LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Phạm Văn Dương,
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi để hoàn thành luận văn của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Văn hóa
học Học viện khoa học xã hội đã trang bị cho tôi những kiến thức chuyên ngành
thiết thực trong suốt quá trình học tập tại học viện.
Mặc dù đã có sự cố gắng trong quá trình học tập và nghiên cứu, nhưng do
kiến thức của tác giả trong việc nghiên cứu còn hạn chế, chắc chắn bản luận văn
này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Hội đồng khoa học và thầy cô
giáo giúp đỡ tôi để mở rộng, tích lũy thêm kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc nghiên cứu và phục vụ giảng dạy sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Nguyễn Thị Kim Hoa
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các sự kiện, tư
liệu sử dụng trong luận văn này là trung thực, nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Kim Hoa
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
thống của mình và chính điều đó góp phần làm nên bản sắc văn hóa của người Dao
trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: Nghi lễ hôn nhân người Dao
Đỏ ở xã Bản Phùng, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm nội dung nghiên cứu cho
luận văn của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu về người Dao và văn hóa người
Dao, sơ lược điểm qua như sau:
- Các công trình viết về các tộc người thiểu số có đề cập đến người Dao:
Tác giả Hoàng Nam (1998) trong sách Bước đầu tìm hiểu văn hóa tộc người
văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc đã đề cập đến điều kiện tự nhiên, môi
trường văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, trong đó có người Dao.
Tác giả Nguyễn Đăng Duy (2004) với sách Nhận diện văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc đã đề cập đến văn hóa các dân tộc thiểu số
Việt Nam trong đó có người Dao, cung cấp cho người đọc có những thông tin
chung về văn hóa tộc người Dao.
- Các công trình viết riêng về người Dao và văn hóa người Dao:
Cuốn Người Dao ở Việt Nam (1971) của tập thể tác giả Bế Viết Đẳng,
Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến, Nxb Khoa học Xã hội là
công trình đã đề cập khá toàn diện về đời sống của người Dao trên lãnh thổ Việt
Nam như dân số, địa vực, tên gọi các nhóm Dao, các hình thái kinh tế, sinh hoạt văn
hóa vật chất, văn hóa tinh thần, sinh hoạt xã hội và những đổi mới trong đời sống
của người Dao từ cách mạng tháng Tám (1945) đến năm 1971.
Cuốn Sách cổ người Dao - tập 3 “Những bài ca giáo lý” Nxb Văn hóa dân
tộc do Trần Hữu Sơn chủ biên (2009) là một trong các bộ sách ghi chép lại những
lời hay, ý đẹp mang tính chất răn dạy giáo lý của người Dao. Trong đó có lời răn
cưới xin của người Dao Đỏ ở tỉnh Lào Cai nói chung, ở người Dao Đỏ xã Bản
Phùng, huyện Sa Pa, Lào Cai nói riêng. Đề tài “Nghi lễ hôn nhân của người Dao
Đỏ ở xã Bản Phùng, huyện Sa Pa, Lào Cai ” được thực hiện trên tinh thần khảo
sát trung thực, đầy đủ, trình tự đám cưới của người Dao đỏ ở một địa bàn cụ thể, hy
vọng sẽ bổ sung thêm cho những thành quả của các tác giả đi trước.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Khảo sát thực tế nghi lễ hôn nhân người Dao đỏ ở xã Bản Phùng, Sa Pa, Lào
Cai. Từ đó cung cấp tư liệu cụ thể và trung thực về đám cưới người Dao ở xã Bản
Phùng huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai phục vụ cho nghiên cứu và thực tiễn bảo tồn và
phát huy văn hóa tộc người nói chung và người Dao nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghi lễ hôn nhân người Dao Đỏ ở xã Bản Phùng, Sa Pa, Lào Cai bao gồm
nội dung trình tự trước và sau lễ cưới.
3
4.2. Phạm vi nghiên cư
Đề tài tập trung nghiên cứu tìm hiểu các nghi lễ trong hôn nhân của người
Dao Đỏ ở xã Bản Phùng, Sa Pa Lào Cai. Ngoài ra sẽ tiến hành so sánh với lễ cưới
của các tộc người khác, so sánh lễ cưới cùng các nhóm Dao khác trong địa bàn sinh
sống thuộc tỉnh Lào Cai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu liên ngành: Văn hóa dân gian,
nhân học văn hóa... để thực hiện mục tiêu đặt ra của đề tài. Luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chính như sau:
Tổng hợp và phân tích các nguồn tài liệu đã công bố: tập hợp, phân tích và
kế thừa các công trình nghiên cứu về người Dao và lễ cưới người Dao ở Việt Nam
nói chung, người Dao Đỏ nói riêng và các tư liệu lịch sử, văn hóa, xã hội tại địa
5
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO VÀ NGƯỜI DAO ĐỎ Ở XÃ BẢN PHÙNG
HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
1.1. Khái quát về người Dao và người Dao ở Lào Cai
1.1.1. Người Dao ở Việt Nam
Về tên gọi, người Dao có các tên gọi khác là Mán, Ðông, Trại, Dìu Miền,
Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Ðại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn
Ðầu... Tên thường tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn. Tộc người này có các nhóm địa
phương khác nhau như Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao Sừng, Dao Dụ Lạy, Dao Ðại
Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn),
Dao Lô Gang (Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo Tiền, Dao
Tiểu Bản), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển,
Dao Áo Dài).
Về ngôn ngữ, hiện người Dao ở nước ta được xếp vào nhóm ngôn ngữ
Hmông - Dao thuộc ngữ hệ Nam Á với hai phương ngữ:
Phương ngữ thứ nhất gồm hai ngành lớn là Đại Bản và Tiểu Bản: Ngành Đại Bản
có các nhóm Dao Đỏ (Hùng Thầu Đào, Dao Coóc Ngáng, Dao Quý Lâm), Dao Quần
Chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng), Dao Thanh Phán (Dao Coóc
Mùn, Dao Đội Ván, Dao Lô Giang); Ngành Tiểu Bản có Dao Tiền (Dao Đeo Tiền).
Phương ngữ thứ hai gồm có hai ngành: Dao Quần Trắng (Dao Họ, Mán Đen)
và Dao Làn Tiẻn. Trong đó Dao Làn Tiẻn có hai nhóm nhỏ là Dao Thanh Y và Dao
Tuyển (Dao Áo Dài, Dao Chàm, Dao Bằng Đầu, Dao Slán Chỉ). [12, tr.26]
Về nguồn gốc và lịch sử di cư sang Việt Nam, cho đến nay trong dân gian
người Dao nói chung vẫn còn lưu truyền rộng rãi câu chuyện Bàn Hồ là huyền thoại
giải thích về nguồn gốc của người Dao1.
Hiện nay tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Dao,
lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ
chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và ở vùng cao còn nuôi ngựa,
dê... Hầu hết các xóm bản người Dao đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi
còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là
nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay,
vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép
sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma.
Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật...
Về văn hóa truyền thống: Người Dao được biết đến với đặc điểm là một tộc
người cư trú ở vùng rẻo cao, văn hóa truyền thống một mặt còn bảo lưu những yếu
tố nguyên thủy bản địa, chẳng hạn như tục thờ thủy tổ Bàn Vương, thờ hồn lúa, một
mặt lại có sự giao lưu tiếp biến với văn hóa Hán, sử dụng văn tự chữ Hán, đặc biệt
là tiếp thu Đạo giáo vào trong tôn giáo tín ngưỡng hình thành nên hệ thống nghi lễ
mang nét đặc trưng riêng như lễ cấp sắc, tết nhảy lửa,v.v…Nhìn chung, ngoài
những khác biệt mang tính hình thức chẳng hạn như về trang phục thì về cơ bản văn
hóa truyền thống của các nhóm Dao là có sự tương đồng. Về vấn đề này chúng tôi
7
sẽ đi sâu trình bày trong phần viết về văn hóa truyền thống của người Dao Đỏ ở xã
Bản Phùng, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
1.1.2. Người Dao ở Lào Cai
Ba trong 7 nhóm người Dao là Dao Tuyển, Dao Đỏ và Dao Nga Hoàng đã di
cư đến Lào Cai từ rất sớm. Bảo Thắng, Bảo Yên là một trong hai huyện có người
Dao Tuyển sống tập trung đông nhất của tỉnh Lào Cai.
Theo tác giả Trần Hữu Sơn thì người Dao thiên di đến Lào Cai trong đó có
Bảo Yên qua hai tuyến:
- Tuyến thứ nhất: Vào cuối triều đại nhà Minh (thế kỷ XVII), người Dao Làn
khó khăn. Đây là xã nằm cuối của tuyến đường liên huyện, giáp với huyện Bảo
Thắng nhưng do địa hình hiểm trở nên không có đường giao thông thuận lợi.
Bản Phùng có tổng số 295 hộ dân với 1.957 nhân khẩu, toàn xã đều là người
thiểu số với hai tộc người chính là người Dao Đỏ chiếm trên 80% và người H’Mông
chiếm gần 20%. Toàn xã có 6 thôn gồm: thôn Bản Sái, thôn Bản Toòng, thôn Bản
Phùng Dao, thôn Bản Phùng Mông, Bản Pho, thôn Nậm Si. Trong 6 thôn này chỉ có
thôn Bản Toòng là người Dao ở xen kẽ với người Mông, riêng bản Phùng Mông thì
cả bản đều là người Mông Đen sinh sống, 4 bản còn lại gồm toàn người Dao ở tập
trung với nhau.
Khoảng từ năm 2008, Bản Phùng mới có người Kinh lên sinh sống, chủ yếu
là cán bộ xã lên tăng cường, các cán bộ y tế, văn hóa và đặc biệt là các cô giáo miền
xuôi lên dạy chữ. Ngoài ra còn có người Kinh ở Nam Định, Thái Bình, Phú Thọ lên
buôn bán hàng hóa, thảo quả… Điều đó cũng góp phần làm thay đổi nhận thức cũng
như đời sống kinh tế của người dân ở đây.
Địa hình chủ yếu là núi non hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, quanh năm mây
mù bao phủ. Khí hậu ở xã Bản Phùng mang sắc thái của xứ ôn đới, cận nhiệt đới
giống như một số nước châu Âu, nhiệt độ bình quân 13 độ, mùa hạ mát mẻ, mùa
đông lạnh buốt có năm băng giá, tuyết rơi, có lúc dưới không độ.
Các yếu tố tự nhiên tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội và văn
hóa xã Bản Phùng. Đồng bào ở đây được sống trong cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp
của núi non hùng vĩ, với không gian quanh năm yên lặng, khí hậu trong lành. Cuộc
sống ít bị xáo trộn vốn rất êm đềm của đồng bào vùng cao xa xôi đã tạo nên tính
cách cần cù chất phác, trầm lắng, hết lòng yêu thương nhau của con người nơi đây.
Mặc dù cách thị trấn Sa Pa 32km, một thị trấn du lịch, cùng với sự đổi mới
của đất nước, du nhập nhiều nền văn hóa khác nhau nhưng tộc người Dao Đỏ xã
Bản Phùng vẫn giữ được truyền thống văn hóa của tộc người mình thể hiện qua lối
sống chân chất, hiền lành, kín đáo song rất nhiệt tình mến khách.
* Về sinh kế
9
là bao nhiêu vì nguyên vật liệu đắt, than đá trên rừng cũng hiếm, con cháu lại đi
học hành hết, không có người làm”.
* Về văn hóa xã hội
10
Trước những năm 2008, đời sống kinh tế khó khăn, giao thông đi lại không
thuận tiện, kèm theo đó là cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, y tế ít được trú
trọng đầu tư.
Từ sau năm 2008 trở lại đây, thực hiện phương châm ‘Nhà nước và nhân
dân cùng làm’ và gần đây nhất là ‘Xã hội hóa trong giáo dục’, ‘Vệ sinh môi trường
nông thôn’, ‘Chăm sóc, khám, chữa bệnh’… các cấp Đảng ủy chính quyền xã Bản
Phùng đã huy động mọi nguồn vốn để đầu tư, xây dựng các công trình nhằm phục
vụ đời sống, lao động sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đến nay, về cơ
bản mọi thứ đã được ổn định. Cụ thể như:
Giao thông đi lại thuận tiện từ huyện đến xã, đường sá đã được bê tông hóa,
ô tô vào đến trung tâm xã. Các thôn bản cũng đi lại bằng xe máy dễ dàng hơn trước,
riêng thôn Bản Toòng còn đi lại khó khăn do địa hình hiểm trở.
Điện lưới quốc gia đã về đến 5/6 thôn bản. Trừ thôn Bản Toòng, các hộ dân
trong bản hầu hết đã có điện lưới và điện chạy bằng nước để dùng.
Hệ thống các trường học: Mầm non 6/6 thôn, Tiểu học 6/6 thôn và 1 trường
THCS Bán trú với tỷ lệ trẻ em đến trường cao đạt từ 95 - 98%. Trình độ giáo viên là
người Kinh ngày càng được nâng cao. Cơ sở vật chất được đầu tư, xây dựng phục
vụ cho công tác dạy và học. Trạm y tế xã đã được trú trọng đầu tư cơ sở vật chất
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe cho nhân
dân trong vùng.
Như vậy có thể thấy tuy vị trí địa lý cũng như đời sống kinh tế của người
Dao Đỏ xã Bản Phùng còn nhiều khó khăn, song nhờ sự quan tâm của các cấp lãnh
đạo mà đến nay đã có nhiều thay đổi nhất là về cơ sở hạ tầng và văn hóa xã hội.
Trang phục của nữ giới: Đặc điểm nổi bật của nhóm Dao Đỏ là phụ nữ dùng
nhiều màu đỏ trên trang trí trang phục như: hoa văn, tua len, núm bông...
Chiếc áo được trang trí tạo điểm nhấn rất tinh tế, cách thức thêu ngược mặt
sau và thêu luồn rất phức tạp, nhấn thêu ở hai vạt dài trước ngực khoảng 7cm, chia
làm 4 lớp thêu nối liền nhau: đầu tiên là lặp lại 2 đường diềm trên khăn xuống, tiếp
đó là đường dải dài dọc. Đẹp nhất là dây thêu hình kỷ hà màu đen trắng lạ mắt và
cuối cùng là len bông xanh, đỏ, vàng đan xen nhau rực rỡ.
Riêng chiếc quần cắt theo kiểu chân què, trang trí từ gấu lên đến ngang đùi,
được trang trí 4 lớp: đầu tiên là lặp lại 4 đường trên khăn và nẹp áo, sau đó đến
mảng chia ô, tiếp đến là đường hoa và cuối cùng là hình cây lá.
Không chỉ có vậy, sau khi may xong bộ quần áo, phụ nữ Dao Đỏ còn phải
may riêng dải áo sau lưng, hàng dây áo dải bạc đằng trước và dải quần phía sau,
phía trước mà người dân Bản Phùng hay trêu đùa là “biển số”…Tất cả được thêu
theo cấu trúc trang trí hình chữ nhật có vô số các lớp trong và ngoài cầu kỳ, tỷ mẩn.
12
Khăn của người phụ nữ Dao Đỏ rất cầu kỳ: có 2 lớp, một lớp khăn vuông đỏ,
nẹp diềm màu trắng nhỏ xung quanh, khi đội gấp chéo vào làm lớp lót đầu tiên.
Tiếp đến là 3 lớp khăn vuông to, phía ngoài viền màu trắng nổi bật, phía các góc
hình vuông được trang trí trên 4 đường diềm là hình trái núi (tam giác) cách đều
nhau. Việc trang trí bạc trắng hình đồng xu nối với hạt bạc tròn như trái mây rừng
kêu lúc lắc vui tai, tiếp đến là các hạt cườm các màu được nối dài với túm bông đỏ
liên tiếp cách đều nhau, nối dài 3-4 đoạn. Trong trang phục Dao Đỏ Bản Phùng thì
chiếc khăn của phụ nữ là điểm nhấn nổi bật hơn cả nhưng chính bộ quần áo màu
lam đậm (xanh đen) được làm nền thì trang phục mới có thể rực rỡ đến vậy.
Như vậy, trang phục phụ nữ người Dao Đỏ được cắt, ghép, may thêu rất tỷ
mỉ, các họa tiết trên trang phục được bố trí khéo léo. Bộ trang phục đẹp từ tổng thể
đến chi tiết, có điểm nhấn rõ ràng.Vì vậy, nhìn vào bộ trang phục người ta cũng có
Chiêu Bản Sái cho biết: “Cứ lấy vợ khoảng 10 năm thì sẽ làm nhà, khi có con cái, có
người làm việc nhà, đàn ông lên rừng tìm gỗ, đánh dấu lại và nhờ người giúp vận
chuyển. Nhà có nhiều con trai thì vất vả kiếm gỗ lắm, ngày nào cũng phải lên rừng
kiếm, nhiều lúc kiếm được gỗ nhưng bị lũ quét lại mất hết phải đi kiếm lại từ đầu”.
Nhà ở của người Dao Đỏ xã Bản Phùng chủ yếu là nhà đất bởi lẽ ở nhà đất
mới có chỗ để làm lễ cúng Bàn Vương (ông thủy tổ của người Dao). Nhà có ba cửa:
hai cửa phụ và một cửa chính ra vào quay hướng Đông, nhà thường có 4 gian, 2
chái, nhà nào đông người thì 5-6 gian. Chái nhà thường để rộng, vì nhà có con trai
khi lấy vợ nơi xa, đoàn nhà gái phải ngủ tạm, chọn giờ đẹp mới được vào nhà.
Cách bài trí và những quy định trong ngôi nhà người Dao rất rõ ràng: Gian
giữa là nơi đặt Bàn thờ tổ tiên, vị trí trung tâm của nhà, gần nơi dành cho người chủ
gia đình tiếp khách và làm những việc lớn. Phần nhà phía sau dành cho các phòng
ngủ hoặc đặt giường (nếu không chia phòng). Quy định nơi ngủ của các thành viên:
phòng ngủ gần cửa là cha mẹ, khách ngủ ở gian giữa, cô dâu và chú rể ở gần bếp
chính. Nếu gia đình có hai đôi vợ chồng cùng ở với bố mẹ thì nối thêm gian nhà,
nhưng có quy định vợ chồng mới cưới ngủ phòng gần bếp chính để tiện cho cô dâu
dậy sớm nấu nướng không ảnh hưởng đến giấc ngủ mọi người.
Nhà gỗ được thưng ván và làm tấm gác sàn để chứa lương thực. Nhà có hai
bếp là bếp chính và bếp phụ dành cho khách về mùa giá lạnh. Có hai loại bếp, bếp
kín (bếp lò) và bếp hở (bếp có kiềng hoặc có 3 hòn kê). Điều đặc biệt là nhà rất ít
cửa sổ, chủ yếu là nhà không có cửa sổ.
Chuồng nuôi gia súc, gia cầm được làm ở khu riêng biệt gần nhà, mỗi nhà có
khoảng 4-5 chuồng gồm 6-7 con lợn và khoảng 25-30 con gà.
1.2.2.2. Các yếu tố văn hóa xã hội
* Ứng xử trong gia đình, dòng họ
Gia đình người Dao Đỏ Bản Phùng là gia đình có tính phụ quyền rất cao, mỗi
gia đình gồm cha mẹ, con cái. Con gái lớn đi lấy chồng ở riêng, con trai cả ở lại với
bố mẹ kế thừa tài sản. Tài sản trong gia đình do người cha quản lý toàn bộ, khi
người cha già, chết giao cho con trai. Việc ứng xử trong quan hệ rất đúng mực,
trước sau, các con cháu làm điều sai trái bố mẹ phân tích, nhắc nhở. Người Dao rất
sốc mạnh hoặc khi hoảng sợ linh hồn thường trốn khỏi xác đi xa nên hay bị lạc
đường về, vì thế sinh ra ốm đau, phải làm lễ gọi hồn về nhập vào xác mới khỏe
được. Chính vì lẽ đó mà người Dao Đỏ rất quan tâm đến mộng triệu. Với quan niệm
như vậy nên đồng bào cho rằng cái chết là sự hoàn thành cuộc sống trần tục để về
với tổ tiên ở thế giới khác. Linh hồn vẫn thường xuyên theo dõi việc làm ăn sinh
hoạt, phù hộ cho của con cháu, cho nên con cháu phải thờ phụng. Khi chết người
Dao Đỏ làm 2 lễ: làm ma (chôn thể xác) và làm chay (đưa người chết về quê cha đất
16
tổ), phải làm lễ chôn thể xác trước còn làm chay thì phải chuẩn bị đầy đủ về mặt vật
chất mới tiến hành được.
Từ quan niệm về sự sống sau cái chết mà người Dao cho rằng cái chết chính là
sự chuyển đổi cuộc sống của con người sang một thế giới mới. Việc thờ cúng, lễ tạ tổ
tiên trong nghi lễ cưới của người Dao Đỏ Bản Phùng cũng chính là việc giáo dục con
cháu sống có cội nguồn, vừa đem niềm tin về sự bình an cho người đang sống.
- Các dạng thầy cúng
Thầy cúng là người nắm giữ sách cổ, am hiểu tri thức cổ truyền nên được coi
là nhân vật quan trọng nhất trong đời sống của cộng đồng người Dao nói chung,
người Dao đỏ nói riêng. Họ là người trung gian có thể thông linh (thỉnh cầu với thần
linh), tham gia thực hành các nghi lễ (các loại lễ lớn nhỏ: cấp sắc, lễ cưới, làm chay,
cúng mụ, cúng nhà mới…)
Người Dao Đỏ chia ra các dạng thầy cúng: thầy 7 đèn, 12 đèn để chỉ cấp bậc
và độ cao tay của thầy cúng. Trong nghi lễ hôn nhân của người Dao Đỏ ở Bản Phùng
thầy cúng tham gia và hướng dẫn cô dâu chú rể thực hành suốt 11 nghi lễ chính.
Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng của người Dao đa dạng, phức tạp, gồm:
Các hình thức tôn giáo nguyên thủy như Saman giáo, tín ngưỡng nông nghiệp, thờ
cúng tổ tiên, tín ngưỡng cá nhân liên quan tới hệ thống nghi lễ vòng đời
người,v.v…
cả những vị khác. Bởi vậy, lễ vật cúng phải có nhiều. Ngày nay số lễ vật đã được
giảm bớt và đơn giản hóa, người dân hầu hết đã bỏ không cúng ở ngoài nương nữa
mà cúng ngay tại nhà.
Ngoài ra, người Dao ở Bản Phùng còn thường làm lễ cúng thóc giống lễ vật
là một con gà, chai rượu. Trong khi làm lễ, nhất thiết không cho ai vào nhà. Khi
cúng xong trong vòng một ngày, gia đình không được đi đến nhà người khác vì sợ
hồn lúa đi theo rồi ở lại nhà ấy.
- Thờ cúng tổ tiên là hình thức tôn giáo tín ngưỡng quan trọng của người Dao
Đỏ. Bàn thờ tổ tiên là nơi tôn nghiêm nhất. Tổ tiên là những người đã khuất trong
sáu đời. Người Dao Đỏ chỉ cúng tổ tiên vào các ngày năm mới, cúng cơm mới và
tết mùng 6 tháng sáu. Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ rất được coi trọng trong việc hôn
nhân khi cô dâu bước vào nhà chồng. Cũng như các nhóm Dao khác, người Dao ở
Bản Phùng vẫn giữ tục Bàn Vương, thuộc tục cúng tổ tiên, chỉ khác Bàn Vương
không phải là tổ tiên gốc của một vài gia đình hay một vài dòng họ mà được quan
niệm là thủy tổ của người Dao.
- Thờ cúng Thành hoàng làng: Đây là vị thần có vị trí quan trọng trong đời
sống tâm linh của người Dao Đỏ. Thành hoàng là vị thần có công lập ra làng, được
coi như ông tổ của làng, được thờ tại miếu làng. Hàng năm vào ngày 1 tháng giêng
tất cả dân làng đều đến thắp hương và đặt lễ các loại bánh trái tại miếu thờ của làng
18
để cầu xin phúc, lộc cho bản thân và gia đình. Người cầu nguyện không được nói
thành lời mà chỉ để trong tâm niệm. Cho đến nay người Dao Đỏ ở thôn Bản Sái, xã
Bản Phùng vẫn giữ những nếp cúng trên nhưng lễ vật có biến đổi đôi chút, giản tiện
hơn chỉ là con gà, chén rượu.
- Tín ngưỡng cá nhân: Ở người Dao nói chung và người Dao Đỏ nói riêng,
tín ngưỡng cá nhân được thể hiện qua phong tục tập quán và hệ thống nghi lễ vòng
đời người.
cả những người đàn ông đều phải trải qua lễ này vì họ quan niệm: Có cấp sắc mới
được thần thánh công nhận và được cấp âm binh và hồn người được cấp sắc mới về
được với tổ tiên ở Dương Châu sau khi chết; Có cấp sắc thì mới được làm thầy cúng
(người biết nhiều phong tục cổ của tổ tiên, người có uy tín trong dòng tộc); có cấp
sắc mới được nhập tên âm, mới có quyền thờ tổ tiên, mới được công nhận là người
lớn nếu không, vẫn bị coi là trẻ nhỏ, sau khi chết rồi hồn được đưa về với tổ tiên ở
Dương Châu …Chính vì quan niệm như vậy, nên dù tốn kém bao nhiêu, gia đình
nào có con trai đến tuổi trưởng thành đều phải tổ chức lễ này.
Qua quan sát tham dự lễ cấp sắc của dòng họ Chảo ở xã Bản Phùng tổ chức
trong 3 ngày từ ngày 4-7 tháng 11 âm lịch năm 2014 vừa qua cho thấy đây là một
nghi lễ Đạo giáo được thực hiện khá nghiêm túc, cẩn trọng với sự tham gia của 9
thầy cúng uy tín trong xã Bản Phùng và xã lân cận Thanh Kim.
Trong lễ cấp sắc trên có cả 5 người vợ của 5 người đàn ông ‘trưởng
thành’cùng tham gia một số nghi lễ: răn dạy về đạo đức, cư xử trong cuộc sống khi
được làm thầy 3 đèn, 7 đèn và nghi lễ ‘Phát con dấu’ cho đôi vợ chồng - nghi lễ
cuối cùng trong trong lễ cấp sắc. Ý nghĩa của nghi lễ này là sau này chết đi, kiếp
trần gian có vợ thì kiếp sau có dấu (dấu khắc bằng gỗ mực) Ngọc Hoàng sẽ nhận ra
và cho họ sống bên nhau ngàn kiếp. Trong trường hợp làm cấp sắc xong đôi vợ
chồng bị ly tán (ly hôn, chết vì lý do khác) thì kiếp trần không ở với mình nhưng
kiếp sau vẫn là vợ mình. Nếu không làm cấp sắc thì đời con cháu phải làm theo thứ
tự, nếu chết mình khát nước chỉ chờ mưa xuống mới được uống, nếu không sẽ trở
thành ma đói ma khát suốt đời.
+ Về phong tục cưới xin và các nghi lễ trong cưới xin, chúng tôi sẽ tập trung
đi sâu giới thiệu ở các nội dung sau.
+ Phong tục tang ma và các lễ thức trong tang ma: Phong tục tang ma của
người Dao ở Lào Cai có nét khác nhau: Dao Tuyển địa táng nhưng dấu vết hỏa táng
vẫn còn tồn tại dưới dạng nghi thức đọc sách “ tán tẳng” và nghi thức đốt nến tượng
trưng cho việc hỏa táng.
Còn người Dao Đỏ khi chết con cái phải tắm nước lá thơm cho bố mẹ, thay
quần áo mới, thuê một người ở dòng họ khác đến cắt tóc cho người chết, đặt vào
người Dao, có sự tương tác và thích ứng linh hoạt với từng vùng, từng điều kiện
sinh thái khác nhau. Đó chính là cơ sở quan trọng cho việc xóa đói giảm nghèo và
sự phát triển bền vững của cộng đồng.[20, tr 38]
* Nghệ thuật biểu diễn
Người Dao nói chung và người Dao Đỏ nói riêng rất yêu thích ca hát, đặc
biệt là hát Páo dung, hát trong các dịp lễ tết đầu xuân, hát trong đám cưới, thường
21
diễn ra vào ban đêm. Nội dung cuộc hát không chỉ hát giao duyên mà còn hát để hỏi
thăm sức khỏe, trao đổi công việc, kể chuyện…(đối với những đôi đã có vợ có
chồng), nhiều cuộc hát sôi nổi kéo dài thâu đêm suốt sáng.
Trong đám cưới, người Dao Đỏ hát ngay trong tiệc rượu (páo dung hấp tiu),
hát không cần nghi thức, ai hát cũng được bất kể già cả gái trai.
Ngoài ra, người Dao Đỏ sử dụng nhạc cụ: thanh la, trống, trống đất, kèn...
Trong việc tổ chức đám cưới không thể thiếu đội nhạc kèn, họ tham gia biểu diễn từ
đầu đến hết lễ cưới với các bài theo nội dung của nghi lễ.
1.2.3. Một số quan niệm và nguyên tắc trong hôn nhân người Dao Đỏ ở xã Bản Phùng
*Nguyên tắc hôn nhân đồng tộc
Người Dao Đỏ ở Bản Phùng có những quy định chặt chẽ trong việc cưới xin
tạo thành những nguyên tắc trong hôn nhân.Trong cộng đồng dòng họ, các thành
viên tuyệt đối không được kết hôn với nhau và chủ yếu kết hôn trong nội bộ ngành
Dao Đỏ. Nguyên tắc trong hôn nhân của họ là việc lấy vợ, chồng trong bản, ngoài
bản hoặc trong xã ngoài hoặc huyện khác đều không quan trọng bằng việc lấy cùng
tộc người Dao Đỏ.
Tuy nhiên hiện nay, do cư trú đan xen, do quá trình xích lại gần nhau giữa
các tộc người nên đã xuất hiện một số trường hợp kết hôn với tộc người khác.
* Độ tuổi lấy chồng, lấy vợ
Xưa kia người Dao Đỏ không quy định về độ tuổi lấy vợ, lấy chồng nhưng các