Lễ mừng thọ của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng
LỜI CÁM ƠN
Phúc Sen là một xã vùng cao với nền kinh tế còn chậm phát triền, Các
phong tục tập quán có vai trò quan trọng rất đối với đời sống tinh thần của
người dân. Xuất phát từ vị trí, vai trò là những sinh viên ngành văn từ tình cảm
và trách nhiệm của mình, chúng em chọn nghiên cứu về “ lễ mừng thọ của
người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng” nhằm
góp phần nhỏ bé của mình vào nhiệm vụ chung của Đảng và Nhà nước ta đối
với công tác giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Khi nghiên cứu và viết đề tài này, chúng em đã hết sức cố gắng, cùng
với sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô trong khoa Văn
– Xã hội, các đồng chí lãnh đạo địa phương và nhân dân xã Phúc Sen, huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng trong suốt quá trình thực hiện đề tài này. Qua đây,
chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các bác, các cô chú, anh chị
đang công tác tại UBND xã Phúc Sen – những người đã giúp đỡ chúng em trong
quá trình nghiên cứu. Chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình bác
Hoàng Văn Thìm đã tạo điều kiện ăn, ở và sinh hoạt trong suốt thời gian nhóm
chúng tôi đến thực tế.
Đặc biệt, chúng em xin cảm ơn cô giáo Hà Xuân Hương và Nguyễn
Phương Hoa - người đã trực tiếp hướng dẫn đề tài của nhóm và các thầy cô
trong Văn- xã hội đã hết lòng giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài báo cáo này !
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn báo cáo này sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót về nội dung cũng như chuyên môn. Rất mong được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn sinh viên để bài báo cáo được hoàn
1
thiện hơn. Vì vậy, Chúng em xin chân thành cám ơn và tiếp thu ý kiến đóng góp
của các thầy cô và các bạn đối với đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu khái quát về người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng
- Tìm hiểu lễ mừng thọ của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng trên các phương diện: các quy định trong nghi lễ, sự kiêng
kỵ trong nghi lễ và trình tự của lễ mừng thọ
- Lễ mừng thọ của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên,
tỉnh Cao Bằng mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc
- Đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa của dân tộc.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Qua đề tài này chúng tôi làm rõ cơ sở lí luận của đề tài thông qua việc
thao tác hóa một số khái niệm liên quan tới đề tài (Tìm hiểu các từ ngữ, cách gọi
của người Nùng )
- Điều tra, khảo sát, phân tích số liệu, mô tả nghi lễ mừng thọ của người
Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
- Đưa ra đánh giá, tầm quan trọng của lễ mừng thọ
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là lễ mừng thọ của người Nùng An ở xã Phúc
Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
- Tìm hiểu về các phong tục trong nghi lễ mừng thọ của người Nùng An
ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng .
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu trong xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao
Bằng
- Tìm hiểu những vật dụng liên quan đến lễ mừng thọ của của người
Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
quá trình của lễ mừng thọ và vai trò, ý nghĩa của lễ mừng thọ trong cuộc sống
hiện nay.
Chúng tôi hy vọng, trong một chừng mực nhất định, đề tài này sẽ là tài
liệu tham khảo cho những ai quan tâm
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, và phụ lục phần nội
dung báo cáo chia làm hai chương:
Chương 1 : Khái quát về người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện Quảng
Uyên, tỉnh Cao Bằng
Chương 2: Nghi lễ mừng thọ của người Nùng An ở xã Phúc Sen, huyện
Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI NÙNG AN Ở XÃ PHÚC SEN,
HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người Nùng An ở xã Phúc
Sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Uyên là một huyện của tỉnh Cao Bằng. Quảng Uyên nằm ở phía
Đông Bắc tỉnh Cao Bằng, cách thị xã 37km theo đường số 1. Với Tổng diện tích
384,9km
2
, dân số 42604 người (thống kê năm 1999). Huyện có 17 đơn vị hành
chính cấp xã, 1 thị trấn và 16 xã.
Phúc Sen nằm trên quốc lộ 3 từ thị xã Cao Bằng vào các huyện Miền
Đông ( Quảng Uyên, Phục Hoà, Trùng Khánh, Hạ Lang) của tỉnh đều đi qua xã
Phúc Sen. Cách thị xã Cao Bằng 30km. Phía Bắc giáp xã Quốc Dân, xã Quốc
Phong. Phía Đông giáp thị trấn Quảng Uyên, xã Chí Thảo. Phía Nam giáp xã Chí
Thảo, xã Tự Do, xã Đoài Thôn. Phía Tây giáp xã Đoài Thôn . Phúc Sen có vị trí
địa lý giáp với nhiều địa phương khác tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh giao
tượng rét đậm rét hại nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Chính
quyền xã đã xây dựng hệ thống kênh mương để phục vụ cho nhu cầu sản xuất
nhưng vẫn còn thiếu nước vào mùa khô.
Với Động thực vật khá phong phú, tại đây có nhiều loại cây lấy gỗ, làm
củi và đặc biệt là dùng làm dược liệu trong y học và nhiều loại động vật quý
hiếm.
Như vậy, bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, xã Phúc Sen
cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn cần phải khắc phục
7
1.1.2Điều kiện kinh tế - xã hội
Nhìn chung tình hình kinh tế của người Nùng An tương đối phát triển,
họ sống với tính tự lập cao, tự cung tự cấp. Người Nùng An với nhiều nghề
truyền thống: dệt tự may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng, rèn, đan,
Nguồn sống chính của người Nùng An là cây lúa và cây khoai. Họ kết
hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi.
Nhân dân biết sử dụng giống cây trồng vật nuôi. Sản xuất nông nghiệp
ngày một tăng lên, bình quân sản lượng nông nghiệp >400kg/người (2005) mà
đến nay hơn <700kg/người.
Phúc Sen nuôi nhiều vật nuôi như: trâu, bò, lợn, gà, trong toàn xã có
724 con trâu, 258 con bò, trên 3000 con lợn, 19000 thuỷ cầm gia cầm. Ngoài
mục đích tăng thu nhập cho gia đình còn có mục đích khác là làm sức kéo và
phân bón cho trồng trọt. Đặc biệt trong năm 2000, do diện tích đất canh tác ít,
Đảng Bộ và nhân dân cùng thực hiện nghị quyết 3 nhiều với nội dung: “trồng
nhiều cây, nuôi nhiều con, làm nhiều nghề” để khắc phục khó khăn phát triển
kinh tế địa phương tiến vững tiến mạnh.
Nghề rèn là nghề truyền thống nhất của người Nùng An với 153 lò rèn
với mô hình vừa và nhỏ, mỗi gia đình đều có ít nhất một lò rèn tạo công ăn việc
làm cho từng thành viên trong gia đình. Sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày như: nông cụ cầm tay, đồ dùng sinh hoạt (dao,
kéo, búa ). Bình quân thu nhập theo đầu người (GDP trên 13 triệu/người) mặc
KHXH và NV) có viết rằng: “dân tộc là một tập đoàn người ổn định và các tập
đoàn người tương đối ổn định dựa trên những mối quan hệ chung về khu vực cư
trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt văn hoá. Trên cơ sở
9
những mối quan hệ đó mọi dân tộc còn có ý thức về thành phần dân tộc và tên
gọi riêng của mình”.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ,
trong đó 54 dân tộc cư trú đan xen nhau và phân bố ở khắp các vùng miền trên
đất nước, mọi dân tộc là một bức tranh đầy màu sắc đa dạng về ngôn ngữ, về
truyền thống văn hoá, lịch sử phát triển.
Dân tộc Nùng có chung nguồn gốc với người Tày trong lịch sử khối
Bách Việt xưa kia. Sau khi lập đường biên giới phía Bắc Việt Nam và Phía Nam
Trung Quốc, các cư dân Tày-Thái ở 2 nước được hình thành và phát triển trong
điều kiện riêng. Ở Trung Quốc người Nùng vốn là tên gọi của một trong 4 dòng
họ lớn, còn ở nước ta tên Nùng đã có từ lâu đời. Trước đây người Nùng tự phân
biệt mình và gọi là người áo đen (một cách để phân biệt với người áo trắng của
người Tày). Ngoài ra, người Nùng có tên là Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái
của hệ ngôn ngữ Thái - kadai. Người Nùng sinh sống tập trung ở các tỉnh Lạng
Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Bắc Giang, Tuyên Quang. Ngoài ra còn có
một số ở Lâm Đồng
Suốt quá trình lịch sử dân tộc từ thời Hai Bà Trưng đến nay người Nùng
đã đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc. Tuy không phải
là dân tộc chiếm số dân đông nhất nhưng người Nùng càng gia tăng đáng kể
theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Nùng ở Việt Nam có dân số
968.800 người là dân tộc có dân số đứng thứ 7 tại Việt Nam có mặt trên 63 tỉnh
thành phố. Người nùng cư trú tại tỉnh Cao Bằng là 157.607 người chiếm 31,1%
dân số toàn tỉnh và 16,3% tổng số người Nùng tại Việt Nam. Điều đó cho thấy
sự đóng góp của dân tộ này có vai trò quan trọng trong tình hình phát triển chung
của toàn dân tộc.
Người Nùng chia ra thành nhiều nhánh nhỏ như: Xuồng, Giang, Nùng
Nùng An. Người Nùng An ở Phúc Sen có truyền thống ở nhà sàn, hiện nay do
quá trình hiện đại hoá có một số gia đình làm nhà gạch, nhà tầng, nhà cấp 4.
Nhưng số lượng nhà sàn vẫn là chủ yếu nhất. Nhà thường khá to, rộng, có 3 gian,
vách thường bằng gỗ lợp ngói máng. Bộ khung nhà được hình thành trên cơ sở
các vì kèo. Có nhiều kiểu vì kèo khác nhau nhưng chủ yếu bắt nguồn từ kèo 3
cột. Để mở rộng thành nhà người ta thêm 1 hoặc 2 cột vào 2 bếp vì kèo 3 cột để
trở thành vì kèo 5 cột. Điều mà chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy như: Ô vì kèo,
đứng trên lưng xã, kẹp giữa 2 cột có 1 trụ ngắn hình “quả bí” đầu đấu vào thân
kèo. Để liên kết được các cột trong 1 vì kèo hay giữa các vì kèo với nhau, người
ta còn dùng các đoạn xà ngắn mà dùng 1 thanh gỗ xuyên qua thân các cột.
Về mặt bằng sinh hoạt: mặt sàn chia làm 2 phần: một phần dành cho các
sinh hoạt của nữ, một phần dành cho các sinh hoạt của nam. Các phòng và nơi
sinh hạt của mọi thanh viên trong nhà đều giáp vách tiền và hậu.
Nhà ở của người Nùng ở xã Phúc sen, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
12
Người Nùng An tự dệt thổ cẩm cho việc mặc của dân tộc mình, Quần áo
màu chàm. Trang phục của người Nùng An có phân biệt theo lứa tuổi và giới
tính rất phong phú về chủng loại. Phụ nữ mặc áo 5 thân và có một hàng cúc bằng
nút vải, phía bên nách phải ở đoạn cổ tay và lá sen bao giờ cũng có đắp một
miếng vải và 4 túi áo khồn có nắp. Nam nữ đều mặc một loại quần nhuộm chàm,
cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt cá chân khi gồng ghánh còn mang thêm một
miếng đệm vai. Quần áo trẻ em cũng có điểm khác biệt so với các nhóm Nùng
khác, áoquần và mũ đội đầu trong đó chiếc mũ được trang trí rất cầu kì, tỉ mỉ có
những hoa văn hoạ tiết sặc sỡ bắt mắt
Đồ trang sức của người Nùng An chủ yếu là bạc trắng. Nam giới thường
đeo vòng tay bằng bạc, nhẫn bạc. Phụ nữ đeo khuyên tai, vòng tay, vòng cổ và
đeo bộ xà tích ở ngang lưng. Theo quan niệm của người Nùng An thì bạc trắng
không chỉ tôn thêm vẻ đẹp của con người, phô trương sự giàu có mà còn bảo vệ
sức khoẻ cho họ.
1.3.2 Văn hóa tinh thần
càng được ổn định và cải thiện hơn. xã Phúc Sen ngày càng phát triển về y tế
giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao. Đồng thời vấn đề điện nước,
đường xá cũng được nhân dân và chính quyền quan tâm.
Trên đây là một vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của xã Phúc Sen. Với đặc điểm là một xã miền núi, bên cạnh những điều kiện
thuận lợi, xã còn gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội, cải
thiện và nâng cao đời sống xã hội của nhân dân địa phương. Để làm tốt điều này,
đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của chính quyền các cấp người dân trong mọi lĩnh
vực để nâng cao đời sống của nhân dân.
14
CHƯƠNG 2: NGHI LỄ MỪNG THỌ CỦA NGƯỜI NÙNG AN Ở
XÃ PHÚC SEN, HUYỆN QUẢNG UYÊN, TỈNH CAO BẰNG
2.1 Đặc điểm của nghi lễ mừng thọ
Mừng thọ là một nghi lễ tiêu biểu trong phong tục tập quán, trong nét
đẹp của văn hóa Việt Nam, mỗi chúng ta ai ai cũng có thể bắt gặp được những
nghi lễ này ở bất cứ nơi đâu hay các vùng miền nào. Việt Nam là một quốc gia
đa dân tộc với vốn văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi nơi đều có những nét
đẹp về văn hóa cũng như nét riêng về những phong tục tập quán, đó cũng là sự
khác biệt và nét tiêu biểu, đặc trưng của từng miền.
Trong thời gian đi thực tế ở xã Phúc Sen huyện Quảng Uyên tỉnh Cao
Bằng chúng tôi đã được tiếp xúc với nền văn hóa của dân tộc Nùng An, đó là
việc tìm hiểu về nghi lễ mừng thọ của người Nùng An. Tại đây chúng tôi được
khám phá và hiểu thêm rất nhiều về nghi thức trong lễ mừng thọ của dân tộc này.
Trong buổi lễ các nghi thức chủ yếu do thầy mo điểu khiển và mọi người trong
gia đình phải làm theo những gì mà thầy mo yêu cầu. Lễ mừng thọ thường diễn
ra trong một trình tự nhất định, mỗi nơi mỗi nhà có cách tổ chức nghi lễ riêng
tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của gia đình, có nhà tổ chức nghi lễ tương đối
to thậm chí sánh ngang với đám cưới, đám hỏi. Nhưng cũng có nhà lễ mừng thọ
diễn ra cũng hết sức đơn giản nhưng dù ở phương diện nào, có làm to hay nhỏ thì
đây cũng là những tình cảm chân thành nhất mà mọi người trong gia đình muồn
thế hệ khác, nó thuộc về một kế tục trong nghề cúng bái. Những động tác mà
thầy mo làm thường thì là người ngoài rất ít khi có thể hiểu được cái ý nghĩa ẩn
chứa trong đó và vì sao thầy mo lại có những cử chỉ như vậy? Và người ta sinh
ra cúng bái để làm gì? khi hành lễ thường có hai thầy thay phiên nhau, mỗi thầy
có một giọng điệu và cách hành lễ riêng, dù không hiểu được ý nghĩa sâu xa
16
trong những lời cúng nhưng ít nhất chúng ta cũng pít được nội dung ẩn chứa sau
nó là gì? Đó là một phần tất yếu của thế giới tâm linh. Hiện nay những lời ca,
điệu hát hay là những câu chữ trong bài cúng bái chúng tôi vẫn có thể tìm thấy
được tại chỗ của thầy mo, nó đã được ghi chép thành những cuốn sánh, có cả
tiếng Nùng nhưng cúng có bản được viết lại bằng tiếng hán.
Trung bình mỗi một buổi hành lễ thường diễn ra khoảng 12h thậm chí
có thể hơn, thầy mo có nhiệm vụ hành lễ trước bàn thờ tổ tiên nhằm báo cáo sự
việc với tổ tiên trong gia đình và đọc nghi lễ cúng bái chúc tụng cho người được
mừng thọ, chúc cho họ được bình an, khỏe mạnh và sống lâu. Vì là nghi lễ mừng
thọ mà chỉ người già mới có được , đây cũng là dịp kỉ niệm về tuổi tác và cũng
thể hiện sự quan tâm của con cháu đối với ông bà, cha mẹ mình nhưng qua đó
cũng là để thể hiện sự bảo tồn trong phong tục của bản làng, của dân tộc
ta những điệu hát hay những giọng cúng của thầy mo có lúc cao, lúc thấp, lúc
trầm, lúc bổng,lúc nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ, lúc nhanh, khi chậm và một số kiểu
thức khác lúc đấy thầy có thể đứng im một chỗ nhưng cũng có thể đi lại vòng
quanh hay thậm chí làm bất kì một việc gì khác nữa, khi hành lễ thầy mo có thể
chắp tay cúng nhưng cũng có lúc lắc chuông hay dùng thêm một số nhạc cụ nào
khác có liên quan tới việc trình bày nghi lễ của mình.
Công việc hành lễ cứ thế trôi qua và cho tới khi kết thúc, cả nhà cùng
thầy mo đứng dậy, rời khỏi vị trí trước bàn thờ tổ tiên và đi ra chung vui cùng bà
con làng xóm, ăn uống và ngồi nói chuyện tâm sự, nhưng quan trọng nhất vẫn là
người được mừng thọ, đây sẽ là dịp mà họ được quan tâm, được biết đến với tư
cách là một người đã được nhà nước quan tâm, bước tới ngưỡng cửa của tuổi
già.
buổi lễ mừng thọ to hay nhỏ, nếu không đủ điều kiện kinh tế thì không làm. Nếu
18
61 tuổi không có điều kiện làm lễ mừng thọ, đến 73 tuổi có khả năng làm lễ
mừng thọ được thì vẫn tổ chức bình thường. Công việc tổ chức lễ mừng thọ đều
do con cháu trong nhà lo liệu, chuẩn bị.
2.3 Những quy định trong lễ mừng thọ
Độ tuổi mừng thọ cũng được quy định rõ rang, không thay đổi, Nùng An
chỉ tổ chức mừng thọ cho những người đến tuổi 61, 73, 85, 92. Việc quy định
tuổi này xuất phát từ những quan niệm, cách suy nghĩ của họ từ thời cha ông xa
xưa, đó mới là những độ tuổi đẹp, thuận cho mọi việc, cho tổ chức lễ mừng thọ.
Còn nếu không làm mừng thọ theo những độ tuổi đó thì sẽ không thể tổ chức ở
độ tuổi khác vì như vậy sẽ không thuận, không suôn sẻ.
Quy định trong buổi lễ mừng thọ của người Nùng An bắt buộc phải có
thủ lợn, thứ không thể thiếu được, rồi phải có gạo, gà sống thiến và bánh dày.
Đầu lợn sẽ được đặt vào lá chuối tươi đặt lên trên bàn thờ và phải có ba chén
rượu rót đầy đặt trên bàn cùng đầu lợn, hương phải được thắp suốt buổi lễ. Con
gái thì sẽ phải đeo tất, đội mũ cho bố mẹ mình khi mừng thọ, nếu là cụ bà thì sẽ
được con gái tặng vòng bạc trên có khắc tuổi của người được mừng thọ. Những
thứ như tất, mũ, vòng không thể thiếu được trong ngày lễ, bắt buộc con gái là
người đeo tất, vòng cho người mừng thọ. Ngoài ra, mỗi người con gái phải mang
đến một con gà để làm lễ mừng thọ. Người mừng thọ sẽ ngồi gần cạnh bàn thờ
để con cái đến vái lạy ông bà, cha mẹ.
19
Vòng Bạc trong lễ chúc thọ của người Nùng An - Cao Bằng
Một quy định hay đúng hơn là sự kiêng kị dành cho người được tổ chức
mừng thọ đó là những người sắp được mừng thọ cần kiêng kị, tránh đi tới đám
ma trong vòng 45 ngày trước khi làm lễ mừng thọ vì như vậy sẽ tránh những rủi
ro, buồn đau của đám ma đó theo ám vào người khiến cho lễ mừng thọ diễn ra
không thuận lợi, người mừng thọ không gặp nhiều may mắn, không khỏe mạnh.
Bước thứ năm là làm lương (buộc lương): Hành lễ mọi người tới tham
dự buổi lễ mừng thọ sẽ ăn uống vui vẻ cùng nhau. Ăn được nửa chừng con rể
tượng trưng cho tín sứ ở thiên đình xuống nhận lễ, anh ta sẽ lên gác buộc chiếc
lẩu váng lên cây thượng lương rồi dùng ba sợi chỉ màu buộc vào lẩu váng, cây
thượng lương để cầu mong cho ông bà, cha mẹ sống lâu mạnh khỏe. Thầy mo rót
ba chén rượu đặt vào khay rồi đưa cho a con rể dâng lên thiên đình.
Bước cuối cùng là trồng cây mệnh: Cây mai hay cây chuối cả rễ đem
trồng vào góc vườn và được chăm sóc. Để tránh cây bị khô hạn người ta thắp
21
hương vào một cây chuối trong vườn, lấy cây đó làm cây mệnh. Người ta tin
rằng những thứ đó có tác dụng hộ mệnh, linh hồn sẽ được thoải mái đi trên cây
cầu, tránh được mệt mỏi, ốm đau…
Kết thúc buổi lễ mừng thọ, thầy mo sẽ thay quần áo để báo cho mọi
người biết là buổi lễ đa xong. Tât cả những bước trên của buổi lễ phải được diễn
ra đúng và theo thứ tự.
Tất cả những quy định trong ngày lễ mừng thọ của người Nùng An ơ
Cao Bằng không bao giờ thay đổi, phải thực hiện đúng không thể sai lệch. Có
như vậy mới thiêng, mới đúng với những gì được truyền lại từ xa xưa, người
mùng thọ mới gặp nhiều may mắn và sống khỏe, sống lâu. Thực hiện đúng
những quy định trong buổi lễ cũng thể hiện sự quan tâm, kính trọng của con cái
đối với ông bà, cha mẹ mình.
2.4 Công tác chuẩn bị trong lễ mừng thọ
Đến với vùng đất xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng thì
trong mỗi người sinh viên chúng tôi ai ai cũng rạo rực, trào dâng những cảm xúc
khó tả, đó là sự bỡ ngỡ, ngạc nhiên, lạ lẫm tới lạ thường nhưng cũng tràn đầy sự
hấp dẫn và sinh động. Những khoảnh khắc tuyệt vời ấy đã thấm nhuần trong tâm
trí của mỗi người. Sau một thời gian được sinh sống và làm việc cùng con người
tại đây chúng tôi đã được khám phá ra rất nhiều cái hay, cái đẹp, cái mới mà chỉ
ở Phúc Sen mới có được. Từ đó vốn hiểu biết và kinh nghiệm tìm tòi trong
chúng tôi đều được nâng cao và cô đọng. Chính lòng đam mê và sự háo hức, say
đình,người thân , hàng xóm láng giềng và nhất thiết không thể thiếu đi sự có mặt
của thầy mo, người nắm giữ một vai trò chủ đạo trong buổi lễ, dịp lễ mừng thọ
được diễn ra trong sự chuẩn bị từ gia đình, không kể đàn ông hay đàn bà nhưng
cứ đến tuổi để mừng thọ ai cũng có quyền được chúc thọ, đó là một độ tuổi đủ
23
để con người từng trải và có những kinh nghiệm nhất định trong cuộc sống.
Cũng như người Kinh thì ngoài những phong tục khác, những điểm giống nhau
ra thì ở đây những phong tục của họ cũng có một số nét khác biệt, những lễ vật
trong lễ mừng thọ của người Nùng An chủ yếu là:các món ăn, hình thức cúng bái
và ngoài ra còn có một số nghi thức khác.
Mừng thọ được người dân nơi đây rất coi trọng, họ làm tất cả những gì
có thể làm để phục vụ cho buổi lễ. Buổi mừng thọ diễn ra tương đối to thậm chí
có thể sánh ngang với đám hỏi, đám cưới và một số nghi lễ khác…
Một lễ mừng thọ được coi là chu đáo thì phải đảm bảo được những yêu
cầu sau, tức là phải chuẩn bị đầy đủ mọi thứ có liên quan tới cho việc phục vụ
nghi lễ, gia đình tự chuẩn bị các món ăn có thể do tự làm hoặc mua như: thịt lợn,
thịt gà, thịt cừu, thịt trâu, lợn quay, bánh chưng, bánh giầy, rượu, tiền, rau, củ,
quả và số thức ăn khác nữa.
Tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh của từng nhà mà mỗi gia đình có
cách thức tổ chức riêng, nhà có làm nhiều không có thì làm ít, điều này không
bắt buộc đối với tất cả mọi người, lễ mừng thọ được tổ chức ở nhà có con gái đã
đi lấy chông khác và có con gái chưa đi lấy chồng lại khác, điều này được thể
hiện ở chỗ: Khi bố hoặc mẹ tổ chức mừng thọ thì tạo gia đình đã có con gái đi
lấy chồng thì người con rể và con gái phải có trách nhiệm mang lễ vật qua nhà
bố mẹ vợ tặng để thể hiện sự quan tâm, nhớ nhung và biết ơn, người con rể mang
sang cho bố hoặc mẹ vợ rượu, thịt lợn, thịt gà, bánh chưng, bánh giầy và một
chiếc vòng tay bằng bạc
Khi bắt đầu buổi lễ, gia đình có người được chúc thọ phải có trách
nhiệm mới thầy mo, có thể là một hoặc hai thầy tùy thuộc vào công việc cúng bái
của từng nhà, thầy mo phải là người giỏi , biết làm việc và có tiếng ở trong làng.
25