HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI HMÔNG HOA Ở XÃ PÚNG LUÔNG, HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC - Pdf 34

MỤC LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là một trong những thiết chế xã hội có liên hệ chặt chẽ với toàn bộ
hệ thống xã hội. Hôn nhân phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và
tinh thần, tư tưởng và tâm lý của con người đồng thời phản ánh những thay đổi diễn
ra trong xã hội và ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống xã hội. Vì thế, hôn nhân luôn là
một vấn đề quan trọng của xã hội được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Dưới góc nhìn của khoa học Nhân học/Dân tộc học thì hôn nhân là một trong những
tiêu chí để phân biệt tộc người này với tộc người khác. Nói cách khác, bản sắc của
mỗi tộc người thường được bộc lộ qua các mối quan hệ trong hôn nhân. Do đó,
nghiên cứu hôn nhân của người Hmông sẽ góp phần làm rõ bản sắc tộc người này
trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam.
Người Hmông là tộc người thiểu số có số dân đứng hàng thứ sáu trong tổng
số 54 dân tộc ở Việt Nam, với 1.068.189 người (theo Tổng điều tra dân số và nhà ở
Việt Nam năm 2009). Người Hmông cư trú trên một địa bàn khá rộng, bao gồm các
tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Lạng Sơn, Bắc
Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An… Tuy nhiên, sự
nhập cư ồ ạt của người Hmông vào các tỉnh Tây Nguyên từ sau năm 1975 đến nay
đã làm cho bức tranh phân bố tộc người này càng trở nên rộng lớn hơn. Dù vậy, địa
bàn cư trú của người Hmông chủ yếu vẫn là các tỉnh vùng cao phía Bắc, dọc theo
biên giới Việt - Trung và Việt - Lào, từ Lạng Sơn đến Nghệ An.
Có một đặc điểm rất dễ nhận thấy là người Hmông dù cư trú ở rất nhiều địa
bàn khác nhau, nhưng văn hóa của tộc người này ít có sự khác biệt và luôn thống

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hôn nhân của con người từ lâu đã được các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lê Nin đề cập đến trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình của chế độ
tư hữu và của nhà nước”[2]. Trong tác phẩm này, F. Ăng ghen đã khái quát hôn
nhân gắn với các giai đoạn lịch sử của nhân loại, từ thời kỳ tiền sử đến thời kỳ bộ
lạc, thời kỳ phát sinh nhà nước đầu tiên cho đến khi hình thành nhà nước hoàn
chỉnh. Qua sự phân tích và khái quát của F. Ăng ghen về hôn nhân và gia đình gắn
liền với sự biến đổi và phát triển của các giai đoạn lịch sử cho thấy, có ba thời kỳ

3


gắn với ba hình thức đó là: thời đại mông muội là chế độ quần hôn; thời đại dã man
là chế độ hôn nhân đối ngẫu; và thời đại văn minh là hôn nhân một vợ một chồng.
Có thể nói, đây là tác phẩm nghiên cứu về hôn nhân tổng quan nhất, giúp người đọc
có cái nhìn toàn diện về hôn nhân.
Tộc người Hmông từ lâu đã được các nhà khoa học xã hội ở Việt Nam và thế
giới quan tâm. So với nhiều dân tộc khác, các công trình nghiên cứu về dân tộc
Hmông khá phong phú và xuất phát từ nhiều mục đích, nhu cầu khác nhau, nhiều ấn
phẩm được xuất bản cả ở trong và ngoài nước với nhiều tiếng khác nhau như: Tiếng
Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, tiếng Việt và tiếng Hmông…
Thời kỳ Pháp thuộc, người Hmông đã được biết đến thông qua các ghi chép
của một số giáo sỹ và sỹ quan người Pháp. Trong đó có những ghi chép đáng chú ý
là của cha F.M. Savina với tác phẩm “Lịch sử người Mèo”. Với việc phân tích và
xem xét tỉ mỉ tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục của dân tộc Hmông, tác giả tìm cách
chứng minh người Hmông có nguồn gốc từ phương Tây. Tác giả cho rằng từ thời
nguyên thủy, người Hmông đã sinh sống trên bờ sông Euphrate và sông Tigre hay
còn gọi là Lưỡng Hà. Về sau họ đã di cư về phương Bắc, qua miền Côcadơ hoặc
qua Turkestan vào thời kỳ không xác định. Do những biến đổi về khí hậu khiến họ
phải tìm đến vùng khí hậu ôn hòa hơn nên đã đưa họ đến vùng Đông Á và người

đề hôn nhân chẳng hạn.
Từ góc nhìn văn hóa tộc người, các tác giả Trần Hữu Sơn với “Văn hóa
người Hmông” và Hoàng Xuân Lương với “Văn hóa người Hmông ở Nghệ An” đã
cung cấp những nét văn hóa tiêu biểu trong các lĩnh vực đời sống của người Hmông
ở những vùng miền cụ thể. Có thể nói, các công trình nói trên có ý nghĩa quan trọng
cho những ai muốn nghiên cứu về văn hóa người Hmông nói chung và người
Hmông ở Lào Cai và Nghệ An nói riêng.
Xuất phát từ vấn đề quản lý xã hội và phát triển xã hội ở vùng dân tộc thiểu
số, tác giả Bùi Xuân Trường cùng các cộng sự với nghiên cứu “Tác dụng của luật
tục đối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, H’mông Tây Bắc Việt Nam” đã
giới thiệu, làm rõ vai trò của luật tục trong đời sống hàng ngày và trong quản lý xã
hội vùng dân tộc Hmông.
Nghiên cứu so sánh “Hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh
Lai Châu và Cao Bằng” của Đỗ Ngọc Tấn và các cộng sự đã đi sâu phân tích, phản

5


ánh rõ nét những đặc điểm, cũng như thực trạng trong hôn nhân và gia đình của hai
dân tộc Hmông và Dao qua các số liệu điều tra cụ thể. Tuy nhiên, cuốn sách không
nghiên cứu chuyên sâu về một nhóm người Hmông nào và cũng chưa đi sâu phân
tích các nghi lễ diễn ra trong hôn nhân của người Hmông.
Trong số các nghiên cứu về người Hmông, cũng đã có một số nghiên cứu cụ
thể về người Hmông Hoa ở Tây Bắc Việt Nam. Đáng chú ý là Vũ Huy Quang với
nghiên cứu “Bước đầu tìm hiểu tổ chức và quan hệ xã hội cổ truyền của một làng
người Hmông - Hoa ở huyện Mù Cang Chải tỉnh Hoàng Liên Sơn”. Tuy nhiên,
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu tổ chức xã hội truyền thống của
người Hmông Hoa. Nguyễn Thị Oanh với đề tài khoa học “Truyền thống và biến
đổi trong quan hệ dòng họ, hôn nhân của người Hmông Hoa ở Tây Bắc hiện nay”
(Nghiên cứu bản Tua Hạt, xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La) đã bàn đến

Nhìn chung, qua tổng quan các tài liệu đã công bố cho thấy dù đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu về người Hmông, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu
chuyên sâu về các giá trị văn hóa trong hôn nhân của người Hmông Hoa. Và cũng
có thể nói rằng, ở Việt Nam cho đến nay chưa có được những công trình nghiên cứu
chuyên sâu sự giống và khác nhau giữa các nhóm địa phương của người Hmông về
quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và nghi lễ trong hôn nhân... Trên cơ sở đó, tìm ra
những đặc điểm riêng và các xu hướng biến đổi của từng nhóm nhằm đưa ra những
định hướng bảo tồn và phát triển đúng hướng các giá trị văn hóa truyền thống của
tộc người theo tinh thần Nghị quyết Trung ương năm (khóa VIII).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm 3 mục đích và nhiệm vụ chính sau đây:
Một là, phác họa bức tranh tương đối toàn diện và đầy đủ về hôn nhân của
người Hmông Hoa ở xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái nói riêng
và người người Hmông Hoa ở Tây Bắc Việt Nam nói chung.
Hai là, phân tích những biến đổi trong quan hệ hôn nhân của người Hmông
Hoa ở xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Ba là, góp phần vào việc xây dựng cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý có
chủ trương, chính sách cụ thể trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để nhận diện và
giữ gìn những giá trị văn hoá tộc người.

7


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là người Hmông Hoa ở xã Púng
Luông, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Trong đó, các đối tượng cụ thể được
quan tâm hơn cả là những người có hiểu biết về phong tục tập quán trong hôn nhân,
những người làm thầy cúng, các ông mối, những người đã là cô dâu chú rể, bố mẹ

những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa
vụ đi kèm [24, tr.342]. Theo tác giả, hôn nhân cũng tạo nên tính hợp pháp của con
cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng
bên chồng [24, tr.343]. Do vậy, có thể nói hôn nhân là hiện tượng xã hội, là một
trong những đặc trưng cơ bản của văn hóa tộc người. Ở mỗi giai đoạn phát triển của
lịch sử hôn nhân đều trải qua những hình thức và tính chất khác nhau.
Nội hàm của hôn nhân còn bao gồm các quan niệm và nguyên tắc hôn nhân,
hình thức hôn nhân, nguyên tắc và hình thức cư trú sau hôn nhân. Vì vậy, trong
nghiên cứu này chúng tôi sẽ tìm hiểu nhiều khái niệm khác có liên quan đến hôn
nhân để thấy được bản sắc văn hóa tộc người của người Hmông Hoa nói riêng và
người Hmông nói chung.
- Ngoại hôn dòng họ: Đó là quy tắc kết hôn ngoài dòng họ được luật tục hay
tập quán quy định.
- Nội tộc hôn tộc người: Đó là quy tắc chỉ kết hôn với người đồng tộc trong
nhóm xã hội của mình.
- Nghi lễ hôn nhân: Nghi lễ hôn nhân được hiểu là các nghi lễ diễn ra theo
tập quán hoặc theo quy định của cộng đồng trong mỗi cuộc hôn nhân. Nghi lễ hôn
nhân là một thủ tục để khẳng định cuộc hôn nhân đó là hợp pháp, được cộng đồng
và luật pháp công nhận, nó làm thay đổi địa vị xã hội của con người. Để tiến đến
hôn nhân cũng như khi đã đạt được cuộc hôn nhân thì mỗi tộc người, nhóm địa
phương tộc người đều trải qua những nghi lễ nhất định theo quy định mang tính tập
quán của một tộc người hay nhóm tộc người đó. Nghi lễ hôn nhân nhằm mục đích
đảm bảo cho sự chứng kiến và sự công nhận từ phía cộng đồng, ngoài ra nó còn
thực hiện một vài yếu tố tâm linh gắn với cuộc hôn nhân. Qua nghi lễ hôn nhân ta
thấy được bản sắc văn hóa tộc người và giá trị nhân văn của nó.

9


- Truyền thống: Thói quen được hình thành đã lâu trong lối sống và nếp nghĩ,



nhập đang diễn ra mạnh mẽ thì sự giao lưu, biến đổi của các tộc người, các nền văn
hóa là không tránh khỏi. Do đó, về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu văn hóa
tộc người, trong đó có các quan niệm, nguyên tắc, đặc điểm và các nghi lễ trong hôn
nhân thì chúng ta không thể chỉ xem xét đối tượng một cách biệt lập hay trong trạng
thái tĩnh (tức là nguyên vẹn truyền thống) mà phải đặt chúng trong trạng thái động
(tức là trong quá trình biến đổi).
- Lý thuyết bản sắc văn hóa tộc người: Bản sắc văn hóa tộc người là tổng thể
những yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần mang đặc tính đặc trưng và đặc thù của
tộc người, giúp phân biệt tộc người này với tộc người khác, giữa các nhóm khác.
Bản sắc văn hóa tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử gắn liền với hoàn
cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lý tự nhiên trong đời sống của từng tộc người
và chúng có sức sống lâu bền, thậm chí ngay cả khi đời sống của tộc người có
những thay đổi mạnh mẽ. Bản sắc văn hóa của tộc người còn thể hiện bản lĩnh của
tộc người, yếu tố tộc người. Trong quá trình phát triển, không ít hiện tượng văn hóa
lúc đầu chỉ là yếu tố vay mượn, nhưng dần dần qua thời gian, chúng được “dân tộc
hóa”, được sử dụng và tái tạo theo cách riêng của tộc người vay mượn, ít nhiều
mang bản sắc văn hóa của tộc người. Vì vậy, áp dụng lý thuyết bản sắc văn hóa tộc
người đã giúp chúng tôi nhìn nhận những sắc thái riêng trong hôn nhân của người
Hmông Hoa ở xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tổng quan tài liệu: Với phương pháp này tôi đã đọc và tổng
hợp nhiều công trình nghiên cứu về người Hmông, tác phẩm của nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước được in thành sách, tác phẩm viết tay, các bài báo đăng
trên tạp chí chuyên ngành, luận án, luận văn, báo cáo tập sự, báo cáo khoa học tại
các hội nghị, hội thảo, các bài viết đăng trên mạng mà trong đó nội dung đề cập đến
văn hóa, lịch sử nguồn gốc, đám cưới, hôn nhân… của người Hmông. Ngoài ra, các
tài liệu thứ cấp như báo cáo, số liệu về dân số, dân tộc, niên giám thống kê liên

bàn nghiên cứu.
Chương 2: Hôn nhân của người Hmông Hoa
Chương 3: Biến đổi trong hôn nhân của người Hmông Hoa

12


Chương 1
KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.1. Khái quát xã Púng Luông
Púng Luông là một trong 13 xã vùng cao của huyện Mù Cang Chải, nằm ở vị
trí có tọa độ 21o 44’38’’vĩ độ Bắc và 104o 11’35’’ kinh độ Đông. Xã Púng Luông
nằm ở phía Bắc của Huyện Mù Cang Chải nơi có đỉnh Púng Luông cao 2985m,
phía bắc giáp với xã La Pán Tẩn, phía Nam giáp xã Nậm Khắt, phía Đông giáp xã
Cao Phạ, phía Tây giáp xã Dế Xu Phình và Chế Tạo.
Tổng diện tích tự nhiên của xã Púng Luông là 5357,43ha, trong đó đất nông
nghiệp 802,64ha, đất lâm nghiệp 4408,67ha, đất phi nông nghiệp 97,73ha, còn lại
52,36ha là đất khác. Trong xã có 726 hộ với 3.724 nhân khẩu, trong đó người
Hmông chiếm 89%, người Kinh là 10,5%, còn lại 1% là người Tày, Cao Lan và
người Mường.
Xã Púng Luông gồm 10 bản: Ngã Ba Kim, Nả Háng A, Nả Háng B, Mý
Háng Tủa Chử, Púng Luông, Đề Chờ Chua A, Đề Chờ Chua B, Nả Háng Tâu, Mý
Háng Tâu, Háng Kơ Pua. Tên mỗi bản đều có một nghĩa riêng, như bản Ngã Ba
Kim người Hmông gọi là Đề Chủa nghĩa là nơi hai con suối gặp nhau. Bản Nả
Háng A, Nả Háng B trước là một bản, có tên gốc là Nả Háng Tủa Chử có nghĩa đây
là khu đất rộng có nhiều cây tre to. Bản Mý Háng Tủa Chử cũng có nghĩa là nơi có
cây tre to, nhưng vì bản có diện tích đất nhỏ hơn nên gọi là “mý”. Bản Nả Háng
Tâu, Mý Háng Tâu có nghĩa là nơi có quả bí to. Bản Púng Luông có nghĩa là lên
dốc, cái tên này do người Thái đặt (Theo lời kể của ông Giàng Xấy Sinh, 80 tuổi, xã

thuộc xã Púng Luông, chảy dọc quốc lộ 32 qua địa phận các xã La Pán Tẩn, Dế Xu
Phình, Chế Cu Nha, Mồ Dề, Kim Nọi, Lao Chải, Khao Mang, Hổ Bốn rồi đổ về
dòng Nậm Mu ở Than Uyên. Nậm Kim là con suối có nguồn nước lớn, dồi dào, đây
là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hệ thống mương máng thủy lợi dẫn nước
tưới ruộng và xây dựng các trạm thủy điện nhỏ trong xã và huyện.
Về mạng lưới giao thông, trước đây việc đi lại trong xã chủ yếu dựa vào hệ
thống đường mòn dân sinh, sau này có quốc lộ 32 chạy qua địa phận xã Púng
Luông và năm 1971 huyện Mù Cang Chải mở đường Ngã Ba Kim đi Nậm Khắt đi

14


qua địa phận xã Púng Luông. Năm 2013 tuyến đường Ngã Ba Kim đi Nậm Khắt đã
được bê tông hóa tạo điều kiện thuận lợi cho cư dân không chỉ ở Púng Luông mà
còn dân cư của nhiều xã khác được giao thương, đi lại ngày càng thuận tiện.
Trong xã có 3 trường học với 45 lớp học, toàn xã có 1.091 học sinh theo học
năm 2013 – 2014 và 1.087 học sinh theo học năm 2014 -2015, tỷ lệ huy động đến lớp
đạt 95 - 98%. Trong vài năm gần đây xã liên tục duy trì phổ cập giáo dục mầm non
cho trẻ 5 tuổi, khuyến khích các lớp ở bậc tiểu học đi học đúng độ tuổi, phổ cập
Trung học cơ sở. Hàng năm xã đều tổ chức lớp xóa mù chữ cho người dân, năm 2014
xã Púng Luông đã thực hiện được 02 lớp xóa mù chữ cho 49 học viên người Hmông.
Cùng với sự chuyển đổi phương thức quản lý của Nhà nước từ cơ chế bao
cấp sang nền kinh tế thị trường, huyện Mù Cang Chải đã thành lập Trung tâm
thương mại Ngã Ba Kim ở Púng Luông với hệ thống chợ, cửa hàng bách hóa tổng
hợp...thuộc nhiều thành phần kinh tế đã đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán của nhân
dân trong xã Púng Luông, dần dần phá bỏ tình trạng tự cung, tự cấp còn khá phổ
biến của cư dân. Người dân ở đây thường đi chợ Ngã Ba Kim và chợ Nậm Khắt. Từ
Púng Luông đi Nậm Khắt khá gần, khoảng 3km, phụ nữ Hmông trong xã thường đi
bộ đến chợ Nậm Khắt để mua bán vải, váy và các loại chỉ thêu.
1.2. Người Hmông Hoa ở xã Púng Luông

được khoảng 6 đến 7 đời. Các cụ già trong xã Púng Luông kể: khi còn nhỏ không
thấy tổ tiên truyền lại lịch sử hình thành của vùng đất như thế nào, nên bây giờ
không ai nhớ và biết dòng họ nào đến vùng này đầu tiên, chỉ biết khi tổ tiên ông bà
đến đây vùng đất này đã được người Thái đặt tên. Tổ tiên của các dòng họ ở Púng
Luông đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ đi từ Trung Quốc đến Lào Cai (Việt
Nam), rồi từ Lào Cai đi lên Lai Châu, từ đây người Hmông lại chia thành nhiều
hướng đi khác nhau, người đi về Mù Cang Chải rồi đến xã Púng Luông… người đi
Điện Biên, người đi sang Lào…
Về nguồn gốc người Hmông hiện còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong cuốn
“Lịch sử người Mèo”, học giả Savina đưa ra quan điểm người Hmông xưa kia sinh
sống ở vùng Lưỡng Hà sau đó di cư về phương Bắc - nơi quanh năm tuyết phủ, có 6
tháng ngày và 6 tháng đêm, do những biến đổi về khí hậu họ lại di cư đến vùng

16


Đông Á và người Hmông đã lập nghiệp ở đây trên vùng sông Hoàng Hà hơn 25 thế
kỷ trước Công nguyên.
Có quan điểm lại cho rằng người Hmông là một trong những tộc người nằm
trong khối Bách Việt, có chung nguồn gốc với người Dao thuộc ngữ hệ Nam Á
nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao. Tổ tiên họ sớm biết nghề trồng lúa nước ở vùng giữa
hồ Bành Lãi và Động Đình thuộc Nam Trung Quốc. Đến thế kỷ VIII sau Công
nguyên hai tộc người Hmông, Dao mới tách ra. Từ thế kỷ IX - XVI, người Hmông
di cư về phía Tây - Nam tập trung ở Quý Châu sau đó mới di cư vào Việt Nam [75].
Hầu hết các chuyên gia nghiên cứu về người Hmông trên thế giới đều cho
rằng cách đây trên 3000 năm người Hmông đã từng sinh sống ở lưu vực sông
Hoàng Hà và là một trong những chủ nhân của Nhà nước Tam Miêu. Họ có nền văn
hóa phát triển khá rực rỡ với nền văn minh lúa nước, có chữ viết và nhà nước riêng
của mình. Tuy nhiên, dưới sự bành trướng của người Hán từ Trung Nguyên xuống
phương Nam đã khiến dân tộc này bị mất đất, mất tổ quốc, đẩy tộc người này phải

1.2.2. Đặc điểm kinh tế
Từ khi đến sinh cơ lập nghiệp ở Púng Luông đồng bào Hmông Hoa đã trải
qua một quá trình lao động lâu dài, bền bỉ để không ngừng biến rừng núi hoang vu
cùng tài nguyên thiên nhiên thành những ruộng bậc thang, những của cải vật chất
cần thiết để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống.
Người Hmông trước đây, coi nương rẫy là phương thức sản xuất và là nguồn
sống chính của mình trong đó nương du canh là chủ yếu. Theo Bế Viết Đẳng thì
người Hmông Hoa đã chấm dứt cuộc sống du canh du cư từ những năm 1990 [23,
tr.86], từ phương thức canh tác nương rẫy họ chuyển sang phương thức canh tác lúa
nước. Đây là kết quả sau một thời gian dài Đảng và Nhà nước thực hiện chính sách
định canh, định cư, vận động đồng bào chuyển từ phương thức canh tác truyền
thống sang canh tác lúa nước.
Người Hmông ở Púng Luông canh tác lúa nước trên các thửa ruộng bậc
thang, đặc biệt có những thửa ruộng chỉ đủ 1 đến 2 đường bừa. Công cụ làm lúa
nước của họ chủ yếu là cuốc, cày, bừa, và cào cỏ. Riêng chiếc cày của người
Hmông được rèn rất kỹ, nên có thẻ cày được đất khô với sâu từ 15 - 20cm và có khả
năng cắt được mọi rễ cây. Quy trình canh tác ruộng nước của đồng bào khá đơn
giản. Ruộng thường chỉ cày một lần phơi cho ải đất, rồi tháo nước vào ruộng ngâm

18


từ 10 - 15 ngày rồi bừa cho đất ải, nhỏ ra, hoặc dùng trâu bò giẫm kỹ và nhặt sạch
cỏ. Quy trình làm xong ruộng cấy mới làm ruộng mạ. Đồng bào thường chọn một
mảnh nương tốt để gieo mạ, mạ được gieo dầy sau đó tỉa dần.
Hiện nay, người Hmông Hoa ở Púng Luông đã trồng hai vụ lúa trong một
năm: vụ Đông xuân và vụ mùa. Với vụ Đông xuân người Hmông làm đất, gieo mạ
vào tháng 12 dương lịch, đầu tháng 1năm sau bắt đầu cấy và thu hoạch vào tháng 7
dương lịch. Lúa mùa đồng bào gieo mạ vào tháng 4 và thu hoạch vào cuối tháng 8
đầu tháng 9 dương lịch. Vụ ngô xuân - hè bà con làm đất gieo ngô từ cuối tháng 3

gia súc trong toàn xã có 1.091 con, trong đó đàn trâu 672 con, đàn bò 279 con đàn
dê 140 con, riêng đàn lợn đạt 2.759 con. Cũng theo báo cáo số gia cầm chủ yếu là
gà, vịt, ngan, ngỗng trong 9 tháng có 8041con, ngoài ra đồng bào còn nuôi ong lấy
mật tổng số có 552 tổ.
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp, người Hmông Hoa ở Púng Luông có nghề
rèn, đúc, dệt may, đan lát mây tre, làm đồ gỗ… Nghề rèn, đúc của người Hmông từ
xưa đến nay nổi tiếng là bền với các sản phẩm như cày, cuốc, dao…. riêng 9 tháng
đầu năm 2014 sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã đạt 2 tỷ đồng [19].
Về dịch vụ thương mại, xã Púng Luông có chợ trung tâm Ngã Ba Kim nên
dịch vụ thương mại của xã phát triển và cao hơn so với các xã lân cận. Dưới sự chỉ
đạo của xã các hoạt động thương mại được tiến hành đều đặn, thuận lợi, mức luân
chuyển hàng hóa 9 tháng đầu năm của xã đạt 3,5 tỷ đồng. Riêng hoạt động thu mua
chè búp tươi đạt 24 tấn, hoạt động khai thác nhựa thông đạt 4 tấn.
Kinh tế tự nhiên như săn bắt, đánh cá, hái lượm cũng có vị trí khá quan trọng
trong đời sống của người Hmông Hoa. Họ thường thu hái củ gấu, đẳng sâm, hà thủ
ô, hoàng liên, cánh kiến… những thứ có giá trị hàng hóa cao để trao đổi và tìm
kiếm các loại cây, củ, quả, rau trên rừng để làm phong phú thức ăn trong gia đình.
Đồng bào còn săn bắn các loại muông thú như: lợn rừng, gấu, cầy, chồn, khỉ, sóc,
chim… để tăng nguồn thực phẩm cho gia đình và cũng là một loại hàng hóa để bán
cho giá trị cao.
Nhìn chung, kinh tế của người Hmông Hoa ở Púng Luông chủ yếu vẫn là
nông nghiệp và chăn nuôi. Hoạt động thương mại, dịch vụ buôn bán khá phát triển
nhưng lại nằm trong tay người Kinh và họ đều là người từ nơi khác đến sinh sống,
làm ăn dần dần họ trở thành cư dân trong xã.

20


1.2.3 Các dạng thức văn hóa cơ bản
Ăn, uống: Nguồn lương thực chủ yếu của người Hmông Hoa ở Púng Luông

đồng bào chuyển sang dùng thuốc lào và thuốc lá, những loại thuốc hút này họ vừa
tự trồng trong vườn nhà, vừa mua ở ngoài chợ đem về hút.
Ở: Người Hmông cư trú thành các làng, bản. Bản được cấu trúc theo lối mật
tập, nhà cửa bố trí rải rác ở ven sườn đồi. Nhà ở của người Hmông Hoa ở Púng
Luông là nhà trệt, toàn bộ ngôi nhà được làm bằng gỗ Pơ mu, đây là một loại gỗ
thuộc họ Sa mộc có mùi rất thơm. Nhà người Hmông không làm theo một hướng cụ
thể, mà làm nhà quay lưng về núi, mặt trước nhìn ra ruộng hoặc nguồn nước. Nhà
của người Hmông có đặc trưng là thấp, tối và kín, trong nhà không có cửa sổ, nếu
muốn lấy ánh sáng người ta lấy một cái gậy rồi gạt tấm mái sang một bên để lấy ánh
sáng. Hiện nay, mái nhà lợp bằng ván gỗ Pơ mu được thay thế bằng tấm lợp prôximăng do được Nhà nước cung cấp theo chương trình 135 và một phần cũng do
người dân tự thay đổi. Ngôi nhà của người Hmông Hoa có kết cấu ba gian, hai chái,
cửa chính đặt ở gian giữa, cửa phụ đặt ở gian có bếp lò, tuy nhiên cũng có nhà đặt
cửa phụ ở phía bếp sưởi. Gian giữa của ngôi nhà là nơi đặt bàn thờ “sử cang”, bàn
thờ rất đơn giản chỉ là một tấm giấy bản được dán lên vách, đây được coi là một vị
trí linh thiêng trong gia đình nên kiêng phụ nữ và khách lạ lại gần vị trí này. Buồng
của chủ nhà và buồng của vợ chồng con trai được bố trí ở gian đặt bếp lò, đặt theo
thứ tự, buồng bố mẹ đầu tiên sau đó đến buồng của của các con trai đã lập gia đình.
Gian bên bếp sưởi đặt một chiếc giường khách, khi không có khách con trai chưa
vợ trong nhà sẽ ngủ ở đây, con gái đến tuổi trưởng thành sẽ được bố mẹ làm cho
một cái buồng nhỏ đặt tại gian này.
Trong sinh hoạt hàng ngày của người Hmông Hoa ở Púng Luông, nếu không
cần ra ngoài họ rất ít khi mở cửa chính cũng như cửa phụ, lý do thứ nhất là để giữ
ấm, thứ hai họ kiêng lợn, bò, trâu vào nhà, vì đối với họ khi lợn, trâu, bò, vào nhà là
có lễ cúng.
Mặc: Nam giới người Hmông Hoa theo truyền thống trước kia, trong đời
sống hàng ngày đều mặc trang phục truyền thống của mình. Trang phục của nam
giới gồm: quần, áo ngắn, thắt lưng, khăn bịt đầu, tất cả đều được dệt bằng sợi lanh.
Quần của nam giới may kiểu quần chân què, cạp rộng lá tọa, đũng quần thấp, khi

22


23


Tín ngưỡng: Tín ngưỡng truyền thống của người Hmông là thờ đa thần với
hệ thống “thần, ma” nhiều chủng loại, thành phần trong đó thờ cúng tổ tiên là một
trong những tín ngưỡng qua trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống
tâm linh của người Hmông Hoa. Trong ngôi nhà người Hmông Hoa bàn thờ tổ tiên
“sử cang” đồng thời là bàn thờ ma nhà được đặt ở bức vách hậu ở gian giữa của
ngôi nhà. Bàn thờ chỉ là một tấm giấy bản màu trắng hình chữ nhật được cắt và đục
lỗ hình bán nguyệt, hình tròn, hình cái muôi tượng trưng cho sự sung tú, no đủ.
Người Hmông cúng ma nhà vào dịp Tết (Theo lịch của người Hmông mỗi tháng có
30 ngày, hết 12 tháng là đến Tết, Tết của họ thường rơi vào khoảng đầu tháng 12
âm lịch). Tùy theo mỗi dòng họ mà ngày cúng ma nhà khác nhau, thường họ cúng
từ khoảng 28 tháng 12 âm lịch trở đi. Khi cúng họ họ sẽ bắt một con gà trống và cắt
tiết trước bàn thờ, sau đó họ lấy lông cổ gà và máu gà dính lên tấm giấy bản. Tùy
theo mỗi dòng họ mà vị trí bôi tiết gà và số lông cổ gà là khác nhau ví dụ: bàn thờ
họ Thào ở xã Púng Luông có 4 vị trí được bôi tiết gà và mỗi vị trí có dính 05 lông
cổ gà [xem Ảnh.7], họ Lù thì không thấy mảnh giấy dán trên vách ở gian giữa,
nhưng họ vẫn cúng ma nhà tại vị trí đó.
Ngoài dịp Tết người Hmông còn cúng ma nhà vào các ngày rằm tháng bảy,
tết cơm mới, những khi làm ma khô cho người chết hoặc trong nhà có người ốm
đau, bệnh tật… Trong nhiều lễ cúng còn kiêng người lạ vào trong nhà.
Ma cột chính (cù dề đăng): Trong mỗi ngôi nhà Hmông Hoa đều có một cây
cột ma hay gọi là cột chính. Cây cột chính nằm ở giữa vì kèo chính và cột nằm ở
gần buồng chủ nhà và ở phía bếp lò của ngôi nhà. Đây là cây cột thiêng, người ta
kiêng không được ngồi dựa lưng vào cột, không được treo bất cứ thứ gì xung quanh
cột ma. Người Hmông khi sinh con, nếu sinh con trai thì nhau thai sẽ được trôn ở
dưới cột ma nhà, vì con trai là chủ gia đình. Họ cho rằng cột ma làm nhiệm vụ bảo
vệ cho cửa nhà bền vững, chống chọi được mọi gió mưa và bảo vệ được hồn của

kị và nghi lễ. Giống như các ma khác, ma bếp cũng được cúng vào ngày Tết, lễ vật
là một con gà, chủ nhà đặt con gà luộc trên mâm và đọc bài cúng. Sau khi làm lễ
xong người Hmông kiêng trong 3 ngày không nhóm bếp, không thổi lửa, nếu nhóm
bếp, thổi lửa mùa màng năm đó sẽ bị gió cuốn đi. Khi nấu ăn không được đánh đổ
nước, nhất là nước cơm xuống bếp để tránh mưa to phá hoại mùa màng, không
được giẫm chân lên bếp, cáu kỉnh khi nhóm bếp, nếu không ma bếp sẽ giận mà bỏ

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status