã Ninh Lai đã phát động và thực hiện
phong trào "Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới" ở 20 thôn bản trong
địa bàn toàn xã. Trong đó, tang ma, cưới xin của người Sán Dìu là một trong
những nội dung cơ bản liên quan tới việc thực hiện nếp sống văn minh ở xã
Ninh Lai đến địa bàn từng thôn và tới từng hộ gia đình.
thành công phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình, làng bản văn
hóa phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc; khuyến khích, phát huy
những phong tục, tập quán tốt đẹp, có giá trị nhân văn, thể hiện bản sắc tộc
người, loại bỏ những tập quán không còn phù hợp với xây dựng đời sống
văn hóa mới.
22
KẾT LUẬN
Nghiên cứu về hôn nhân của người Sán Dìu ở Ninh Lai không chỉ
có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, để từ đó có
những kiến nghị, đề xuất với cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp trong việc cưới. Những kết quả đạt được
đã có đóng góp cho khoa học về nguồn tư liệu mới về tộc người Sán Dìu ở
địa bàn nghiên cứu nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung; giúp
các nhà nghiên cứu đi sau có cái nhìn khái quát hơn khi đi sâu vào tìm hiểu
lĩnh vực hôn nhân và có điều kiện để so sánh, đánh giá về hôn nhân của
người Sán Dìu giữa các vùng miền cụ thể. Trên cơ sở tiếp cận từ góc nhìn
Nhân học/ Dân tộc học, chúng ta nhận thấy hôn nhân của người Sán Dìu là
chuỗi hệ thống giá trị mang đặc trưng sắc thái tộc người. Các đặc điểm,
nguyên tắc, hình thức, tập quán, nghi lễ hôn nhân của người Sán Dìu ở Ninh
Lai có sự tương đồng và khác biệt, mang yếu tố lịch sử, kinh tế - xã hội, văn
hóa tộc người giữa các vùng miền. Đây là những yếu tố quan trọng để có thể
so sánh với hôn nhân của người Sán Dìu cư trú ở các vùng miền khác, cũng
như tộc người khác trên lãnh thổ Việt Nam.
23